View TÂM LÍ CON CUA HUONG02 1183 06 flipbook.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CUỘC THI KHOA HỌC KĨ THUẬT CẤP THÀNH PHỐ HỌC SINH TRUNG HỌC NĂM HỌC 2024-2025 BÁO CÁO TÓM TẮT DỰ ÁN Lĩnh vực dự thi: khoa học xã hội và hành vi THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ “TÂM LÍ CON CUA” (CRAB MENTALITY) Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Học sinh nghiên cứu: 1. Phạm Quỳnh Anh 2. Nguyễn Thanh Hà Giáo viên hướng dẫn: Cô Đậu Thị Hương Thời gian thực hiện: Tháng 5/2024 - Tháng 10/2024 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 10/2024
TÓM TẮT DỰ ÁN 1. Tính mới Trong đời sống xã hội, “Tâm lí con cua” là một hành vi thường xuất hiện trong các hoạt động tập thể, tuy nhiên thực trạng này không bộc lộ một cách rõ rệt hoặc không gây ra những hậu quả tức thì, nên con người thường không chú ý đến hoặc không nhận ra sự tồn tại của nó. Nhưng theo thời gian, thực trạng này có thể ảnh hưởng đến bản thân, và quan hệ xã hội một cách tiêu cực. Thông tin và số liệu về thực trạng thường không được nghiên cứu và phản ánh cụ thể trong môi trường học đường tại Việt Nam, đặc biệt là ở cấp Trung học phổ thông. Điều này cho thấy con người chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này cũng như cần có những giải pháp để thay đổi nhận thức của bản thân. Mục đích của đề tài này nhằm tìm hiểu sâu, mở rộng hơn về thực trạng của tâm lí con cua và đề xuất những biện pháp nhằm giảm thiểu, hạn chế suy nghĩ, tư duy tiêu cực của “Tâm lí con cua” (Crab mentality) ở học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Tính khoa học Sử dụng các phương pháp nghiên cứu có hệ thống và khoa học để nghiên cứu: khảo sát online, phỏng vấn những người có kinh nghiệm, biết phân tích cuộc sống. Từ đó, thống kê các số liệu đầy đủ, cụ thể, kiểm tra các giả thuyết, thu thập dữ liệu đối tượng và phân tích kết quả một cách khách quan và chặt chẽ. 3. Tính thực tiễn Trong học đường, cạnh tranh có thể chiếm một phần nhỏ trong tâm lí học sinh, từ những số liệu trong nghiên cứu có thể làm các nguồn tham khảo áp dụng trong giáo dục như cung cấp hiểu biết cho học sinh cách học hỏi và phát triển, hoặc nhằm cải thiện sự phát triển cá nhân, cộng đồng và xã hội, giúp học sinh hiểu rõ hơn về bản thân, phát triển khả năng tự tin, quản lý cảm xúc và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp. 4. Tính cộng đồng Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần hạn chế tâm lí con cua, những suy nghĩ muốn người khác chỉ ngang bằng mình, hay ghen ghét, đố kị,…Từ đó giúp học sinh nâng cao các giá trị nhân văn, kích thích sự chia sẻ, đoàn kết. Bên cạnh đó, cũng khuyến khích học sinh có thể dễ dàng học hỏi, tìm hiểu kinh nghiệm của người khác một cách thoải mái trong khi làm việc nhóm hay có thể thay đổi nhận thức của mình, tập trung cố gắng phát triển bản thân mà không có hành vi đố kỵ với người khác.
