View Sao Khue merged 31 10 2026 PDF flipbook.
Bạch Thư Sao Khuê Năm 196… Nam vẫn ngồi yên trên chiếc xe velo solex để chờ em gái. Sáng nay xe dở chứng, Nam đã phải mượn xe em gái nên Nam phải chờ em đi học và đón em về... Bác lao công, sau khi gõ xong hồi trống báo hiệu tan trường, đi vội ra cổng chính phía đường Phan thanh Giản, tháo chốt và mở rộng hai cánh cổng. Chẳng mấy chốc mà học trò từ các lớp đã ùa ra như đàn bướm trắng. Cổng lớn dành cho các trò đi xe đạp, hai cổng nhỏ bên cạnh để cho học trò đi bộ. Dù đông nhưng các học trò vẫn giữ kỷ luật, không có cảnh chen lấn cãi cọ. Áo trắng Gia Long, thơ Sao Khuê. AI phổ nhạc. Suno ca do Hoàng Lan Chi thực hiện. Áo trắng ngày xưa Ngày xưa Gia Long áo ai mầu trắng, Áo trắng trinh nguyên, mầu trắng dịu dàng. Giờ tan học về, áo ai bướm trắng, Bướm trắng tung bay trên khắp nẻo đường. Ngày xưa Gia Long áo ai mầu trắng, Trong nắng tung bay, tà áo ngập ngừng… Chờ ai cổng trường tim ai rộn rã, Lặng lẽ theo về, khoảng cách gần… xa… Ngày nao sang sông áo ai mầu trắng, Áo trắng tinh khôi, ai bước ngập ngừng, Bẽn lẽn theo ai ra đi từ đấy, Ai đứng trông theo rạn nứt cõi lòng. Ai đứng trông theo lòng như trái đắng, Ai trách ai ơi, sao quá vội vàng, Còn ai vô tư làm cho… lỡ làng… Để ai sang sông, tình đã muộn màng!
Thời gian trôi qua… trôi qua… trôi qua, trôi qua… Tình xưa mang theo, mang theo, sao vẫn đậm đà & Ngày nay tha hương tóc ai mầu trắng Bên cháu xinh ngoan ai bước dịu dàng Nụ cười xinh tươi vẫn như ngày ấy… Áo ai tung bay, theo gió mơ màng… Sao Khuê 4 -2014 Trường nữ trung học Gia Long vẫn nổi tiếng là có quy củ và kỷ luật. Mười phút trôi qua. Học trò đã ra gần hết mà vẫn chưa thấy bóng dáng con bé Tố Lan. - Gớm cái con nhỏ này, la cà ở đâu mà chưa chịu ra. - Kia rồi, cô ả đang ra, Tố Lan không ra một mình mà đang dìu theo một cô bạn, cô ta vừa bám vai Tố Lan vừa cà nhắc, có vẻ đau đớn. - Anh Nam, anh làm ơn chở con thỏ trắng này về nhà nó, rồi anh quay lại đón em. Em sẽ đi bộ dài dài theo đường Phan Thanh Giản chờ anh. - Anh... anh đâu biết nhà cô này? - Anh thật! nó sẽ chỉ cho anh. Nó bị vấp, trật gân nên không đi bộ về nhà được. Nhà nó trên đường Lê văn Duyệt, em vẫn thường chở nó về nên ba nó không đến đón nó ưa u Hè năm đó.. Nam chở Tố Lan đi xem kết quả kỳ thi tú tài một. - Ai đây nhỉ? À cô “ thỏ trắng”. - Sao cả hai đứa đểu tiu nghỉu thế kia? Chắc lại đạp nhầm vỏ chuối chứ gì? Thế là hè năm đó Nam thành gia sư bất đắc dĩ cho Tố Lan và thỏ trắng. Thỏ trắng tên thật là Bạch Thư. Bạch Thư, tên kỳ cục, cứ như thông bạch, báo cáo của thượng toạ hay toà Bạch Ốc... Cũng bởi cái tên kỳ cục này mà Tố Lan đã gọi là Bạch Thố tức thỏ trắng vì Bạch Thư rón rén như con thỏ với cặp mắt là lạ cũng như mắt thỏ. - Đáng lẽ tên em là Bảo Thư nhưng mấy ông làng viết nhầm anh ạ… ...Không hiểu do tình cờ hay cố ý mà chân ai đó đụng nhầm chân Thư dưới gầm bàn. Thư tính rụt chân về nhưng lại để yên. Chân để yên nhưng tim xao xuyến. Một rung động nhè nhẹ truyền từ chân lên ...tim. Thư liếc mắt nhìn Nam. Nam mỉm cười tinh nghịch và tiếp tục, không, ấn mạnh hơn bàn chân trên chân Thư. Thư đỏ mặt nín thở rồi thở ra nhẹ nhẹ. Không biết Tố Lần có “thấy“gì không mà đứng dậy, lấy cớ vào phòng tắm, mãi chưa ra... Những ngày hôm sau, mỗi khi đến nhà Tố Lan học, Thư tự động rút chân ra khỏi dép và rồi hai - không bốn bàn chân, cứ quấn quýt dưới gầm bàn. Hai khuôn mặt vẫn làm bộ nghiêm trang, tỉnh bơ như chưa hề có chuyện gì sảy ra. Tố Lan giả vờ ngủ gật nhưng đôi lúc mỉm cười ý nhị… Nam có lối giảng bài rất dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc do bắt hai cô nhắc lại nên hai cô phải thuộc ngay sau khi giảng. Ba mẹ Tố Lan rất vui lòng và giao cho Nam nhiệm vụ kèm “trẻ”. Nam tuy rất bận với bài vở, thực tập trong nhà thương vì đã vào năm thứ ba y khoa nhưng cũng dành một tuần hai lần kèm em, vừa kèm vừa học bài của mình và vừa ..... Chân có bằng lòng cho chân xoa với Mắt có bằng lòng xin hãy nhìn nhau. Thư bằng lòng nhưng vẫn “thương thì muốn chết, giả đò ngó lơ.
Thư chợt ví mối tình “chân” của mình với mối tình “chân” của cô Bé - người tráng bánh cuốn cho cô Mùi - và anh Đỗi, người có thuyền câu tôm ở bến Đò Trò. Anh Đỗi chỉ vô tình đặt chân lên chân Bé khi vạch chiếc khăn xem mắt của Bé, rồi từ vô tình chuyển sang hữu tình để Bé phải ra bến đò hàng ngày cho Đỗi khám mắt và Đỗi lại vô tình đặt chân lên chân Bé trong truyện *Mối tình chân” của Nhất Linh. Thư và Nam, tình trong như đã mặt ngoài càng ưa mà Nam đâu có vô tình, Nam cố ý rõ ràng và Thư cũng chấp nhận rõ ràng. Rõ ràng như chuyện tình yêu của Bé và Đỗi và cũng lửng lơ như hai bàn chân tìm nhau dưới gầm bàn mong được bên cạnh nhau suốt cả cuộc đời. Nhờ sự kèm cặp của Nam, Thư và Tố Lan đậu tú tài hai ngon lành và đậu cao. Ba mẹ Tố Lan muốn Lan theo ngành dược: - Đàn bà theo dược cho nhàn, có thì giờ chăm sóc gia đình. Có tiền thì mở tiệm thuốc, vừa bán thuốc vừa trông nhà cửa con cái. Không tiền thì cho thuê bằng, khỏi phải đi làm. Thư thấy Tố Lan học dược thì cũng xin ba mẹ đóng tiền đi học theo. Thư chỉ muốn gần Tố Lan để gần anh Nam. Thư yêu Nam, mà xét cho cùng thì Nam là mẫu người lý tưởng của các cô. Con nhà khá giả, học giỏi lại đẹp trai, dễ thương ơi là dễ thương. Cách tỏ tình kín đáo cứ y như trong tiểu thuyết lãng mạng. Ánh mắt nhìn, ôi chao vừa thông minh pha chút tinh nghịch, lồng chút âu yếm. Nam săn sóc cho Thư, dịu dàng ý nhị, chả bù với ông anh bộc tà bộc tuệch ba chớp ba nháng của Thư, chưa thấy người đã nghe tiếng. Thế mà chả hiểu sao anh ấy lại đi dậy học. Không hiểu vào lớp thì sao, chứ mỗi lần về đến nhà là như ông chúa, nhà đầy em gái mà chỉ đánh cái quần xà lỏong: - Ê mày, Thư, chạy mua cho tao ba điếu Capstan. Sáng ra lại hét: - Ê, con Thúy, mua tao ly cà phê sữa, nhiều sữa nghe mầy. Hôm nào không sai em thì chìa tay hỏi mẹ: - Mợ! tiền ăn sáng. Bà cụ móc 50$ đưa thì cau có: - 70$ tô phở, cà phê thuốc lá 30$.... Thư không hiểu nổi, lớn tướng, giáo sư đệ nhị cấp mà như con nít, không lo nổi thân mình, cái gì cũng mẹ. Cả nhà ai cũng chỉ có 5$ bạc xôi mỗi sáng, ngay cả bố mà anh Ba cứ nhất định mỗi sáng 100$! mà mỗi sáng chìa tay xin mẹ như trẻ con. Tiền lương của anh mẹ phải giữ hết vì không nắm hết thì năm ba ngày sau anh lại cũng hỏi mẹ tiền ăn sáng. Tháng nào hai mẹ con cũng có chuyện vì anh còn nợ đâu đó tiền thuốc lá và cà phê phải trả. Tính nết anh như vậy nên mẹ phải dẫn anh đi hỏi vợ, tóm lại trong khi anh Ba là người đàn ông con nít thì anh Nam của Tố Lan lại rất chững chạc. Anh Nam vừa xong năm thứ ba y khoa và không biết có phải tại theo y khoa hay không mà anh cẩn thận chăm chỉ. Là anh lớn nên anh Nam lo cho các em. Anh Trung, em kế anh Nam, khi vừa đậu tú tài hai đã được anh Nam dẫn đi xin học bổng Colombo, du học bên Canada. Nhờ anh Trung du học, hàng tháng nhà được đổi hai trăm đô la theo giá chỉnh thức để gửi sang Canada làm tiền tiêu vặt nhưng anh Trung cũng đi làm thêm, và tiền chuyển sang được gửi ngược về qua chợ đen, bù thêm lương công chức của ba Tố Lan nên nhà Tố Lan sống thoải mái. Má Tố Lan rất vui và thường nói: - Một con chim khôn răn một đàn con chim dại, một con chim dại hại một đàn con chim non. Thư gật gù, anh Ba nhà Bạch Thư đúng là con chim dại. Thư may mắn quen Tố Lan nên học được chứ như hai chị của Thư chưa đậu nổi bằng trung học đệ nhất cấp đã phải đi lấy chồng sớm. Thư cũng hy vọng học ra dược sĩ sẽ giúp ba mẹ lo cho hai em trai nhỏ, chứ chả hòng nhờ vả anh Ba, hết giờ dậy lại lông bông với bạn, không biết kèm cặp chỉ bảo cho em như anh Nam. Thư vừa yêu, vừa thương vừa kính trọng Nam. Nam đúng là thần tượng của Thư... Chu choa ôi, học dược, đâu có giản dị như ra văn phòng, ghi danh, đóng tiền và đi học. Thôi thì: - Anh Nam ơi, Thư chả biết làm gì hết, đằng nào anh cũng lo cho Tố Lan thì anh làm ơn làm phước cũng như làm giầu, nhức đầu cũng như đau bụng, Bạch Thư cũng như Tố Lan , anh bảo sao em làm vậy...
Đúng rồi, anh bảo sao em làm vậy, em sẽ nghe lời anh bảo suốt cả cuộc đời này. - Anh cũng đâu biết gì hơn, thôi để anh chở chị Thái Loan về đây cho hai cô hỏi, chị ấy mới vào dược năm ngoái . - Sao anh không chở tụi em đến gặp chị Loan mà lại chở chị Loan về đây? Bộ anh hay chở chị Loan... - Rõ vớ vẩn cái cô này, làm sao anh chở cả hai cô trên cái Vespa được. Nam háy mắt cười với Thư. Chị Thái Loan chỉ hơn Thư và Tố Lan có một lớp, chị học bên Trưng Vương nên Bạch Thư không biết chị. Nghe nói chị là người đẹp của Trung Vương, đã từng đứng trên xe hoa ngày lễ Hai Bà Trưng. Dân Trưng Vương có khác, khéo miệng duyên dáng quá chừng. - Hồi xưa người ta gọi năm đầu tiên ở đại học dược khoa là năm stage, cũng như năm đầu ở Y khoa là năm dự bi y khoa, phải không anh Nam nhỉ. - Đúng đó Loan. Anh và anh Vũ Hưng nhà em đều học và đậu chứng chỉ SPCN trước khi thi vào y khoa. - SPCN là gì anh Nam ơi, Thái Loan nhõng nhẽo, em cứ nghe nói mà chả biết đó là gi? - SPCN là viết tắt của sciences physique, chimique et naturel
- Và trường y khoa của các anh nằm trên đường Trần Quý Cáp, ngay ngã tư Lê Quý Đôn, đúng không? Em cứ nghe anh Hùng ư ử ngâm thơ , em thuộc mỗi một câu là “đường Lê Quý Đôn nối liền trường em trường anh” . Hồi năm ngoái em cũng còn học bên trường cũ, là dinh Salan, trên đường Công Lý, góc Hiền Vương.... - Nhưng sao lại nói đường Lê quý Đôn nối liền hai trường hả chị Loan? - Dinh Salan lớn lắm, giáp ba mặt đường lớn Thư ạ, mặt sau là đường Lê quý Đôn, mặt sau này có mấy cây hoa anh đào, anh đào chứ không phải hoa đào, to thật to, hoa trắng hồng đẹp lắm. Tụi chị thường vào lối sau và anh Hùng cũng thỉnh thoảng đón chị ở đây. Mà ngộ ghê anh Nam nhỉ, cả hai trường đại học chả có vẻ gì trường học hết, trường nào cũng như dinh thự to đùng. - Ừ, cái dinh thự to đùng - anh Nam cười cười khi dùng lại chữ to đùng của chị Loan- Anh nghe nói xưa xửa xừa xưa là một ngôi chùa. Vua Minh Mang được sinh ra tại đây nên sai dựng một ngôi chùa, là chùa Khải Tường, ghi lại dấu tích nơi nhà vua chào đời. Sau đó người Pháp chiếm chùa lập thành đồn lính. Đến tháng 12.1860 viên đại úy Barbet, chỉ huy trú đóng, bị nghĩa quân phục kích giết chết. Do chiến tranh, chùa bị phá và sau đó thành ngôi biệt thự tư gia. Năm 1940 nữ bác sĩ Henriette Bùi, mở dưỡng đường sản phụ khoa ở đó. Bà là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam, cũng là con gái của nghị viên Bùi Quang Chiêu, một nhân vật chính trị quen thuộc ở Nam Kỳ, người góp công trong việc hình thành nữ trung học Gia Long của hai ả tố nga này đấy. - Bà Bùi. đã hiến biệt thự cho chính phủ để trường có nơi hoạt động.[3] - Ồ hai cha con ông này vừa giầu có, vừa tài giỏi, vừa có lòng lo cho nền giáo dục nước nhà anh nhỉ. - Ừ, anh cũng nghe nói là Trường Đại học Y khoa đầu tiên ở Việt Nam là Trường Y khoa Đông Dương thuộc Viện Đại học Đông Dương (tiếng Pháp: Université de l’Indochine) đặt ở Hà Nội. Năm 1946 mở thêm một trường phụ thuộc ở Sài Gòn với tên Faculté de Médecine et de Pharmacie de Hanoi, Section de Saigon.[1] Sau Hiệp định Genève năm 1954, cơ sở và nhân sự được dời từ ngoài Bắc vào Sài Gòn dưới tên mới: Faculté de Médecine et de Pharmacie, Université de Saigon. Đó là khởi điểm của trường Y khoa riêng của Sài Gòn. Khoảng 2/3 sinh viên y khoa Hà Nội cùng các giáo sư cũng di cư vào Nam làm tăng sĩ số và giảng viên.Trụ sở của trường là số 28 đường Testard gần góc với đường Barbé mà sau năm 1955 đổi là Trần Quý Cáp và Lê Quý Đôn nhưng bây giờ từ tháng 5 năm 1966 tụi anh về trường mới, to đùng do Mỹ viện trợ trên đường Hồng Bàng . - Thế còn trường Dược của chúng em? - Khỉ ạ, chưa vào học mà dám nói trường dược của chúng em. Tố Lan cấu cho Bạch Thư cái nhẹ. Nam âu yếm nhìn Bạch Thư: - Thì trước sau gì cũng là trường của các em mà. Biết về trường mình cũng vui và yêu mến trường hơn, phải không Lan. - Dạ, em chỉ biết sơ sơ chứ không biết rõ anh Nam ạ. Thế... - Anh cũng chẳng biết nhiều hơn đâu, chỉ biết là trước kia, từ 1955 thì y nha dược khoa học chung, trụ sở chính là 28 Trần Quý Cáp như các cô biết đấy. Đến tháng 8 năm 1961, Trường tách Y khoa và Dược khoa làm hai. Trường dược dọn về dinh Salan 169 đường Công Lý. Năm 1963 thì tách Nha khoa ra khỏi y khoa. Cũng vào những năm này các giáo sư người Pháp lần lượt giải nhiệm và ban giảng huấn chuyển qua tay người Việt. Năm 1962 là năm cuối cùng bằng Bác sĩ Y khoa của Viện Đại học Sài Gòn được công nhận tại Pháp.[4] - Lúc em vào học thì trường dọn về 41 đường Cường Để, nghe đâu từ tháng tư 1964. - Ủa, anh mời Loan đến đây để thuyết trình cho hai cô này nghe về cách ghi danh vào học dược khoa mà nãy giờ chúng mình “lên xe về miền quá khứ”, bậy quá, thế Loan giải thích cho hai lính mới tò te này đi, rồi mình đi dùng cơm. Hôm nay bà cụ đãi bún thang. - Dạ, thì năm ngoái em làm sao chắc năm nay vẫn thế. - Đầu tiên phải tìm được một dược sĩ có ký giấy với dược sĩ đoàn là nhận dậy cho stagiaires. Có người vừa ký vừa dậy luôn nhưng năm ngoái thì anh của bạn em là dược sĩ Vũ ký và em đến học nhà thầy Tiên, chúng em vẫn gọi đùa là lò ông Tiên. Em thấy bạn em có đứa học ở bệnh viện Grall, đứa thì học
- tại viện bào chế La thành Nghệ... tóm lại có nhiều chỗ. Nếu Tố Lan muốn thì em giới thiệu đến học thầy Tiên như em và cũng nhờ anh dược sĩ Vũ ký giấy. - Nhất chị rồi, thế chị có thể hỏi cho bạn em luôn không? - Chị không hứa, để chị xin, thầy Tiên thi dễ, cứ đóng tiền thì thầy cho học, nhưng mỗi dược sĩ chỉ ký giấy được có 5 người nên thường mình phải tự tìm dược sĩ nhận ký giấy cho mình. Thế tiền học là bao nhiêu hả chị, Bạch Thư rụt rè hỏi . - Năm ngoái chị đóng 4000$ . Đó mới là tiền học thực tập thôi, mình phải đóng tiền học cho trường dược giống như các phân khoa khác, mua cua, ghi danh v..v... và học hai cours lý thuyết là hoá vô cơ và hoá hữu cơ tại trường. Mình cũng phải mua một bộ lá cây khô, một bộ hóa chất để nhận mặt thuốc, mua các dụng cụ thí nghiệm để học như ông nghiệm, cây thử thuốc. Chị sẽ cho Tố Lan những gì chị có. Thường không ai có đủ lá hay hoá chất nên phải đến nhà bạn học chung để bổ túc cho nhau. - Thực ra học dược tốn kém nên ít có người dám theo đuổi nếu thấy không đủ khả năng tài chánh... - Thế mình có phải trả tiền cho dược sĩ Vũ không chị ? - Chị thì không vì quen biết qua lại nhưng em tốt nhất nên hỏi ngay từ đầu, mà xin sớm kẻo hết chỗ đấy. - Đây là địa chỉ của anh Vũ và thầy Tiên. Các em đến hỏi xin anh Vũ trước, anh nhận lời thì xin ngay thầy Tiên và nói là đã có anh Vũ chấp nhận rồi, như vậy chắc chắc có chỗ học... Bây giờ mình xuống phụ bác gái chứ… - Thưa bác, chúng cháu xin được phép giúp bác ạ. Chị Loan thoăn thoắt rửa rau răm, hành, vẩy nhẹ rồi để vào rổ cho ráo nước. - Bác tráng trứng khéo quá, mỏng và đều. Bác đưa cháu thái luôn cho ạ. - Ừ, đợi bác tráng nốt cái chót. Mẹ của Tố Lan dùng cây cọ quét một lớp mỏng dầu ăn lên chảo, đổ hết chỗ trứng còn lại trong chén vào chảo. Bà xoay cái chảo để trứng lan đều, phủ kín mặt chảo và trên thành chảo. - Giầu con Út, trứng còn nhiều hơn một cái, lại không đủ cho hai cái nên cái chót phải cho leo lên thành chảo để được mỏng đều cháu ạ. Chỉ một tí sau, trứng chín, bà dùng cây sẻng và đôi đũa khéo léo lật ngược lại - Hay quá, ở nhà mẹ cháu dùng tay mới lật được nên cứ suýt xoa vì nóng vì dùng sẻng thì miếng trứng bị bể. Cháu thái cho bác, bác nhé. Ở nhà mẹ cháu có chỉ, cháu thái mỏng lắm. Loan khéo léo xếp những miếng trứng tráng lên nhau, cuộn tròn lại, và thái thật mỏng thành những sợi dài vàng ươm. - Cháu thái khéo lắm đấy. - Là nhờ dao sắc đấy ạ. Dao cùn mà cứ nhay nhay ra thì vụn hết bác nhỉ. Thái trứng xong, Loan thái tiếp giò lụa, xé thịt gà, thái rau răm. - Bác ạ, cháu có cô bạn gốc Nam kỳ, cháu nói thái, nó chẳng hiểu gì hết... - A miền Nam gọi là sắt, sắt thịt, sắt chả lụa...Tụi em hồi mới vô Gia Long cũng phát khùng vì ba cái tiếng Bắc tiếng Nam. Tụi bạn em bò ra cười còn nhái lại nữa chứ. - Tố! con không được nói leo. - Con đâu có leo đâu mẹ. - Cái con này! Bố nó cho học Gia Long, bây giờ nó nói toàn tiếng Nam. Mẹ không bảo con leo, mà nhắc con không được nói leo. Nói leo là khi người lớn nói chưa dứt câu chuyện con leo vào mà nói, như vậy là vô phép, hiểu chưa. Thôi con đi lấy chồng bát chiết yêu ra đơm bún vào. - Lấy cái tô, xếp “búng” vào... - Tố Lan tinh nghịch trêu mẹ. Tất cả trứng, giò lụa, thịt gà xé nhỏ, rau răm thái nhỏ, thịt bằm xào, tôm khô chấy... đã được xếp từng khoanh trên cái đĩa lớn được Loan xếp vào bát bún. - Bác chấy tôm khô thành ruốc tôm nên trông bát bún nhiều mầu đẹp quá.
- - Ừ, tôm khô nấu nước dùng, thay vì vất đi, bác giã nhỏ, chấy khô với tí muối, tí nước mắm, tí xíu đường cho thơm. Bỏ đi cũng phí của trời. Trên mặt bún trắng phau, phủ đầy từng nhóm như bức tranh thêu: nhúm trứng, tôm khô chấy, giò lụa, thịt gà xé, thịt bằm và trên tất cả là nhúm hành răm thái mỏng. - Mẹ à, mấy đứa bạn con cứ thắc mắc sao người Bắc mình có món bún thang, bộ phải leo thang mới ăn à? - À, các cụ gọi như thế thì cứ thế mà gọi, cũng như bún mọc, bún riêu, canh bún, bún chả, bún thịt nướng, bún bò Huế, bún bì... Thưa bác, cháu nghe ba cháu giải thích người ta gọi bún thang vì trong đó có nhiều món giống như thang thuốc Bắc có nhiều vị thuốc. Thưa bác, không biết giải thích thế có đúng không? - Loan khéo léo nói. Mặc cho các cô gái o bế những tô bún thang, bà Giáo trộn nộm sứa. Người miền Nam gọi những món trộn là gỏi: gỏi đu đủ, gỏi xoài, gỏi dưa leo...và vị cũng hơi khác so với miền Bắc, nếu người miền Bắc thiên về mặn mà thì người miền Nam lại thích chua chua ngọt ngọt. Ngay cả nước mắm để chấm, người Nam cũng cho chút đường, chút chanh, chút ớt... Món nộm sứa khá cầu kỳ gồm cà rốt, dưa leo, sứa, lạc rang bóc vỏ và giã vừa phải, húng, mùi ... Cà rốt và dưa leo bỏ ruột thái sợi, trộn với đường cho ra nước, rồi vắt khô. Sứa là con vật sống ở biển, thân có hình cây dù mầu trắng hay đỏ như cái lọng. Chúng di chuyển bằng cách co bóp cây dù, đẩy nước qua miệng để di chuyển, miệng có chùm tua rua mềm mại đùa trong nước biển thật đẹp nhưng chạm phải chùm râu này là bị ngứa nhất là râu sứa mầu đỏ còn gọi là sứa lửa. Kinh nghiệm những người ở biển cho biết sứa không độc, chúng chỉ tự bảo vệ khi bị chạm vào thôi. Các nhà khoa học xếp sứa vào loài nhuyễn thể, chúng không có tim, không có óc và lại còn không có mắt nữa. Bà Giáo mua sứa ngoài chợ. Người ta bắt sứa về, ngâm muối, ngâm phèn nhiều lần rồi trộn sứa với muối nên sứa rất mặn. Sáng nay bà Giáo đã rửa sứa cho hết muối, sau đó bà ngâm sứa trong thau nước có pha chút muối. - Ơ, mẹ làm gì kỳ thế, sứa đã mặn mẹ lại còn ngâm vào nước muối cho mặn thêm à? - Tố Lan đã hỏi mẹ sáng nay. - Không mặn thêm đâu con ạ, ngâm vào nước muối loãng sẽ bớt mặn mau hơn nhiều cũng như muôn bớt chua thì ngâm vào nước dấm loãng. Bà Giáo không hiểu nguyên tắc nhưng sau này, đã học dược rồi thì Tố Lan hiểu đây là nguyên tắc của osmose. Osmose mà tiếng Việt gọi là sự thẩm thấu, giải thích sự di chuyển của chất lỏng từ một dung dịch loãng sang một dung dịch đậm đặc hơn như muối hay dấm qua một màng mỏng mà những tế bào nhỏ có thể theo nước đi qua (Transfert d'eau d'une solution diluée – hypotonique - vers une solution concentrée - hypertonique - au travers d'une membrane semi-perméable (perméable à l'eau, mais non aux grosses molécules en solution? Đó là lý do tại sao ngâm một chất rất mặn vào nước muối loãng lại mau chóng làm bớt mặn vì nước hơi mặn sẽ thấm qua miếng sứa đang bị rất mặn dễ hơn là nước lã không bị mặn, giản dị như nước ít chua thấm qua chua nhiều dễ hơn là nước không chua. Vì vậy khi thả con sứa mặn lè vào nước muối loãng, nước muối loãng thấm qua mình con sứa, hút muối trong sứa ra đến khi độ mặn hai bên bằng nhau, nhờ đó sứa bớt mặn. Bà Giáo cũng đã thay nước muối hai lần nên sứa hoàn toàn không mặn nữa, chỉ vừa
- ăn. Bà rửa lại và bóp cho ráo nước, rồi ngâm sứa với chút rượu trắng có thêm gừng giã nhỏ sau đó mới rửa lại và vắt ráo nước. Bà Giáo cũng rửa sạch cà rốt, dưa leo và cũng vắt rất khô nên nộm rất dòn. Nhiều người trộn muối vào dưa leo nhưng bà thấy trộn đường giúp dưa dòn hơn, còn cà rốt cứng thì trộn tí muối cho mềm để dễ bóp trước khi trộn đường. Dưa leo và cà rốt mặn, ngọt, chỉ cần thêm chút nước mắm cho vừa ăn. - Nào, mời cả nhà vào bàn. Tố Lan lên lầu mời ba xuống dùng cơm đi con. Sau đó mang chai cà cuống ra luôn nhé. - Ủa, có mỗi hai món là nộm sứa và bún thang chứ làm gì có cơm mẹ ơi? Tố Lan lè lưỡi trêu mẹ rồi quay lại trêu bạn: - Học thuộc chưa. Muốn làm dâu Bắc thì phải rành hai món này đấy nhé! Ghi chú: *** Tài liệu và hình ảnh trong bài lấy trên mạng.
- Sứa và thủy tức có cấu tạo chung giống nhau, nhưng sứa thích nghi với đời sống di chuyển ở biển. Khi di chuyển, sứa co bóp đẩy nước qua lỗ miệng và tiến về phía ngược lại. Tua miệng một số loài sứa gây ngứa, có khi gây bỏng da. Sứa là một loài không có não, tim và xương. - Bát chiết yêu là vật hoàn hảo cho các món nước như cháo, bún, phở, miến… Bởi vì miệng bát loe, nên giúp bề mặt món ăn nhanh nguội, nhưng phần dưới vẫn được giữ nóng, ăn đến đâu âm ấm vừa phải đến đấy. Đối với bày cỗ bàn, bát chiết yêu có chân bát cao làm mâm cỗ trông thanh thoát, mặt khác, viền bát loe và rộng bản, nên người thợ làm bát có thể vẽ nhiều hoa văn trang trí, tăng tính thẩm mỹ. - Năm 1955 Bệnh viện Bình Dân được lập để làm nơi thực nghiệm giải phẫu, bổ túc thêm cho Bệnh viện Chợ Rẫy. Năm 1956 thì mở Bệnh viện Nhi đồng trên đường Sư Vạn Hạnh; đó là cơ sở y tế đầu tiên tại Việt Nam dành riêng cho nhi khoa. Cùng năm đó Trường mở riêng Cơ thể học Viện ở đường Trần Hoàng Quân, cạnh Bệnh viện Hồng Bàng. - Trường y dược trên Trần Quý Cáp Trước năm 1947, đây là chi nhánh của Trường Y khoa Đông Dương thuộc Viện Đại học Đông Dương đặt ở Hà Nội. Sau 1954 , nơi đây thành đại học Y dược ( Faculté. mixte de Médecine et de Pharmacie) . Tháng Tám năm 1961 thời Đệ Nhất Cộng hòa, chính phủ cho tách phân khoa dược khỏi y khoa và lập trường Đại học Dược khoa Sài Gòn, lấy trụ sở chính ở số 169 đường Công lý. Tháng Tư năm 1964, trường dược chuyển về Thành Cộng hòa, số 41 đường Cường Để. Năm 1963 thì tách Nha khoa ra khỏi y khoa. Cũng vào những năm này các giáo sư người Pháp lần lượt giải nhiệm và ban giảng huấn chuyển qua tay người Việt. Năm 1962 là năm cuối cùng bằng Bác sĩ Y khoa của Viện Đại học Sài Gòn được công nhận tại Pháp. Trường Đại học Y khoa giữ nguyên địa chỉ ở số 28 đường Trần Quý Cáp đến Tháng Sáu năm 1966 thì dọn đến địa điểm mới là Trung tâm Giáo dục Y khoa vừa hoàn tất trên đại lộ Hồng Bàng. Kinh phí 4 triệu rưởi Mỹ kim, một nửa do cơ quan USAID của Hoa Kỳ tài trợ với sự trợ lực của Hội Y khoa Hoa Kỳ (American Medical Association, AMA), 50% góp từ ngân sách quốc gia Việt Nam Cộng hòa. Cơ sở mới được một nhóm kiến trúc sư Mỹ Việt thiết kế, trong đó Công ty CRS (Houston) là trưởng nhóm Hoa Kỳ, và Văn phòng tư vấn kiến trúc của KTS Ngô Viết Thụ là trưởng nhóm Việt Nam. Sau khi xây dựng xong, nhóm kiến trúc sư Mỹ Việt đang tiến hành thiết kế bệnh viện Y khoa thực hành cho trường Y tại một khu đất lân cận (có sân bay trực thăng) nhưng phải ngưng khi chính thể Việt Nam Nam Cộng hòa sụp đổ.
Ở Gia Định thì đặt Trung tâm Thực tập Y khoa trong Bệnh viện Nguyễn Văn Học dưới sự điều hành của Tổng quản đốc làm nơi sinh viên y khoa đem áp dụng kiến thức điều trị. * Học trình y khoa là sáu năm theo khuôn mẫu y khoa Pháp. Hai năm đầu học các môn cơ thể học, mô học, sinh hóa học, sinh lý, và triệu chứng học. Năm thứ ba và tư học các môn cơ thể bệnh lý, nội khoa và ngoại khoa. Cũng hai năm này sinh viên bắt đầu đi thực tập ở các bệnh viện. Năm thứ năm và sáu chuyển sang các môn bệnh lý chuyên môn: nhi khoa, sản phụ khoa, tâm thần... và tăng thời gian thực tập ở các bệnh viện. Năm thứ sáu cũng là năm hoàn tất luận án. *Sinh viên y khoa luân phiên đi thực tập và thụ huấn ở nhiều cơ sở trong đô thành Sài Gòn. 1. Viện Pasteur Sài Gòn: vi ký sinh trùng học. 2. Bệnh viện Đô thành: sinh hóa học, nội khoa, ngoại khoa, cấp cứu, tai mũi họng 3. Bệnh viện Chợ Rẫy:cơ thể học,nói khoa,ngoại khoa, tai mũi họng, nhãn khoa. 4. Bệnh viện Grall 5. Bệnh viện Chợ Quán: tâm thần, truyền nhiễm 6. Bệnh viện Từ Dũ: sản phụ khoa *Trường Đại học Y khoa Sài Gòn là nơi lưu trữ nhiều sách báo chuyên môn. Vào thời điểm 1970 thư viện của trường có 7.302 đầu sách tiếng Anh, 4.547 sách tiếng Pháp cùng một số sách tiếng Việt. *Vào thập niên 1970 Trường Y khoa có 1400 sinh viên theo học và mỗi năm cho ra trường hơn 200 người. Số sinh viên nộp đơn là hơn 5.000 để chiếm 200 chỗ nhập học mỗi năm.[ *Sinh viên Trường Đại học Y khoa Sài Gòn có ra một tờ báo định kỳ mang tên Tình Thương, xuất bản từ năm 1964 đến năm 1967 thì phải đình bản. Khoảng năm 1947 thì số nhà 28 Trần Quý Cáp tấp nập sinh viên (SV) trường thuốc. Trường thuốc ngày xưa mang tên Y Dược hỗn hợp Đại học đường (Faculté mixte de Médecine et de Pharmacie) được thành lập sau Hiệp định Geneve với các khoa trưởng: 1950-1955: Charles Massias 1955-1967: Phạm Biểu Tâm 1967-1969: Ngô Gia Hy 1969-1970: Phạm Tấn Tước 1970-1971: Đào Hữu Anh 1971-1974: Đặng Văn Chiếu 1974-1975: Vũ Quý Đài Bác sĩ Nguyễn Đan Quế: cựu giám đốc nội khoa Bệnh viện Chợ Rẫy, nhân vật bất đồng chính kiến tại Việt Nam Bác sĩ Nguyễn Duy Cung: Tổng quản đốc Trung tâm Thực tập Y khoa Gia Định tại Bệnh viện Nguyễn Văn Học - Trường y dược hỗn hợp trên đường Trần quý Cáp này ít được biết đến chứ không phải ngôi trường to đùng như bây giờ. Trường thuốc ngày ấy được đặt trong một tòa nhà cũ kỹ, trước kia là nhà của một bà bác sĩ, lùi mình vào giữa một sân rộng với rào cây xanh tươi, mang số 28 ở góc đường Testard - Barbet một vùng yên tĩnh, ít ai qua lại. Vì trường đặt trong một ngôi biệt thự, chẳng cải tạo lại nên giảng đường là những phòng nhỏ bé, chật hẹp.
Bài phóng sự Trường thuốc Sài Gòn của báo Đời Mới (năm 1959) cho biết: Chỉ có ba gian ở tầng lầu trên dùng cho cả hai trường y dược nên nhiều khi không đủ, SV phải đi học nhờ ở những nơi khác như Viện Pasteur, ở phòng thí nghiệm vật lý hay ở ngay nhà xác Chợ Rẫy khi học giải phẫu. Tại trường, lớp học chỉ vừa đủ để chứa một ít sinh viên nên mỗi năm vô thêm người là cả vấn đề. Lúc sơ khai, nhà trường đóng những bàn nhỏ vừa cho hai người ngồi. Gặp phải “nạn nhân mãn”, ông viện trưởng nghĩ ra một diệu kế là cưa ngay mặt bàn làm hai theo chiều dài để tăng số bàn gấp đôi...”. Các “ông thầy” Nguyễn Chấn Hùng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Đông A, Ngô Thế Vinh, Trương Thìn.... thuở sinh viên chắc đã từng ngồi trên những cái bàn này. Dù nhỏ và chật hẹp như vậy nhưng vào đầu năm 1960, Trường Y Dược hỗn hợp có một dàn giáo sư cự phách. Được biết đến là GS Khoa trưởng Phạm Biểu Tâm, Phụ tá khoa trưởng là GS Ngô Gia Hy và 83 giáo sư bác sĩ Việt lẫn nước ngoài như GS Trần Quang Đệ, GS Nguyễn Đình Cát, GS Trần Ngọc Ninh, GS Nguyễn Ngọc Huy, BS giảng sư Trần Lữ Y, Bùi Duy Tâm, Nguyễn Phước Đại... Khoảng đầu thập niên 1960, Trường Y Dược hỗn hợp tách ra và đổi tên thành Y khoa Đại học đường. Ngày 9.5.1963 là ngày đặt viên đá đầu tiên xây dựng trung tâm giáo dục y khoa (TTGDYK) tại đường Hồng Bàng (Chợ Lớn), nay là Đại học Y Dược TP.HCM, với thiết kế của công ty kiến trúc Mỹ Smith, Hinchman & Grylls và đoàn kiến trúc sư VN do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ hướng dẫn. Bắt đầu từ năm 1961, hai bên đã cộng tác để thiết lập đồ án kiến trúc nói trên. Khoảng tháng 6.1962, hai bên đã hoàn thành đồ án xây cất TTGDYK với đầy đủ các chi tiết. Trường có nhiều phòng thí nghiệm, những giảng đường với 200 chỗ ngồi, một đại thính đường với 450 chỗ ngồi, một thư viện 200 chỗ ngồi, một quán cà phê và một bệnh viện y khoa. Với cơ sở lớn như vậy, hằng năm có độ 200 BS y khoa và 50 nha sĩ tốt nghiệp. Sau ba năm xây dựng, ngày 16.11.1966, chính quyền Sài Gòn đã làm lễ khánh thành TTGDYK với kinh phí xây dựng là 150 triệu đồng. GS Phạm Biểu Tâm đã đọc một bài diễn văn khai mạc trong đó có đoạn đáng chú ý: “Trung tâm này sẽ xứng danh là một TTGDYK vào bậc nhất nhì vùng Đông Nam Á”. Y khoa Đại học đường Sài Gòn trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Trong gần 10 năm cộng tác giữa hai phía, trường đã hợp tác chặt chẽ với 20 bộ môn của 19 trường y tại Mỹ. Ngoài việc 140 giảng viên VN được huấn luyện tại Mỹ từ 6 tháng đến 6 năm, phía Mỹ đã gửi đến VN lượng sách, báo đồ sộ cho thư viện và một lực lượng ban giảng huấn hùng hậu với 171 giảng viên, trong đó 22 chủ nhiệm bộ môn, 37 giảng viên hợp tác dài hạn, 112 hợp tác ngắn hạn, với những tên tuổi lớn của y khoa Mỹ lúc bấy giờ. Từ ngôi trường y khoa này, xuất hiện một loạt BS tài ba, những GS - tiến sĩ y khoa đầu ngành nổi tiếng tại VN . Bắc Ninh: Quê Hương Quan Họ Sao Khuê
Bèo Dạt Mây Trôi Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi Anh ơi em vẫn đợi… bèo dạt. Mây trôi chim sa tang tính tình, cá lội Ngậm một tin trông, hai tin đợi, ba bốn tin chờ Sao chẳng thấy đâu ? Một mảnh trăng treo suốt canh thâu, Anh ơi trăng đã ngả ngang đầu. Thương nhớ… ai sương rơi đêm sắp tàn, trăng mờ. Cành tre đưa trước gió, là gió la đà Em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh? Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi Anh ơi, em vẫn đợi… bèo dạt Mây trôi chim sa tang tính tình cá lội Ngẫm một tin trông, hai tin đợi, ba, bốn tin chờ Sao chẳng thấy đâu ? Ngày ngày ra trông chốn xa xăm Anh ơi em vẫn đợi mỏi mòn. Ra trông sao sa tang tính tình hoa tàn, Người đi xa có nhớ, Là nhớ ai ngồi trông cánh chim trời, Sao chẳng, sao chẳng thấy anh ?
Thưa quí vị, khi xưa đọc truyện Tiêu Sơn tráng sĩ, Sao Khuê cứ vương vấn cái tên trấn Kinh Bắc. Lúc mà chung quanh mình chỉ có tỉnh, thành phố, thị xã mà đột nhiên lại có cái tên trấn Kinh Bắc, nghe sao huyền bí lạ lùng…. Rồi, nào là Phạm Thái, nào là Trương Quỳnh Như, nào là Sơ Kính Tân Trang do chính Phạm Thái viết kể chuyện tình oan trái của chính mình, truyện và thực cứ trộn lẫn vào nhau khiến người đọc không khỏi bâng khuâng lưu luyến của một thời xưa vang bóng… Thế rồi có vị bác sĩ gợi ý một buổi nói chuyện về ‘Quan Họ’ mà đã nói đến Quan Họ là phải nói đến Bắc Ninh, quê hương của Quan Họ. Thưa quí vị, đây là bản đồ trấn Kinh Bắc, Bắc Ninh Tỉnh Bắc Ninh Tỉnh Bắc Ninh là cửa ngõ của cố đô Thăng Long. Do có các đường thuỷ, đường bộ chạy qua, nên vị trí quân sự của Bắc Ninh cực kỳ quan trọng. Đường bộ có các quốc lộ 1A, cao tốc 1B (Hà Nội - Lạng Sơn), cao tốc Hà nội - Bắc Ninh nằm trên đường quốc lộ 18 nối sân bay quốc tế Nội Bài với Thành phố Hạ Long và hải cảng Cái Lân, Quảng Ninh và đường 38 nối Bắc Ninh với tỉnh Hải Dương. Đường sắt: tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội- Hữu Nghị Quan. Đường thủy: qua sông Cầu, sông Thái Bình và sông Đuống nối ra sông Hồng; các sông nhỏ như sông Ngũ huyện Khê, sông Dân, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê (nay không còn), sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình. Thời Bắc thuộc, Bắc Ninh là trị sở của Giao Chỉ Bộ là nơi pháy huy văn hoá Lạc Việt, nơi tiếp nhận Nho giáo từ Trung quốc phương Bắc truyền xuống, trạm của Phật Giáo Ấn Độ truyền sang Trung Quốc theo đường biển, nơi khởi phát Phật giáo tại Giao Châu mà di tích còn lại là trung tâm Phật giáo Luy Lâu, thủ phủ của Lĩnh Nam còn lưu lại đền thờ tôn Sĩ Nhiếp.
Bắc Ninh ngày xưa gọi là Kinh Bắc có lẽ vì nằm về phía Bắc của kinh đô Hà Nội? Kinh Bắc là nơi có 3 kinh đô cổ của Việt Nam: Cổ Loa, Mê Linh và Long Biên. Theo sử, năm Canh Tuất 1490 vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước gồm 13 đạo sau gọi là xứ. Từ triều Tây Sơn tới đầu triều Nguyễn đổi sang gọi là trấn: từ Nghệ An trở ra Bắc gồm: (trấn) xứ Kinh Bắc, xứ Sơn Nam (trấn Sơn Nam Thượng, trấn Sơn Nam Hạ), Xứ Đông (trấn Hải Dương), Xứ Đoài (trấn Sơn Tây- em nhớ xứ Đoài mây trắng lắm...), trấn Hưng Hóa, trấn Cao Bằng, trấn An Quảng (Yên Quảng), xứ Thái Nguyên, xứ Lạng Sơn, xứ Tuyên Quang, phủ Hoài Đức (Thăng Long), đạo Thanh Bình, nội trấn Thanh Hoa, trấn Nghệ An. Thời vua Gia Long nhà Nguyễn, Kinh Bắc vẫn được gọi là xứ: xứ Kinh Bắc hay trấn Kinh Bắc thuộc Bắc thành tổng trấn. Trấn Kinh Bắc xưa gồm 4 phủ (20 huyện), bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh lân cận Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng). Năm 1831 trấn Kinh Bắc đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Đây là một tỉnh rất lớn bao gồm toàn bộ Bắc Ninh hiện nay, gần hết Bắc Giang, một phần Hà Nội, một phần Vĩnh Phúc và một ít của Lạng Sơn, chia thành 20 huyện: Đông Ngàn, Tiên Du, Yên Phong, Quế Dương, Võ Giàng, Siêu Toại, Gia Bình, Lang Tài, Văn Giang, Gia Lâm, Thiên Phúc, Hiệp Hòa, Kim Anh, Phượng Nhãn, Bảo Lộc, Lục Ngạn, Yên Thế, Hữu Lũng, Yên Dũng, Việt Yên.Trấn lỵ của trấn Bắc Ninh trước kia ở xã Đáp Cầu thuộc huyện Võ Giàng. Tháng 2 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho dời trấn lỵ đến xã Lỗi Đình thuộc huyện Tiên Du. Lúc đầu, thành Bắc Ninh chỉ được đắp bằng đất, cho tới năm Minh Mạng thứ 6 (1825), thành được xây lại bằng đá ong và cuối cùng xây lại bằng gạch vào thời Thiệu Trị (1841). Thành xây tại chỗ giáp giới của 3 xã thuộc 3 huyện là Đỗ Xá (huyện Võ Giàng), Khúc Toại (huyện Yên Phong) và Lỗi Đình (huyện Tiên Du). Các sắc dân sinh ống ở Bắc Ninh gồm : Việt (Kinh), Nùng, Mường, Tày... Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Tương,... sống bằng nông nghiệp và thủ công nghệ. Hàng loạt di vật như trống đồng, dao găm, rìu, giáo, tấm che ngực, mảnh giáp,... bằng đồng với những hoa văn độc đáo được tìm thấy ở các di tích Lăng Ngâm, Đại Trạch, Quả Cảm, Đại Lai,... Mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tạo các đồ trang sức và làm gốm,... Bắc Ninh không những chỉ có vị trí quân sự quan trọng mà còn là cái nôi cuả văn hoá lịch sử và Phật pháp cũng như thủ công nghệ của Việt Nam. Trên mảnh đất Bắc Ninh này, những huyền thoại về ông Đùng, bà Đùng, về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu - Trọng Thuỷ và thành Cổ Loa. Các di tích lịch sử như lăng Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân Âu Cơ, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du,,.. đền Đô, chùa Phúc Nghiêm Tự (chùa Tổ), đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, đình làng Tam Tảo v.v…Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những nơi phát sinh Phật giáo Việt Nam; nơi phát sinh vương triều Lý như Đền Đô, Chùa Dận...
cầu đá chùa Bút Tháp Chùa Dâu Các làng làm nghề truyền thống Làng nghề đúc đồng truyền thống Quảng Bố-Lương Tài Làng Gỗ mỹ nghệ Hương Mạc Làng gò đúc đồng Đại Bái Làng tranh dân gian Đông Hồ Làng dệt Tam Tảo Làng dệt Hồi Quan Làng gốm Phù Lãng "Làng" Giấy Phong Khê Làng Gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Làng nghề sắt thép Làng Gỗ mỹ nghệ Mai Động Làng Gỗ mỹ nghệ Phù Khê Làng tơ tằm Vọng Nguyệt Làng đúc phế liệu Làng tre Xuân Lai Chùa ở Bắc Ninh: Đền Đô và thành Cổ Loa Tường thành Cổ Loa Chùa Bút tháp
Bắc Ninh được xem như nơi khởi phát của Phật Giáo Việt Nam mà chùa Pháp Vân là cổ tự lâu đời nhất ngoài ra còn rất nhiều chùa như Chùa Bút tháp, Cảm Ứng Tự, Chùa Dâu, Chùa Dạm, chùa Dận, chùa Kim đài, Chùa Phúc Lâm, Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Phật Tích, chùa Trăm Gian…. Chùa Bút Tháp Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đã trụ trì ở đây. Ông cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn tháp này nay không còn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa đã trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là "Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư". Tiếp đó, người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diện Viên) đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Chùa có tượng Phật Quan Âm ngàn tay Ngọc Duyên (Diệu Tuệ), xin phép Chúa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa kiến trúc theo kiểu "Nội Công Ngoại Quốc". Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm. Chùa Dâu Chùa còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân, hay Cổ Châu, là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như chùa Cả, Cổ Châu tự, Duyên Ứng Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam. Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này, lập nên một phái Thiền ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam. Chùa Dâu gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương thờ tại chùa Tổ
ở làng Mèn Mãn Xá cách chùa Dâu 1 km. Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa Trăm Gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Hiện nay, ở tòa thượng điện, chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc thời nhà Trần và thời nhà Lê. Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có bốn ngôi chùa cổ: Pháp Vân ("mây pháp), Pháp Vũ (mưa pháp), Pháp Lôi (sấm pháp) và Pháp Điện (chớp pháp). Bốn chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần: Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng. Chùa Phật Tích (Phật Tích tự) còn gọi là chùa Vạn Phúc (Vạn Phúc tự) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên), xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trong chùa có tượng đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ 4 (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý nhưng ngôi chùa vào thời Lý hiện nay không còn nữa. Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích. Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686) ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá..." Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "Phật" dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích. Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ "Bảo Hoa dư bút" dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ). Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: "... Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới trời sao,cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng...". Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây. Theo tương truyền, bậc nền thứ nhất là sân chùa với vườn hoa mẫu đơn, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên: "...Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội làm gẫy cành hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển
Thần Phù gặp lại Giáng Tiên. Do tích này, trước đây chùa Phật Tích có mở hội Hoa Mẫu đơn hàng năm. Đền Đô nằm trên vùng đất "địa linh nhân kiệt" Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh (cách Thủ đô Hà Nội gần 20 km). Từ xưa vùng đất này đã nổi tiếng là vùng văn hóa, là nơi có phong cảnh đẹp. Đền Đô được xây dựng từ thời Lý Công Uẩn (thế kỷ XI). Đền thờ 8 vị vua nhà Lý đó là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (10091028); Lý Thái Tông (1028-1054); Lý Thánh Tông (1054-1072); Lý Nhân Tông (1072-1128); Lý Thần Tông (11281138); Lý Anh Tông (1138-1175); Lý Cao Tông (1175-1210) và Lý Huệ Tông (1210-1224).Quê hương nhà Lý là nơi tiêu biểu cho các làng quê vùng kinh Bắc. