1
2
3 khúc hát giữa giấc mộng thế gian Tung.
4
5
6
“Vô Thiền bất Trí, vô Trí bất Thiền. Đạo tùng Thiền Trí, đắc chí Nê – Hoàn”, điều đó chứng tỏ Thiền và Trí là cốt tủy của Phật giáo, và những ai từng tích lũy căn lành trong nhiều kiếp mới hy vọng uống được ngụm nước đầu nguồn của chánh pháp. Hình như ở đây có một cuộc tao phùng kỳ thú, qua một giấc mộng trùng lai, khiến nhân giả vừa thoáng đượm hương Thiền liền vứt bỏ việc đời dấn thân vào Phật lý, chấp nhận cuộc sống thanh bần, cặm cụi phiên dịch kinh điển Hán tạng, chủ yếu là ngữ lục Việt – Hoa. Thượng Sĩ nói riêng, và yếu lý nói chung của biển Thiền sâu thẳm. Có người hỏi, Thiền tông chủ trương “Không dùng văn tự, truyền " Vo thien bat tri, vo tri bat thien" < < < < < < ngoài giáo điển, phàm những gì có hình tướng đều là hư huyễn”, vậy thì còn dùng Ngữ Lục để làm gì? Thế nhưng, nếu ta “huyễn” được thân tâm bản tính đều không, thì cùng với Phật có gì sai khác! Bấy giờ, ta có thể ngồi xem mây bay, trăng rụng, mà chỉ thấy thuần túy một màu xanh, đối với Sự không chướng trệ, đối với Lý chẳng vướng mắc, Sự, Lý đều dung thông vô ngại thì đâu còn lo gì gặp huyễn bàn về chuyện huyễn? Trong thể tĩnh, Thiền vượt qua mọi giới hạn của ý niệm và ngôn ngữ nên chỉ thâm nhập bằng thực chứng chứ không qua phân tích, lý luận hoặc bình giải.. Nhưng trong tướng dụng, dù “bất lập văn tự” Thiền vẫn phải hóa thân vào văn tự và lắm khi phải ẩn mình dưới những hình thức biểu tượng. Lời mở đầu 7 ` `` ` ``
8 Lang Tam Thay Dao Bài thơ PHẬT TÂM CA Phụ lục: Bài Thơ Muôn Việc Về Như Bài Thơ Cây Tùng Mộc Ở Đáy Khe Bài Thơ Mộc Trung Hữu Hỏa 10~39 42~43 44~45 46~47 I. Mục Lục II. Giai thoại Tuệ Trung Thượng Sĩ & Vua Trần Nhân Tông 52~57 . < < (` `
9
10 Thiền tông nói “tâm tức Phật, Phật tức tâm”, nghĩa là Phật chính là tâm, tâm chính là Phật. Theo con mắt nhà Thiền thì Phật hay tâm có sẵn nơi mỗi người, không hai.Bây giờ quí vị kiểm lại coi có người nào không có tâm không? - Ai cũng có tâm Phật hết, vậy ai cũng là Phật, thế mà không ai chịu nhận mình là Phật, cứ cho mình là chúng sanh! Trước khi giảng Bài Ca Tâm Phật của Thượng Sĩ, tôi nói rộng về nghĩa này để mọi người thấy được lẽ thật đó. Bây giờ chúng ta phải hiểu từng chữ một; Tâm là gì? - Tâm là biết. Phật là gì? - Phật là Giác. Vậy, nơi mỗi người chúng ta ai cũng có tri giác, ai cũng có tâm Phật hết; tri là biết, giác là tâm, tri giác là thấy biết đúng như thật. Lang Tam < ( I. `
11
“Phật! Phật! Phật! Không thể thấy, Tâm! Tâm! Tâm! Không thể nói.” 12 Phat tam ca. < <
Giang Tại sao Ngài nói ba lần Phật như vậy? - Có hai trường hợp: là nhìn theo ý trước sau, Ngài dùng ba chữ trùng điệp là nói mạnh, nhắc cho chúng ta thâm nhập cho được ý nghĩa này, chớ không phải ba chữ Phật có ba nghĩa khác nhau, ba chữ Phật được lặp lại ba lần, để cho chúng ta nhớ sâu “Phật không thể thấy”. Phật ngồi trên bàn thờ và Phật tức tâm có khác nhau không? - Phật ngồi trên bàn thờ là Phật tượng, Phật cốt, không phải nghĩa Phật tức tâm. Phật tức tâm thì không thể thấy, song chúng ta tu ai cũng đều có sở nguyện thành Phật, mà Phật không thể thấy làm sao thành? Nếu chúng ta thấy Phật, tức là thấy tâm giác ngộ, vậy thì tâm giác ngộ là ai và ai thấy? Thấy tâm giác ngộ là người thấy và tâm giác ngộ là cái bị thấy. Người thấy và cái bị thấy là hai, như vậy, đâu phải là mình. Không phải là mình thì đâu có nghĩa Phật tức tâm. Nên Thượng Sĩ nói không thấy Phật, nếu thấy là sai, vì thấy Phật bên ngoài, không phải Phật tức tâm ở nơi mình. Phật tức tâm là chỉ Tánh giác ở nơi mình thường lặng lẽ sáng suốt. Nếu mình thấy nó thì nó là cái bị thấy, là cảnh không phải là mình. Chẳng hạn cái hoa này là cái bị mắt tôi thấy, mắt tôi thấy và cái hoa không phải là một. 13 (Nhóm tác giả / Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục Giảng Giải (1996))
14 “ Nếu Tâm sinh là Phật sinh, Bằng Phật diệt ấy Tâm diệt. Diệt Tâm còn Phật, chuyện này không, Diệt Phật còn Tâm, bao thuở hết. Muốn biết tâm Phật, Tâm diệt sinh, Hãy đợi về sau, Di Lặc quyết. ”
15 Người tu kềm cho tâm lặng lẽ mất tri giác, mong có trí tuệ sáng suốt được không? Đó chỉ là chuyện không đâu không thể nào được. Tại sao? Vì tâm tức là Phật, nếu chúng ta đoạn cái nhân Phật thì làm sao có được quả Phật? Đã diệt nhân Phật thì không có quả Phật. Hiện giờ chúng ta tu có diệt nhân Phật không? Nếu không, sao bảo bỏ hết vọng tưởng? Tôi xin hỏi: Tất cả vọng tưởng có vọng tưởng nào không biết chăng? Tuy là vọng tưởng, nhưng có biết; biết vọng động sanh diệt. Tu là không theo cái biết vọng động sanh diệt, mà hằng biết lặng lẽ thanh tịnh, không động. Cái hằng biết không động là cái biết của nhân Phật, do tu hành thì cái biết đó càng ngày càng sáng đến viên mãn gọi là quả Phật. Cho nên bỏ cái tâm (cái biết) là nhân Phật mà được quả Phật là chuyện không có. Quí vị kiểm tra lại coi, nơi mình cái nào là cái biết nhân Phật bất động? Chúng ta thử ngồi một phút, không khởi nghĩ, giả sử có con muỗi chích vào da, quí vị có biết không? - Biết rõ ràng. Khởi lên ý niệm nào, mắt có thấy, tai có nghe không?
“ Trước không Tâm, Nay không Phật, Phàm thánh trời người như chớp giật. Thể Tâm không thị cũng không phi, Tính Phật chẳng hư cũng chẳng thật.” Cái biết hằng hữu nơi mỗi người là tâm là Phật. Tại sao Thượng Sĩ nói “xưa không tâm nay không Phật”? Tâm là một danh từ, chỉ là giả danh, chớ cái biết hằng hữu thanh tịnh không có tên tâm nên không có tên Phật. Chúng ta nhìn lại thời nguyên thủy nó chỉ là cái biết, không có tên tâm thì tên Phật ngày nay cũng không có. Tóm lại do cái biết phân biệt của con người gọi là tâm khi mê, gọi là Phật khi giác. Đó là do người đặt ra tạm gọi, nó chỉ là cái tên giả không thật. Vậy, tất cả tên phàm, Thánh, người, trời... do con người hư dối đặt ra, nên nói như điện chớp, tạm bợ không thật.. Thị là phải, phi là quấy, hư là giả. Nói phải, nói quấy, nói giả, là nói theo niệm phân biệt đối đãi. Tâm thể tức Phật tánh không đối đãi làm gì có phải có quấy có giả có thật? Trước khi có Phật, vốn chẳng có tâm. 16
17
18
19 “ Bỗng vụt dấy, Bỗng ngừng nhanh, Nay lại, xưa qua luống quẩn quanh. Đâu chỉ chôn vùi nếp tông tổ, Còn gọi yêu ma về lộng hành. ” Nếu cứ dấy niệm lăng xăng hoài thì chẳng những chúng ta làm mất tông chỉ nhà Thiền, lại còn khiến cho yêu ma chui vào nhà làm não loạn nữa. Quí vị có thấy yêu ma chui vô nhà quí vị làm não loạn không? Nếu có là do chủ nhà quá hời hợt. Đã là chủ, cái gì chân chánh đứng đắn thì cho vào, còn yêu ma bất chánh không cho vào; không cho vào thì đâu có loạn! Vậy mà ai cũng rộng rãi hời hợt, mở cửa thoải mái cho yêu ma vào làm loạn trong nhà, rồi kêu trời, than: Tôi khổ quá! Trời nào tới cứu được cái khổ này? Chúng ta phải biết rõ niệm nghĩ bàn chợt hiện chợt mất nó làm mất bản chất Thiền của mình. Yêu ma làm mất bản chất Thiền tại sao không đuổi ra lại nuôi dưỡng trong nhà, làm cho mình điên đảo? Tất cả chúng ta hiện giờ điên đảo cũng vì yêu ma đó.
“ Muốn tìm Tâm, Ngoài chớ hỏi, Thể tính lặng không, không biến đổi. Niết bàn, sinh tử buộc ràng suông, Phiền não, bồ đề đối nghịch dối. ” Muốn tìm Tâm thể chân thật đừng tìm đâu hết, nó là Bản thể tự rỗng lặng như nhiên có sẵn nơi mình, chớ không có ở bên ngoài. Niết-bàn là vô sanh; vô sanh và sanh tử hai cái buộc ràng suông. Niết-bàn và sanh tử buộc ràng như thế nào là buộc ràng suông? Khi chúng ta mới vào đạo, được quí thầy dạy “sanh tử là việc lớn, vô thường nhanh chóng” để nhắc chúng ta nỗ lực tu hành; muốn dứt sanh tử là phải dẹp sanh tử để đạt Niết-bàn. Một bên sanh tử là khổ, một bên Niết-bàn là vui. Có ai tu mà chẳng sợ sanh tử khổ, thích Niết-bàn vui không? Vì sợ khổ cầu vui nên cố gắng tu, mong thoát khỏi sanh tử, để được cái vui Niết-bàn. Đó là một lẽ thật mà người tu nào cũng đang mơ ước. Nhưng tại sao ở đây Thượng Sĩ nói Niết-bàn sanh tử buộc ràng suông? Sanh tử từ đâu có? Có phải từ tâm mê lầm sanh diệt mà ra không? 20
21
22 “ Tâm tức Phật, Phật tức tâm, Diệu chỉ sáng thiêng, kim cổ thông. ” Diệu chỉ sáng ngời đó là tâm tức Phật hay Phật tức tâm. Nếu nhận ra tâm tức Phật hay Phật tức tâm là chúng ta đã nắm được diệu chỉ sáng ngời từ xưa tới nay không đổi dời sai chạy. Diệu chỉ là thực tại tối hậu mà các bậc giác ngộ muốn chỉ bày. Linh minh là linh thiêng và sáng ngời. “Tâm tức Phật, Phật tức tâm”, đây là chỗ đồng quy của mọi thừa, mọi tông phái Phật giáo, là nền tảng từ đó mỗi kinh điển lưu xuất, hiện hành ở đời. “Tâm tức Phật, Phật tức tâm” là thực tại bao gồm mọi hình thức sự sống, mọi sông núi, cỏ cây, đất đá vô tri. Thực tại ấy là linh thiêng, theo nghĩa vượt hẳn mọi suy nghĩ, luận bàn, và sáng tỏ, trùm khắp, thấu suốt mọi không thời gian. Thực tại “Tâm tức Phật, Phật tức tâm” sáng ngời và linh thiêng. Tất cả là Tâm, tất cả là Phật, sáng ngời thiêng liêng, như nhiên không tịch.
23
24
25 “ Xuân đến, tự nhiên hoa xuân nở, Thu về, hiện rõ nước thu trong ” Muôn sự muôn vật tùy theo thời tiết chuyển biến đổi thay, mùa Xuân đến thì hoa nở, mùa Thu sang thì nước trong. Nước trong hoa nở tùy theo thời tiết nhân duyên, mọi cái nó đã sẵn vậy, không do tâm người nghĩ tưởng mới có, mà đúng thời tiết đủ nhân duyên thì mọi cái nó có. Nơi mỗi người chúng ta ai sanh ra cũng muốn trẻ trung, sống mãi. Nhưng đến lúc nào đó, đầu bạc răng rụng, lúc đó muốn trẻ trung cũng không được, muốn sống mãi cũng không xong, phải đi đến chỗ bại hoại. Chúng ta biết rõ vô thường luôn luôn chi phối kiếp người, không ai tránh khỏi thì chúng ta có mừng khi sanh và có buồn khi già chết không? Nếu mừng khi sanh thì buồn khi già chết. Biết rõ muôn vật tùy duyên chuyển biến, khi duyên hợp cũng cười, khi duyên tan cũng vui; ngoại cảnh đổi thay mình không chao đảo khổ sở, đó là biết sống với đạo. Hồi còn nhỏ mình vui với tuổi trẻ thơ, lớn lên vui với tuổi thiếu niên, trung niên thì vui với tuổi trung niên, già rồi thì vui với tuổi già và chết đi thì vui nhất.
26 “ Bỏ vọng tâm, Cầm chân tính, Khác gì tìm bóng bỏ quên gương Nào biết gương kia lồng bóng nọ, Không hay vọng vốn từ chân sinh. Không thực không hư là vọng đó, Chẳng tà chẳng chính gương in hình. ” Chỗ này đa số chúng ta tu đều hiểu lầm và mắc kẹt. Quí vị tu có bỏ vọng tâm giữ Chân tánh không? Tôi có dạy quí vị tu như thế không? Pháp tu tri vọng là thấy vọng tưởng khởi không theo, vọng tưởng tự lặng. Vọng tưởng lặng thì Chân tánh hiện tiền. Đâu có bỏ đâu có giữ. Chúng ta có cái bệnh hay kềm giữ. Chân tánh là cái hiện tại đang thấy đang nghe, đang có cảm giác, đang biết vọng tưởng khởi và đang biết không có vọng tưởng khởi. Thể sáng suốt hiển hiện linh hoạt như vậy giữ cái gì? Chân tánh chính là mình, mình là Chân tánh. Nếu giữ thì mình là người hay giữ, Chân tánh là cái bị giữ đối đãi nhau. Vọng tưởng khởi, biết là vọng tưởng, không theo, vọng tưởng tự lặng, chính đó là Chân tánh. Vọng tưởng đâu rời Chân tánh, nếu bỏ vọng tưởng giữ Chân tánh chẳng khác nào tìm bóng mà quên kính. Chỗ này tôi e một số người hiểu lầm tu sai. Thấy vọng tưởng là thứ quấy nhiễu làm cho mình khổ đau, cần phải bỏ, ráng giữ Chân tánh của mình để được yên. Vọng tưởng và Chân tánh không phải hai, bỏ một giữ một sao được? Tôi thường dụ vọng tưởng là sóng, Chân tánh là mặt biển. Sóng và mặt biển là một hay hai? Nói một cũng không được, nói hai cũng không được, vì rời mặt biển không có sóng.
27
Thượng Sĩ nói không tội không phước, vậy tu tha hồ muốn làm gì thì làm sao? Ngài nói không tội không phước là đứng trên Tâm thể chân thật thanh tịnh mà nói. Dấy niệm chạy theo duyên theo cảnh tạo nghiệp thì có tội có phước rõ ràng. Tạo nghiệp thiện thì gọi đó là phước, tạo nghiệp ác gọi đó là tội. Tâm thể tỉnh sáng thanh tịnh không tạo nghiệp thì nói gì tội phước? Ngài nói người đời nhận lầm; bạch ngọc là loại ngọc trai thường đem sánh với ngọc ma-ni là loại bảo châu rất quí. Tội phước là tướng đối đãi tầm thường, Chân tánh không hình tướng vượt trên tướng đối đãi tội phước. Chân tánh dụ như hạt châu như ý không có vật gì sánh được. Tuy ngọc ma-ni quí hơn bạch ngọc, nhưng nó vẫn là vật có hình tướng, có loại tướng tròn, có loại tướng dẹp, có loại tướng vuông thành ra nó có tỳ có vết, nhưng thể của nó trong suốt, tùy để vật màu hồng thì 28 “ Cũng không tội, Cũng không phúc, Lẫn cả hạt trai cùng bạch ngọc. Ngọc thì có vết, trai có tỳ, Tính vốn không hồng cũng không lục. ”
29 thấy ngọc màu hồng, để vật màu lục thì thấy ngọc màu lục... Đó là màu của vật bên ngoài chiếu rọi, chớ không phải màu của hòn ngọc. Cũng vậy, Tâm chân thật thanh tịnh sáng suốt của chúng ta không có tội không có phước. Nhưng vì chúng ta mê khởi niệm tạo nghiệp nên thấy có tội có phước, có khổ có vui, thực tế Tâm chân thật không có tất cả thứ ấy. Bản tánh của tâm như gương không ô nhiễm bởi các bóng, như ngọc ma ni không thêm không bớt, không tội không phước. Gặp duyên thì hiện, gặp hồng hiện hồng, gặp lục hiện lục, nhưng bản tánh của gương và ngọc ma ni là tánh Không và sáng tỏ, không có màu nào, hình dạng nào, không “xưa đi, nay đến”. Theo cái nhìn của người tu thiền, trong bản thể chân như, mọi đối đãi như tội – phước, thiện – ác đều không có thật. “Tội” hay “phước” chỉ là những khái niệm tương đối do con người đặt ra để đo lường hành vi trong đời sống. Khi đạt đến trí tuệ giác ngộ, người ta nhận ra rằng mọi pháp đều “không”, không có tự tính, nên “tội” cũng không thật, “phước” cũng không thật. Cái “vốn không” ở đây không phải là phủ nhận đạo đức, mà là sự nhìn thấy tận cùng bản chất của mọi hiện tượng: tất cả đều do duyên sinh, không có tự ngã cố định.
30 “ Cũng không được! Cũng không mất! Bảy bảy, bốn chín là đồng nhất. Muôn hạnh sáu độ sóng trùng dương, Ba độc chín tình là vầng nhật.” Ở đời cái gì đến với mình trong vui vẻ thì nói là được, cái gì rời bỏ mình thì gọi là mất. Cái được cái mất là cái bên ngoài, nó không thật mà chúng ta tưởng là thật, nên được thì vui, mất thì khổ. Vì vậy mà sống trong lo âu sợ sệt. Nếu không còn thấy được, không còn thấy mất thì bảy lần bảy là bốn mươi chín. Lẽ thật là như vậy, cũng như một với một là hai, hay đen là đen, trắng là trắng vậy. Người không bị được mất chi phối thì người đó sống trong lẽ chân thật, không còn gì lay chuyển lôi kéo cuốn hút họ được. Tam độc là tham sân si, cửu tình là chín loài hữu tình. Đối với Thượng Sĩ thì tham, sân, si và chín loài chúng sanh hữu tình hư dối không thật không làm ngăn ngại che mờ Ngài được. Giống như mặt trời trong hư không tỏa ánh sáng khắp bầu trời không gì che đậy được. Sở dĩ chúng ta thấy có ngăn che là vì chúng ta nhìn qua lớp mây nên không thấy mặt trời, nói là che đậy.
31
32 “ Lắng! Lắng! Lắng! Trầm! Trầm! Trầm! Tâm của muôn pháp tức Phật tâm. Tâm Phật tâm ta cùng khế hợp, Pháp vẫn y nguyên suốt cổ kim. ” Thực tại là “bản thể như nhiên tự không tịch” nên tất cả tánh và tướng đều “lặng, lặng, lặng” (mặc), “chìm, chìm, chìm” (trầm), nghĩa là mọi sự đều như nhiên tự không tịch. Muôn pháp là muôn sự, muôn vật, muôn loài, núi sông, đất đá, cây cối, các sinh vật cho đến con người, chư thiên và các bậc thánh. Tóm lại tất cả mọi hiện hữu, có sự sống hay không có sự sống, ngộ hay mê, đều có cùng một nền tảng, một căn bản, một bản thể. Bản thể ấy là Tâm, là Phật Tâm. Phật Tâm này “linh thiêng và sáng ngời suốt cổ kim”. Thế nên muôn sự muôn vật muôn chúng sanh đều “linh thiêng và sáng ngời suốt cổ kim”. Đây là Tịnh độ của thế gian này.Mục đích và ý nghĩa của đời người là “Phật Tâm bèn cùng tâm ta hợp”. Khi ấy “tâm ta” ở trên thì hợp nhất với tất cả chư Phật, chư Bồ tát, ở dưới hợp nhất với tất cả chúng sanh và muôn sự muôn vật. Đây là Pháp, hay pháp tánh, “Pháp vốn như nhiên suốt cổ kim”. Sự hợp nhất này vốn có từ khởi thủy, nhưng trong quá trình làm chúng sanh đã tích tập vô số phiền não chướng và sở tri chướng nên đã bị khuất lấp, bỏ quên.
33
34
“ Đi cũng thiền Ngồi cũng thiền Trong lò lửa đỏ một hoa sen Mất ý khí thời thêm ý khí Được chỗ tiện an cứ tiện an. ” Một khi đã thấy và sống được Phật Tâm thì nói, nín, làm việc, dạo chơi… đều là thiền định, vì thiền định chính là bản tánh của tất cả mọi sự vật, mọi hoạt động. Thiền định này là bản tánh của toàn thể vũ trụ: “Tâm của muôn pháp tức Phật tâm”. Định này chính là bản tánh của tất cả các pháp, pháp tánh. Pháp tánh, bản tánh của tất cả các pháp, thì không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm, đây cũng chính là định của pháp tánh. Cái định vốn sẵn có ấy của pháp tánh được ví như một hoa sen trong lò lửa đỏ, không hư hoại vì đất nước lửa gió, vì tác động của chúng sanh dầu tốt dầu xấu, “trong lò lửa đỏ một hoa sen”. Đứng về mặt hoạt dụng mà nói, pháp tánh chính là năng lượng trùm khắp vũ trụ và đang vận hành vũ trụ. Mỗi người đều được bao trùm và thấm nhuần năng lượng ấy cho nên vừa mất năng lượng (“ý khí”) thời có ngay thêm ý khí. Rồi đến chỗ được an tiện, an ổn thuận tiện thì hãy cứ tiện an. Vả lại, một người đã hợp nhất được với pháp tánh, với Phật Tâm, thì có chỗ nào mà chẳng an tiện? 35
“ Chà! Chà! Chà! Ối! Ối! Ối! Bọt trong biển cả thấy chìm nổi. Muôn pháp vô thường hết thảy không, Linh cốt biết đâu tiên sư hỏi. ” 36
Kiếp sống của con người giống như hòn bọt trong biển vậy. Sóng dồn qua bọt nổi lên, sóng dập lại bọt tan đi, cứ như thế mà nổi mà tan, bao nhiêu lần sanh tử nổi chìm không cùng. Thượng Sĩ thương cho thân phận mỏng manh của kiếp người đang nổi chìm trong biển khổ, giống như hòn bọt nổi tan trong chốc lát. Thế mà chết. Bài thơ ngắn gọn nhưng lại chứa đựng chiều sâu triết học và cảm xúc hiếm có. Chỉ với năm câu, tác giả đã khơi dậy trong lòng người đọc những suy tư về lẽ sống – cái chết, về vô thường và hư không, những vấn đề muôn thuở mà con người ở mọi thời đại đều không ngừng tìm câu trả lời. Bằng cách vận dụng hình ảnh giàu sức gợi, giọng điệu cảm thán đặc trưng và tinh thần thiền học phương Đông, bài thơ trở thành một lời nhắc nhở thâm trầm về quy luật biến đổi của kiếp người. Mở đầu bài thơ, những tiếng thốt “Chà! Chà! Chà! / Ối! Ối! Ối!” vang lên dồn dập, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ ngay từ những dòng đầu tiên. Ở đó, ta cảm nhận được nỗi xúc động dâng trào trong tâm thức thi nhân. Những tiếng kêu ấy không chỉ biểu hiện cảm xúc thông thường của nỗi đau hay sự mất mát, mà còn như tiếng thở dài của sự giác ngộ — khi con người nhận ra chân lý vô thường của đời sống. 37
“ Tỉnh! Tỉnh! Thức! Thức! Tỉnh! Tỉnh! Bốn bề đạp đất chớ lệch nghiêng Ai người nơi đây ta tin được Trên đỉnh Tỳ Lô bước bước đi ” Đạp đất (“đạp địa”), địa ở đây là mười địa Pháp thân. Tỳ Lô là Tỳ Lô Giá Na (Vairocana), pháp thân của tất cả chư Phật. “Đạp địa bốn bề chớ lệch nghiêng” là mỗi bước mỗi bước đều đi trên Thật địa Pháp thân, không để cho phiền não, vọng tưởng làm nghiêng lệch. Như thế là trên đỉnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na bước bước đi. Mỗi bước mỗi bước đều là mỗi bước Phật, con đường và quang cảnh chung quanh là con đường Phật, quang cảnh Phật. 38
39
40
Tiếng hét chấm dứt bài ca là xóa tất cả ngôn ngữ, ý tưởng, trả cho người nghe, người đọc trở lại với bản tâm Pháp thân không một vật của mình. “ Hét ” 41
42
43 Bài Thơ Muôn Việc Về Như Bài Thơ Cây Tùng Mộc Ở Đáy Khe Bài Thơ Mộc Trung Hữu Hỏa Cũng như các thi kệ khác của Tuệ Trung Thượng Sĩ, Phật không ở ngoài thân, không ở ngoài tâm, mà lặng lẽ hiện hữu nơi mỗi chúng ta. Thấy được Phật trong chính mình, ấy là lẽ tự nhiên, vốn chưa từng khác. Phụ lục:
Muon viec ve nhu . , < < < “ Từ không hiện có, có không thông Có có không không rốt cuộc đồng. Phiền não Bồ-đề vốn chẳng khác Chân như vọng niệm thảy đều không. Thân như cảnh huyễn, nghiệp như bóng Tâm tợ gió đưa, tánh tợ bồng. Đừng hỏi tử sanh, ma với Phật Các sao hướng Bắc, nước về Đông. ” 44 `
“Muôn việc về như” là tất cả mọi sự mọi việc vốn dĩ là như vậy, chẳng có gì phải nghĩ phải bàn. Tất cả mọi vật trên đời này từ cái không rồi thành cái có, có một thời gian hoại đi thành không, có và không thông nhau. Ví dụ cái nhà, trước đây là không, sau do nhiều duyên hợp lại nên có cái nhà. Cái nhà có khoảng năm bảy chục năm hư mục, không sửa chữa thì nó hoại mất không còn, trở lại không. Vậy nên có không thông với nhau, không riêng thật có và cũng không riêng thật không. Từ không, duyên hợp thành có; từ có duyên ly tán thành không. Con người cũng vậy, trước kia là không, do duyên cha mẹ gặp nhau mà có thân này, thân này sống năm bảy mươi năm thì gió lửa ly tán, hoại diệt thành không. Thế nên cái có hiện giờ gốc từ cái không thuở trước. Cái có hiện giờ một mai duyên ly tán cũng trở thành không. Cái có cái không thông nhau, chớ không riêng không khác. Thấy dường như hai, nhưng sự thật không hai. Vì trước không, sau có, có rồi lại không. Có không không hai thể. Đa số người tu đều sợ phiền não, thích Bồ-đề. Bồ-đề là giác, phiền não là mê, nên thích giác sợ mê. Nhưng sự thật mê không rời giác, giác không ngoài mê. Tại sao? Vì giác là giác cái mê và mê là mê cái giác. Cũng như trong cái nhà này, không có đèn, nói tối, mở đèn, hết tối, nói sáng. Hết tối nói nhà sáng, hết sáng nói nhà tối. Sáng tối đổi thay chớ không gian cái nhà không thay đổi. Sáng không thêm gì cho cái nhà, tối không làm mất gì trong cái nhà. Cũng vậy, Tâm thể chân như không phải là Bồ-đề, cũng không phải là phiền não. Do dấy nghiệp sanh phiền não, hễ có phiền não thì che khuất Bồ-đề. Thế nên phải giác, biết phiền não là nhân đau khổ cần phải xả bỏ. Giác biết phiền não, gọi là Bồ-đề. Phiền não và giác biết phiền não dường như hai, nhưng thật sự thể nó không hai. Từ Tâm thể chân 45
46
Cay tung moc o day khe,. < < “ Thương cội tùng xanh tuổi bấy niên, Đừng than thế mọc lệch cùng xiên; Cột rường chưa dụng người thôi lạ, Cỏ dại hoa hèn trước mắt chen. ” Có những loài cây sinh ra giữa đất bằng, gió nhẹ, bốn mùa thuận hòa. Nhưng cũng có những cây mọc lên từ khe sâu, giữa đất cằn đá sỏi, chịu bao dập vùi của gió bão. Trong nghịch cảnh ấy, cây có thể gãy đổ hoặc vươn mình kiêu hãnh với đất trời. Tùng xanh đã trồng qua bao năm tháng, từng rễ bám sâu vào lòng đất, từng tán lá vươn lên giữa trời cao. Quan trọng là ta đã đứng vững ra sao giữa chính hoàn cảnh đó. Nhưng không phải cây nào cũng được trồng ở nơi thuận lợi. Có cây mọc ở khe sâu, có cây đứng chênh vênh trên vách đá. Người đời dễ oán trách số phận, cho rằng hoàn cảnh xô đẩy khiến mình nghiêng ngả, nhưng liệu đất có thực sự làm yếu đi cốt cách của cây? Chính nhờ những gian truân mà rễ cây càng bám chắc, thân cây càng mạnh mẽ. Cũng vậy, những thử thách không phải để làm ta gục ngã mà là để tôi luyện bản lĩnh. 47 ` `
Moc trung huu hoa . , < “ Trong cây vốn có lửa, Sẵn lửa, lửa mới sinh. Nếu cây không có lửa, Cọ xát lửa đâu thành? ” 48 Vì trong cây vốn có lửa nên khi ta cọ xát, cây sẽ nóng lên và phát ra lửa. Đó là một quy luật tất yếu, một sự thật hiển nhiên. Qua bài kệ, Thiền sư Khuông Việt đã mượn hình ảnh ẩn dụ cây và lửa để truyền tải một chân lý uyên thâm không những cho hàng đệ tử của Ngài mà cả hàng hậu học chúng ta cũng cần nên ngộ nhận ra chân lý ấy. Lửa ấy là gì? Chính là Tính giác, là bản thể Chân như, là Phật tính. Trong cây vốn có lửa chính là Phật tính vốn luôn hằng hữu trong mỗi chúng ta. Nên trong kinh Pháp Hoa đức Phật đã dạy rằng, mục đích Ngài ra đời là “Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Phật là bậc đã giác ngộ và Ngài biết rằng tất cả chúng sinh đều có Tính giác nên cũng sẽ giác ngộ, điều ấy được Ngài khẳng định “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”.
49
50 Phat -
51 Tam Chuong 2 Vì đạo Phật là một tôn giáo vô thần với ý nghĩa rằng mọi khổ đau hay hạnh phúc của con người đều do chính con người quyết định chứ không có một đấng tối cao nào có thể ban phước hay giáng họa. Chính đức Phật cũng đã dạy các đệ tử hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, Ngài chỉ là người dẫn đường chứ Ngài không thể tu giúp ai được. Đây là triết lý sâu sắc của Phật giáo, chính triết lý này đã đề cao vai trò trách nhiệm và giá trị tiềm năng vốn có của mỗi người. Thay Dao. < Vì đạo Phật là một tôn giáo vô thần với ý nghĩa rằng mọi khổ đau hay hạnh phúc của con người đều do con người quyết định chứ không có một đấng tối cao nào có thể ban phước hay giáng họa. Chính đức Phật cũng đã dạy các đệ tử hãy tự mình thắm đuốc lên mà đi. Ngài chỉ là người dẫn đường chứ ngài không thể tu giúp ai được. Đây là triết lý sâu sắc của Phật giáo. Chính triết lý này đã đề cao vai trò, trách nhiệm, giá trị và tiềm năng vốn có của mỗi người. II. `
Thánh Tông rất khâm phục đạo học của Tuệ Trung, chính vua là người đầu tiên gọi ông là Thượng Sĩ. Thượng Sĩ cũng có nghĩa tương đương với bồ tát. Hồi em gái Tuệ Trung hoàng hậu Thiên Cảm còn sống, một hôm bà mời ông vào cung ăn tiệc. Trên bàn có những món mặn và món chay, ông đã gắp thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?” Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không cần thành Phật. Phật không cần thành anh. Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát “đó sao?” Vua Nhân Tông hồi đó cũng có mặt trong bữa tiệc, và vua không quên câu chuyện này, định một ngày kia sẽ hỏi Tuệ Trung cho ra lẽ. Năm vua 29 tuổi, mẹ mất. Vua Thánh Tông đang bối rối về cái chết của Hoàng hậu lại còn bận tâm đối phó với một cuộc xâm lăng của quân Nguyên do Áo Lỗ Xích Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy, mới sai Nhân Tông đi đón Tuệ Trung, trước khi lên đường về cung, Tuệ Trung trao cho Nhân Tông, lúc ấy đã lên ngôi gần 9 năm, hai bộ ngữ lục Tuyết Đậu và Dã Hiên, để đem về cung học tập những lúc rỗi rảnh. Vua nhớ lại chuyện ăn thịt cá và tính cách “hòa lẫn thế tục” của Tuệ Trung. Nhân Tông thưa với Tuệ Trung rằng ông đã hiểu lời dạy về tội phúc. Nhưng Tuệ Trung biết là Nhân Tông còn thắc mắc. Ông đọc tiếp bài kệ sau đây: (Trích Tuệ Trung thượng sĩ Ngữ Lục) & Giai thoại: Tuệ Trung Thượng Sĩ Vua Trần Nhân Tông 52
Tri gioikiem nhan nhuc. < < , “ Vô thường các pháp hiện, Tâm ngờ tội liền sanh Xưa nay không một vật Không giống cũng không mầm Ngày ngày thi đối cảnh Cảnh cảnh theo tâm xuất Tâm cảnh vốn là không, Khắp nơi là “Niết bàn”. Ăn chay cùng ăn thịt Chúng sanh tùy sở thích Xuân về cây cỏ tươi Chỗ nào thấy tội phước ! Trì giới và nhẫn nhục Chuốc tội chẳng chuốc phúc Muốn biết không tội phúc, Không nhẫn nhục trì giới Như người đang leo cây Đang yên lại tìm nguy. Như người không leo cây Trăng gió làm gì được? ” 53 ``
54
55
56 Đoạn Thượng sĩ bí mật dặn kỹ vua: “Đừng nói với những người không hiểu biết”, (Vật thị phi nhân). Từ đó, vua Trần Nhân Tông mới biết môn phong Thiền học của Thượng sĩ cao thâm siêu việt. Một hôm khác, vua Trần Nhân Tông hỏi Thượng sĩ về “yếu chỉ của Thiền Tông” và muốn biết được bí quyết giác ngộ mà Thượng sĩ được Thiền sư Tiêu Dao truyền. Thượng sĩ ứng khẩu đáp : “Hãy quay về tự quán xét chính bản thân mình chứ không thể nhờ một người nào khác”. (phản quan tự kỷ bản phận sự, bất tòng tha đắc). Nhờ vào lời dạy thâm sâu bí yếu này của Thượng sĩ mà vua Trần Nhân Tông ngộ được yếu chỉ của Thiền tông và thấy được đường vào Đạo. Từ đó, vua Trần Nhân Tông mới hết lòng tôn kính Thượng sĩ và thờ Thượng sĩ làm thầy.
57
Ở Việt Nam cũng có Thượng Sĩ là một cư sĩ ngộ đạo, mà chúng ta ít nghe người đời nhắc nhở tán thán. Ở các chùa thường đọc bài sám có nhắc tới câu “in như thiền định họ Bàng thuở xưa” tức là nhắc tới gia đình ông Bàng Long Uẩn. Thế mà không ai nhắc tới tên Tuệ Trung Thượng Sĩ. Như vậy cái nhìn của người Việt Nam là cái nhìn hướng ngoại, cái gì của nước ngoài là hay là tốt, còn cái gì của nước nhà là tầm thường là xấu. Đó là cái bệnh hết sức trầm trọng của người Việt Nam. Chúng ta học lịch sử và sự truyền bá của Phật Tổ từ Ấn Độ Trung Hoa chúng ta đều biết hết. Thế mà những bậc thầy ở Việt Nam gần gũi nhất, mà chúng ta không biết gì cả, đó là một thiếu sót lớn. Giả sử quí vị biết sự nghiệp ông nội, ông cố, ông sơ, mà cha mẹ quí vị không biết, có được không? "Song, nuoc tuy ten khac Bup, no mot doa hoa" . / ,, , < < Lời kết Cả ngày chúng ta cứ ca tụng ông sơ, ông cố, ông nội, cha mẹ gần mình mà không đoái hoài tới, có lỗi đạo làm con hay không? Thế nên học, chúng ta phải học cho thấu suốt ngọn nguồn. Phải hiểu Phật giáo ở Ấn Độ truyền bá thế nào, sang Trung Hoa truyền bá ra sao, đến Việt Nam truyền bá như thế nào, người Việt Nam tiếp nhận Phật giáo ra sao? Ai là người có công làm cho Phật giáo Việt Nam hưng thạnh và phổ cập trong quần chúng? Nếu chúng ta biết các Tổ nước ngoài mà không biết đến công lao của những vị Tổ nước nhà, đó là việc đáng trách. Khi đem quyển Ngữ Lục này dạy cho quí vị học, là tôi có ý mong quí vị biết được những điều kỳ đặc cao quí của các Tổ Việt Nam rồi ứng dụng tu theo, để sau này đem ra chỉ dạy cho đàn hậu học biết tìm về nguồn Phật giáo Việt Nam, vậy mới xứng đáng là tu sĩ của Phật giáo Việt Nam. 58 `` ` ` `
59
60 Thơ: TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ Biên soạn: Trường Thạnh Minh họa: Trường Thạnh (Tái bản lần 1) NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO 53 tràng thi, Phường Cửa Nam, TP Hà Nội, Việt Nam ĐT: (024)35566701 - Fax: (84-4) 35 566 702 Email: nhaxuatbantongiao@gmail.com Website: nxbtongiao.com.vn www.facebook.com/nxbtongiao In và gia công 1.200 bản, khổ (26,5x23)cm, tại Công ty TNHH Bodhi Book - Văn phòng: số 22/3 ngõ 89 Lạc Long Quân, P. Nghĩ Đô, Cầu Giấy, Hà Nội - Địa chỉ sản xuất: Lô B2 - 2 -5 KCN Nam Thăng Long, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Số xác nhận ĐKXB: 681-2026/CXBIPH/51-41/KĐ cấp ngày 12/2/2026. In xong và nộp lưu chiều quý 2/2-36
61
62
63
64