MỤC LỤC A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI .................................................................................. 4 1. Cơ sở khoa học......................................................................................... 4 2. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu ................................................................. 4 3. Vai trò của nghiên cứu trong khoa học ..................................................... 5 4. Tác động của nghiên cứu đối với xã hội ................................................... 5 B. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT KHOA HỌC ....................................................................................................... 6 1. Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................. 6 2. Vấn đề nghiên cứu ................................................................................... 6 3. Giả thuyết khoa học ................................................................................. 6 C. THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................... 7 1. Thiết kế nghiên cứu .................................................................................. 7 1.1. Mục tiêu ............................................................................................. 7 1.2. Mô hình nghiên cứu ........................................................................... 7 2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 7 3. Mô tả tiến trình nghiên cứu ...................................................................... 7 D. TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU ...................................................................... 8 1. Thu thập dữ liệu ....................................................................................... 8 2. Mục đích cần đạt được của khảo sát ......................................................... 8 3. Kết quả khảo sát và phân tích dữ liệu ....................................................... 8 3.1. Phỏng vấn phụ huynh, giáo viên và học sinh THPT (PHỤ LỤC 3) .... 8 3.2. Kết quả khảo sát học sinh Trung học phổ thông và phân tích dữ liệu . 9 4. Kết luận.................................................................................................. 14 5. Kiến nghị ............................................................................................... 15 E. TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 15
4 A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học Tâm lí con cua (Crab mentality) hay hiệu ứng con cua - hiệu ứng con cua trong xô (Crabs in the bucket) là một thuật ngữ thông dụng và phổ biến, được sử dụng như phép ẩn dụ nói lên những suy nghĩ nông cạn, thiển cận trong hành vi, hành động của con người. Trong đời thường, chúng ta thường xuyên bắt gặp những tình huống đời thực với lối tư duy “Anh không được phép thành công hơn tôi”. Stephen Covey từng miêu tả trong cuốn sách của ông “The 7 Habits of Highly Effective People”: “Người có tâm lí khan hiếm có xu hướng nhìn mọi thứ theo hướng thắng - thua, được - mất. Chỉ có nhiêu đó, và nếu người khác có thì sẽ chỉ còn rất ít cho tôi”. Theo Rigo.vn, “Hiệu ứng con cua” - lòng dạ hẹp hòi, không có tinh thần hợp tác để đôi bên cùng có lợi, chỉ thích độc hưởng “ánh đèn sân khấu”… Đây là những người có tư duy kém cỏi, không phục kẻ mạnh, thích đạp kẻ yếu. Hoặc đối với nhận định về hiệu ứng so sánh xã hội (Social Comparison Theory) của Leon Festinger cho rằng: “con người có xu hướng đánh giá bản thân qua việc so sánh với những người khác”. Đối với các học sinh, họ sẽ dễ dàng cảm thấy tự ti nếu thấy người khác giỏi hơn hoặc thành công hơn bản thân. Từ đó, tâm lí học sinh có thể dẫn đến sự ganh tị, tức giận cũng như tìm cách phá hoại, kìm hãm thành công của đối phương. Nhóm nghiên cứu tập trung chủ yếu vào đối tượng nghiên cứu là học sinh Trung học phổ thông - lứa tuổi nhạy cảm, đang trong giai đoạn trưởng thành và thay đổi tâm sinh lí, dễ bị sa đà, dễ suy nghĩ về những hành vi xấu từ đó hình thành nên cách sống tiêu cực trong tương lai. Với đề tài “Thực trạng và giải pháp về tâm lí con cua ở học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, nhóm nghiên cứu mong muốn đào sâu hơn và tìm rõ nguyên nhân chủ yếu dẫn đến “tâm lí con cua”, tác động tiêu cực và toàn diện đến hành vi và suy nghĩ của con người trong đời sống xã hội để từ đó, đưa ra những cách khắc phục và hạn chế. Hơn nữa, chúng tôi mong muốn tìm ra những phương án mới hiệu quả tránh khỏi vấn đề trở thành nạn nhân hay chủ mưu của “tâm lí con cua”. 2. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu Thuật ngữ “Hiệu ứng con cua” là một cụm từ phổ biến và khá mới của người dân Philippines cũng như trong diễn biến đời sống hằng ngày của con người. Thuật ngữ này được phát hiện và đặt tên bởi Ninotchka Rosca- nhà văn người Philippines thông qua quá trình quan sát hành vi của những con cua nằm trong một chiếc xô. Bà nhận thấy rằng các con cua trong xô khi bị mắc kẹt, chúng sẽ không ngừng leo lên trốn thoát, tìm cách để ra ngoài và một trong những con cua khác sẽ có hành vi cố gắng kéo con cua ấy xuống thay vì để đồng đội của mình thoát khỏi chiếc xô. Nếu chỉ có một con cua trong chiếc xô mà không có bất cứ con cua khác ở cùng thì con cua duy nhất sẽ có thể thoát ra ngoài một cách nhanh chóng, dễ dàng vì không có sự “kéo xuống” của những con cua khác. Từ quá trình quan sát hành vi của con cua, ta có thể đúc kết ra vấn đề đơn giản đề cập đến hành vi của một người muốn phá hoại một thành tựu bất kì hoặc có tiềm năng phát triển của một ai đó. Chính vì thế, “Hiệu ứng con cua” là phép
5 ẩn dụ cho tâm lí chung của con người: thay vì cùng nhau tìm ra cách giải quyết một vấn đề chung để nhanh chóng đến đích thì mọi người vẫn muốn hạ bệ, cản trở sự tiến bộ của nhau. Bên cạnh đó, năm 2014 Victorino Q. Abrugar đã nghiên cứu ra 10 dấu hiệu cho thấy người sỡ hữu “tâm lý con cua” với phương châm gắn liền: “If I can’t have it, neither can you” (tạm dịch: tôi không có thì bạn cũng vậy.). Năm 2015, đại học Waikato (New Zealand) đã đưa ra nghiên cứu chứng minh tác hại của “Hiệu ứng con cua” trong một môi trường tập thể: Trong một bài tập đánh giá lẫn nhau (peer-review assessment), họ đã chấm hạ điểm đồng loạt để không có kết quả nổi bật làm giảm tối thiểu việc bắt nạt. Đồng thời, họ chuyển sang báo điểm riêng cho từng sinh viên và nhận thấy rằng điểm trung bình tăng 18%. Có rất nhiều nghiên cứu về “hiệu ứng con cua”, “tâm lí con cua”, “tư duy con cua” từ các nhà nghiên cứu và phát hiện nhưng các nghiên cứu đều có một cách diễn đạt, tư duy khác nhau và hướng đến mục đích chung là phê phán về tư duy tiêu cực “kéo người khác xuống” của mỗi người trong một tập thể. 3. Vai trò của nghiên cứu trong khoa học Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu mong rằng: + Làm sáng tỏ và mở rộng hiểu biết thêm về hiệu ứng con cua. Tìm hiểu thêm về những hệ lụy và các vấn đề tâm lý khác liên quan đến hiệu ứng con cua. + Khắc phục và hạn chế ảnh hưởng của hiệu ứng con cua đến với đời sống. + Đưa ra những giải pháp dành cho tác động của hiệu ứng cũng như “vaccine” ngăn ngừa tối đa các trường hợp có liên quan đến “hiệu ứng con cua”. + Biến chuyển hiệu ứng con cua - năng lượng tiêu cực thành tâm lí tích cực nhằm nâng cao năng suất học tập và làm việc thông qua teamwork. 4. Tác động của nghiên cứu đối với xã hội “Hiệu ứng con cua” tác động mạnh mẽ trong tâm lý của mọi người, đặc biệt là nhóm học sinh Trung học phổ thông đang dần phát triển và học hỏi những điều mới. Với đề tài “Thực trạng và giải pháp về tâm lí con cua ở học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn TPHCM”, nhóm nghiên cứu mong muốn mọi người tiếp cận toàn diện và hiểu hơn về hiệu ứng tâm lý quen thuộc gắn liền với bối cảnh cuộc sống đời thường. Đối với những học sinh Trung học phổ thông sắp bước vào đời sống xã hội, phải tìm hiểu khám phá những nguyên tắc và quy tắc ứng xử, đạo đức,…và có ý thức xây dựng cuộc sống nên đề tài giúp họ có thể tránh xa khỏi những tâm lý tiêu cực, hoàn thiện bản thân và xây dựng cuộc sống lí tưởng. Tìm hiểu về “Hiệu ứng con cua” để đưa ra những phương pháp, cách giải quyết cuộc sống một cách tốt hơn, để có một hành trang vững vàng để bước vào cuộc đời ở độ tuổi đang có những biến động về mặt tâm lý. Vì vậy, học sinh có thể dễ dàng nhận thấy những điểm mạnh, điểm yếu, điểm cần khắc phục của bản thân mình trong tâm lý, và cách tiếp xúc với xã hội.
6 B. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT KHOA HỌC (PHỤ LỤC 1) 1. Câu hỏi nghiên cứu 1.1. Kiến thức cơ bản của học sinh Trung học phổ thông về “Crab mentality”(Tâm lí con cua) - Học sinh từng biết đến “tâm lí con cua” chưa ? - Học sinh biết đến “tâm lí con cua” thông qua đâu ? - Mức độ hiểu biết của học sinh về “tâm lí con cua” như thế nào ? - Học sinh có nhận thức được “tâm lí con cua” là một vấn đề đáng quan tâm ? 1.2. Thực trạng “tâm lí con cua” của học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Học sinh có nhận thức được những hành vi thể hiện “tâm lí con cua” hay không ? - Đánh giá tần suất xảy ra “tâm lí con cua” ở trường học hoặc trong đời sống. - Nhận xét mức độ nguy hiểm của “tâm lí con cua”. - Đánh giá các đối tượng chủ yếu mắc phải “tâm lí con cua”. - Học sinh lựa chọn “tâm lí con cua” là hành vi vô thức hay cố ý. 1.3. Nguyên nhân và tác hại của “tâm lí con cua” - Nguyên nhân dẫn đến “tâm lí con cua”. - Những tác hại mà “tâm lí con cua” gây ra. 1.4. Các biện pháp nhằm giảm thiểu “tâm lí con cua” - Học sinh lựa chọn những giải pháp thiết thực để giảm thiểu “tâm lí con cua”. - Học sinh sẽ phản ứng như thế nào nếu có thành viên trong nhóm thành công hơn. 2. Vấn đề nghiên cứu - Hiệu ứng con cua và mức độ phổ biến của hiệu ứng đối với học sinh. - Thực trạng của tâm lí con cua (tác động và ảnh hưởng) đối với học sinh. - Nguyên nhân dẫn đến tâm lí con cua ở giới trẻ đặc biệt là học sinh Trung học phổ thông. - Giải pháp nhằm hạn chế, giảm thiểu hiệu ứng tâm lí con cua để tăng khả năng hòa hợp, kích thích sự phát triển đồng đều trong một tập thể đối với học sinh. 3. Giả thuyết khoa học Trong thời đại ngày nay, thực tế vẫn luôn cho ta thấy những thói quen đố kị dần sinh ra lòng ích kỉ kèm suy nghĩ thiển cận với lối tư duy sai lệch, “tâm lí con cua” khiến con người không thể phân biệt được lối suy nghĩ cố gắng phấn đấu cho mục tiêu phía trước và cách chúng ta hành xử thô kệch, không lí trí, chỉ biết hám lợi cho bản thân trong các tình huống tập thể cũng như gây hại và kéo người khác xuống. Không chỉ mang tiếng xấu cho mình, hiệu suất của nhóm cũng từ đó mà giảm xuống đáng kể, như vậy, những hành vi, suy nghĩ của hiệu ứng tâm lý này đang len lỏi vào cuộc sống của nhân loại, một cách vô hình, nhưng ảnh hưởng sâu sắc đến lòng tin, tình người và hiệu quả trong công việc, đặc biệt đối với giới trẻ ngày nay. Qua đó, con người dần hình thành những tâm tư tiêu cực, tự ngăn cách con người với nhau, mỗi người sống trong không gian thế giới riêng không một liên kết, chia sẻ, giúp đỡ, hay nói cách khác, một cuộc sống “tư bản”. Mặc dù vấn đề đang dần nghiêm trọng, nhưng giới trẻ vẫn chưa thực sự nhận thức rõ về
7 những hậu quả và tác động to lớn của hiệu ứng này. Vậy nên, thực trạng này đang dần phổ biến, ta cần có sự hỗ trợ nâng cao kiến thức và kĩ năng ở học sinh cấp trung học, giúp mọi người chủ động tránh mắc phải “tâm lí con cua”. C. THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Thiết kế nghiên cứu 1.1. Mục tiêu Trên hành trình khám phá bản thân, mỗi học sinh luôn mong muốn nâng cao nhận thức, tư duy phát triển, nhưng trên hành trình ấy luôn có những tư duy tiêu cực điển hình như “tâm lí con cua” - tư duy ích kỷ, đố kỵ, luôn muốn bản thân mình hơn người khác và sẵn sàng kéo người khác xuống để nâng mình lên. Chính vì thế, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần thay đổi tư duy nhận thức, cho các bạn học sinh hiểu hơn về tâm lí của mình, cũng như tìm ra giải pháp ứng phó với hiệu ứng tâm lí này. 1.2. Mô hình nghiên cứu - Đặc điểm nhận dạng hiệu ứng con cua + Suy nghĩ, tâm lí, trạng thái của người có tư duy con cua. + Hành động và động thái của con người. - Nguyên nhân hình thành hiệu ứng con cua + Nguyên nhân hình thành do đâu? - Thực trạng và ảnh hưởng của hiệu ứng đối với học sinh + Những suy nghĩ, hành động làm thay đổi cuộc sống của học sinh. + Thay đổi trong nhận thức và hình thành hành vi. - Giải pháp thực tiễn để thay đổi nhận thức bản thân, biến chuyển hiệu ứng tâm lí từ tiêu cực sang tích cực 2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: xác định nguồn tài liệu, tìm kiếm và chọn lọc những tài liệu cần thiết liên quan đến đề tài. - Phương pháp phỏng vấn, gửi phiếu điều tra: chọn đối tượng khảo sát là nhóm học sinh cấp Trung học phổ thông; xây dựng bộ câu hỏi chất lượng để đưa ra kết quả thu nhận nhằm phát triển đề tài. - Phương pháp thống kê: thông qua phương pháp phỏng vấn, khảo sát, có thể rút ra những số liệu, dữ liệu cụ thể nhằm làm vững chắc vấn đề của đề tài, từ đó sẽ dễ dàng tổng hợp, đưa ra kết luận. - Phương pháp phân tích tổng hợp: chọn lọc thông tin, tổng hợp ý kiến. 3. Mô tả tiến trình nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. - Xác định các vấn đề liên quan đến đề tài: Xây dựng bộ câu hỏi hoàn chỉnh nhằm đưa ra những vấn đề, dựa vào đó có thể tạo ra các cơ sở, bằng chứng và dần đưa ra kết luận. - Tổ chức nghiên cứu qua các phương pháp đã đề ra: + Tra cứu tài liệu: qua sách báo, Google, bài viết có liên quan đến đề tài.
8 + Thực hiện quá trình khảo sát qua các biểu mẫu hoặc trên giấy. Thu thập và thống kê số liệu. + Tiến hành phỏng vấn các bạn trẻ trên địa bàn Thành phố và tìm đến các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu. + Tổng hợp ý kiến. - Lập biểu đồ thống kê kết quả qua quá trình nghiên cứu, khảo sát: + Ghi nhận và chọn lọc thông tin đã qua tìm hiểu, khảo sát. + Tính tỉ lệ lựa chọn đối với những câu lựa chọn nhiều đáp án. - Đưa ra thực trạng và vấn đề gặp phải của giới trẻ trong các trường hợp mắc phải hoặc chứng kiến về “hiệu ứng con cua”. - Đối chiếu sự thay đổi trong lối sống và suy nghĩ của giới trẻ. Từ đó đưa ra giải pháp thực tiễn giúp khắc phục và hạn chế lối “tư duy con cua”. D. TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU (PHỤ LỤC 2, PHỤ LỤC 4, PHỤ LỤC 5, PHỤ LỤC 6) 1. Thu thập dữ liệu - Dựa vào phương pháp gửi phiếu khảo sát thông qua google form với hệ thống câu hỏi đã soạn, tiến hành khảo sát đối với học sinh của các trường trên địa bàn TPHCM. - Phỏng vấn chuyên gia và các bạn học sinh. 2. Mục đích cần đạt được của khảo sát Sau khi thu thập thông tin có thể hiểu được các ý kiến, suy nghĩ, cảm nhận ở các bạn học sinh Trung học phổ thông đã làm khảo sát. Từ đó, có thể đánh giá được thực trạng của tâm lí con cua đang diễn biến trong môi trường học đường và đưa ra những biện pháp nhằm giảm thiểu, khắc phục hậu quả tiêu cực của tâm lí con cua ở học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố. 3. Kết quả khảo sát và phân tích dữ liệu 3.1. Phỏng vấn phụ huynh, giáo viên và học sinh THPT (PHỤ LỤC 3) Dựa trên các ý kiến và quan điểm học sinh, phụ huynh, giáo viên và cựu sinh viên, có thể thấy tâm lí con cua đang hiện hữu rõ nét trong môi trường học đường, đặc biệt tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Với áp lực học tập và sự so sánh về thành tích hay sự bùng nổ của mạng xã hội với hàng loạt tấm gương xuất chúng cũng làm gia tăng áp lực so sánh giữa học sinh, một số học sinh có thể phát triển tâm lý ganh tị, cạnh tranh không lành mạnh hay hành vi kéo người khác xuống để nâng bản thân lên. Tâm lí này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường học tập mà còn có tác động tiêu cực đến quá trình phát triển nhân cách của bạn học sinh trong tương lai, tạo ra lối sống thiếu tích cực và cạnh tranh không lành mạnh. Để giải quyết vấn đề này, nhà trường cần tạo ra một môi trường học tập cởi mở, nơi khuyến khích sự giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau thay vì đẩy học sinh vào cạnh tranh quá mức. Gia đình cũng nên định hướng cho con cái hiểu rõ giá trị thực sự của việc học, tránh đặt nặng áp lực về thành tích. Đồng thời, học sinh cần rèn luyện tinh thần đoàn kết, nhận ra rằng thành công của người
9 khác không làm giảm đi giá trị của mình, từ đó xây dựng một tập thể phát triển hài hòa và bền vững. 3.2. Kết quả khảo sát học sinh Trung học phổ thông và phân tích dữ liệu a. Độ hiểu biết và nhận thức của học sinh về tâm lí con cua⃰ Độ hiểu biết về tâm lí con cua Trong số 400 phiếu trả lời khảo sát từ học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: - Hơn nửa tổng số học sinh tham gia khảo sát (55%) chưa từng nghe đến “tâm lí con cua”. - 34% học sinh tham gia có hiểu biết về hiệu ứng nhúng vẫn chưa rõ. - 11% người tham gia đã từng nghe qua đến hiệu ứng. Người tham gia khảo sát biết đến “tâm lí con cua” thông qua: - Các trang mạng xã hội (facebook, instagram, …): 31% - Các nền tảng (youtube,...): 12% - Người thân gặp phải: 9% - Thông qua bạn bè: 26% - Thầy cô từng đề cập đến: 18% - Khác: 27% Tần suất nhà trường đề cập đến những vấn đề liên quan đến “tâm lí con cua”: - Hầu như không: 59% - Một số ít: 36% - Nhiều: 4% - Rất nhiều: 2% → Hầu hết các bạn học sinh tham gia khảo sát chưa từng biết đến “tâm lí con cua” và độ hiểu biết về hiệu ứng vẫn còn rất hạn chế. Phần lớn đối tượng khảo sát biết đến “tâm lí con cua” thông qua các trang mạng xã hội, bạn bè và các phương tiện khác. Ngoài ra, nhà trường vẫn chưa có những buổi giao lưu, tư vấn cụ thể để lan
10 truyền đến cho học sinh những hiểu biết và vấn đề liên quan đến “tâm lí con cua”. Chính vì vậy, học sinh vẫn chưa am hiểu, biết rõ tường tận về “tâm lí con cua”.⃰ Nhận dạng tâm lí con cua Các lựa chọn của đối tượng tham gia khảo sát về “tâm lí con cua”: - 12% lựa chọn đối với định nghĩa “Hiệu ứng được sinh ra từ lợi ích giữa người với người” và 70% lựa chọn cho rằng “là một tư duy ích kỉ, độc hại trong tâm lí”. - 67% phản hồi cho rằng “Những người muốn ngăn chặn sự tiến bộ của những thành viên hoạt động hiệu quả hơn trong một tập thể”. - Câu trả lời cho thấy “tâm lí con cua” tác động đến con người, với 60% và 64% lần lượt bình chọn cho “Không thể vui mừng trước thành công của người khác” và “Khiến chon người trở nên ích kỉ hơn”. → Những định nghĩa và khái niệm trên được cho dựa trên ý kiến chủ quan của những người tham gia khảo sát về “tâm lí con cua thông qua ý kiến, suy nghĩ và quy kết từ các vấn đề liên quan đến hiệu ứng của bản thân họ. Vì vậy, vẫn còn nhiều khía cạnh khác chưa được khai thác kĩ càng, thấu đáo dẫn đến vẫn còn nhiều người “mắc kẹt” trong loại tâm lí này. b. Thực trạng tâm lí con cua *Nhận xét bản thân có đang gặp phải tâm lí con cua - Mức độ 1: 17% - Mức độ 2: 21% - Mức độ 3: 41% - Mức độ 4: 15% - Mức độ 5: 6% *Nhận xét mức độ môi trường xung quanh gặp phải tâm lí con cua - Mức độ 1: 2%
11 - Mức độ 2: 11% - Mức độ 3: 52% - Mức độ 4: 15% - Mức độ 5: 6% → Các phản hồi đưa ra cho thấy phần lớn các đối tượng tham gia nghiên cứu cho rằng bản thân họ gặp phải “tâm lí con cua” ở mức độ 3 (41%), 38% dưới trung bình và 21% trên trung bình. Ngoài ra, tần số mắc phải bên ngoài xã hội khá phổ biến, với 87% từ mức 3 trở lên. Như vậy, “tâm lí con cua” được nhận thấy và ghi nhận trên diện rộng nhưng mọi người chưa nhận thức được chính mình cũng là “nạn nhân” hoặc “chủ mưu” của “tâm lí con cua”. Các đánh giá về mức độ phổ biến về “tâm lí con cua” ở học sinh Trung học phổ thông - Mức độ 1: 1% - Mức độ 2: 14% - Mức độ 3: 57% - Mức độ 4: 22% - Mức độ 5: 7% → Thông qua khảo sát cho thấy mức độ học sinh Trung học phổ thông gặp phải “tâm lí con cua” ở trường học diễn ra khá nhiều, phần lớn ở mức 3 với 57%, 22% ở mức 4 và 7% ở mức 5. Điều này cho thấy, lối tư duy độc hại ngày càng có xu hướng tăng, và suy nghĩ hạ bệ người khác xuống nâng mình lên trong các hoạt động tập thể của học sinh ngày càng nhiều, cũng như đây là mối đe dọa tiềm tàng cho năng suất và hiệu quả làm việc của các thành viên trong nhóm. *Độ nguy hiểm và đối tượng chủ yếu mắc phải → Mức độ nguy hiểm của “tâm lí con cua” thông qua bài khảo sát nhận được kết quả với nhận xét ở mức độ cao với 85% từ mức 3 trở lên. Hầu hết, các đối tượng chủ yếu gặp phải là nhân viên đi làm (47%), những quan chức cấp cao (54%) và học sinh, sinh viên ở mức cao nhất (72%). Điều này cho thấy, càng làm việc trong môi trường tập thể có nhiều thành viên, con người càng có hành vi mong muốn sự hơn trội so với tất thảy mọi người - hay nói cách khác, đó là những biểu hiện đặc trưng của những người mang theo “tâm lí con cua”. *Nhận thức về tâm lí con cua
12 Trong tiềm thức của con người, những vấn đề liên quan đến “tâm lí con cua” được bộc phát ra bên ngoài là những hành vi : - Cố ý : 59% - Vô thức : 63% → Các phản hồi của khảo sát cho rằng những hành vi, lời nói, hành động xuất phát từ “tâm lí con cua” phần lớn do bản năng của con người mà hành xử, không theo ý muốn chủ quan của học mà chỉ làm theo trong vô thức, như một thói quen khi có sự ganh đua trong tập thể. *Ý kiến của người tham gia kháo sát Phản ứng của các đối tượng tham gia khảo sát khi có người thành công trong nhóm: - Vui và chúc mừng: 40% - Tiêu cực: 12% - Động lực, ngưỡng mộ, học hỏi: 49% → Thông qua kế quả khảo sát, các phản hồi cho rằng hầu hết học sẽ coi đó làm động lực để học hỏi, phát triển bản thân và 40% chúc mừng cho thành tích của đối phương. Tuy nhiên, vẫn có 12% lựa chọn cho rằng họ ghen tị, không thể vui mừng trước thành quả của người khác trong nhóm. Như vậy, trong môi trường hợp tác làm việc, những vấn đề liên quan đến “tâm lí con cua” vẫn đang tiềm ẩn sau những thành công của mọi người trong nhóm. c. Nguyên nhân và tác hại dẫn đến tâm lí con cua *Nguyên nhân khiến học sinh dẫn đến tâm lí con cua - Ganh đua điểm số: 57% - Hơn thua bạn bè: 51% - Bị ba mẹ, giáo viên, bạn bè so sánh: 53% - Tự tạo áp lực cho bản thân: 63%
13 - Ảo tưởng mình là người giỏi giang nên phải luôn nhất lớp, từ đó có thói quen đố kị khi có ai đó cao điểm hơn: 50% *Lí do con người dần có tâm lí con cua trong môi trường hợp tác, làm việc chung - Trốn tránh trách nhiệm: 20% - Ích kỉ là thứ vốn có trong mỗi con người: 44% - Mâu thuẫn giữa các thành viên trong nhóm: 42% - Hình thành từ sự so sánh của cha mẹ, bạn bè: 51% - Không muốn người khác có cơ hội đứng đầu trong công việc, học tập, hoặc lĩnh vực khác: 45% - Mong muốn bản thân sẽ giỏi giang, xuất chúng hơn người khác: 61% - Bảo vệ ý kiến, lí lẽ, quyền lợi riêng của bản thân: 40% → Có rất nhiều lí do dẫn đến con người trở thành chủ mưu hoặc nạn nhân của “tâm lí con cua”, từ đó dẫn ra nhiều hệ quả liên lụy tác động đến tâm lí, ảnh hưởng đến bản thân, tập thể nhóm và xã hội. *Hậu quả của tâm lí con cua Với thực trạng và nguyên nhân như trên, có vô vàn hậu quả và ảnh hưởng mà những nạn nhân Trung học phổ thông của “tâm lí con cua” sẽ bị tác động đến tâm lí: - 68% và 51% cho rằng sẽ ảnh hưởng đến tâm lí của học sinh, đặc biệt hình thành nên sự ích kỉ, thiển cận trong suy nghĩ của họ cũng như mắc kẹt, luẩn quẩn trong vòng xoáy của lợi ích và hận thù - điều này cũng có thể là sự gặm nhấm tiềm tàng, chia rẽ mối quan hệ tốt đẹp của các thành viên trong nhóm bởi sự ham muốn, ích kỉ đối với lợi ích của tập thể, cộng đồng. - Trở nên vô cảm và không chia sẻ, quan tâm đến mọi người xung quanh cũng là hậu quả mang tính cấp bách nếu con người thật sự không nhận thấy điều đó, 2 điểm bất lợi trên lần lượt được bình chọn với 30% và 44%. - Ngoài ra, 65% cho rằng người mắc phải “tâm lí con cua” sẽ tự tạo khoảng cách và vách ngăn với mọi người, cũng như 50% cho rằng hiệu ứng đó cũng sẽ khiến cho họ dần thu hẹp quan hệ của bản thân. →Thông qua khảo sát về những thực trạng và nguyên nhân dẫn học sinh đến “tâm lí con cua”, những hậu quả của hiệu ứng này có thể dẫn đến những biến cố và thay đổi về mặt tâm lí của học sinh Trung học phổ thông. Mắc kẹt và giam lỏng bản thân trong vòng luẩn quẩn của sự ích kỉ và tư lợi dẫn đến trở nên nhạt nhòa với
14 mọi người, cũng là lúc họ sẽ tự tách bản thân với thế giới xung quanh, sống cô độc với những “thành tích” mà bản thân lập được từ “tâm lí con cua”. d. Biện pháp khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tâm lí con cua “Vaccine” ngăn ngừa tối đa đối với “tâm lí con cua” - 44% và 47% lựa chọn cho rằng nên dành thời gian và rèn luyện bản thân quan tâm, chăm sóc mọi người xung quanh, giúp đỡ bằng khả năng của mình. - 53% với lựa chọn cho rằng nên bỏ cái tôi của bản thân khi cần thiết, mà thay vào đó nên đặt lợi ích của cộng đồng, tập thể lên trên hết (46%). - 50% và 51% các ý kiến cho rằng nên giao lưu, hòa nhập và hòa nhã cùng bạn bè, mọi người, tham gia các hoạt động xã hội công ích, phá vỡ lớp băng giữa con người với nhau, và cùng nhau học hỏi thêm nhiều điều. 4. Kết luận Sau khi khảo sát và phân tích dữ liệu, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các đối tượng được khảo sát vẫn còn mơ hồ và chưa hiểu rõ về thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của “tâm lí con cua” và những tác động của hiện tượng này đối với tâm lí con người. Tuy nhiên, thực tế khảo sát lại cho thấy đây là một tâm lí khá phổ biến, đặc biệt là trong môi trường tập thể và nó ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu suất công việc cũng như tâm lí của mỗi cá nhân. Những tác động từ môi trường xung quanh - cha mẹ, thầy cô, bạn bè và các phương tiện truyền thông mạng xã hội - đã tạo ra một hiệu ứng không tốt và một môi trường cạnh tranh khốc liệt cho các bạn học sinh. Đặc biệt, tâm lí này không chỉ phản ánh bản năng của con người mà còn bộc lộ qua sự hợp tác trong các hoạt động nhóm, tập thể. Dưới sự áp lực của “tâm lí con cua”, học sinh Trung học phổ thông có thể phải đối mặt với nhiều vấn đề tâm lí, dẫn đến việc đánh giá sai lệch sự nỗ lực và thành quả của các thành viên trong nhóm. Từ đó, những thói quen và tính cách xấu sẽ hình thành khiến các bạn học sinh dần tách biệt khỏi cộng đồng và cuộc sống chung. Nhận thấy thực trạng thật sự đáng lo ngại và nan giải, chúng tôi mong rằng những kiến nghị và giải pháp cụ thể sau đây sẽ góp phần giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề về “tâm lí con cua” đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi tin rằng việc hỗ trợ và nâng cao nhận thức vượt qua tâm lí này sẽ tạo ra một môi trường
15 học tập tích cực, khuyến khích sự phát triển bền vững và gắn kết trong các hoạt động nhóm, tập thể của học sinh. 5. Kiến nghị - Đối với gia đình: + Gia đình cần phải xây dựng mối quan hệ gần gũi, thân thiết để có thể dễ dàng hiểu được những tâm tư, vướng bận của thế hệ trẻ. + Không nên so sánh thành tích, tránh áp đặt suy nghĩ của bản thân lên thế hệ trẻ. Điều đó sẽ giúp thế hệ trẻ không bị áp lực và sẽ không dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực muốn chiến thắng người khác bằng mọi cách. + Gia đình cần nhìn nhận đúng thế mạnh, sở trường của con đề có sự động viên, giúp con phát triển khả năng của bản thân, sự tự tin sẽ giúp mỗi cá nhân không đố kị và khó chịu trước thành công của người khác. - Đối với nhà trường: + Nhà trường nên tạo dựng các cuộc trò chuyện, hoạt động tư vấn cho học sinh về cách ứng xử, làm việc trong môi trường tập thể để từ đó góp phần củng cố thêm kiến thức cũng như nâng cao nhận thức cho học sinh. + Tổ chức đa dạng các cuộc thi, sân chơi về học thuật, năng khiếu để học sinh nhìn nhận và phát huy được sở trường của bản thân, tự tin về khả năng của mình và tránh thái độ ghen tị với thành công của các bạn… - Đối với bản thân học sinh: + Tập trung vào sự phát triển của bản thân, nhìn nhận và học hỏi những tiến bộ của người khác để dần nâng cao bản thân. + Xây dựng mối quan hệ với bạn bè để giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và cùng nhau phát triển. + Biết kiềm chế bản thân, đừng để sự đố kỵ, ghen tỵ lấn át tâm trí. Điều đó sẽ giúp bản thân nhẹ lòng, sẵn sàng chấp nhận thành công của người khác, từ đó, ta có động thái tìm cách thay đổi, phát triển bản thân. E. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]Sigmund Freud. Cái tôi và cái nó. NXB Tri Thức. 2015 [2]Wilhelm Stekel. Cái tôi được yêu thương. NXB Phụ nữ. 2019 [3]Kennon Sheldon, B.Ann Bettencourt. Psychological need-satisfaction and subjective well-being within social groups(2002). British Journal of Social Psychology 41(Pt 1):25-38 [4]Tâm Lý Học: Nghệ Thuật Giải Mã Hành Vi. Trần Lộ. NXB Thanh Niên. 2021 [5]Tâm lí hạ thấp người khác đến từ đâu. Bài đăng của trang vietcetera. 15/6/2021 https://vietcetera.com/vn/tam-ly-ha-thap-nguoi-khac-den-tu-dau [6]Hiệu ứng con cua (Crab mentality). Bài đăng của trang tâm lí học tội phạm.14/7/2022 https://tamlyhoctoipham.com/hieu-ung-con-cua-crab-mentality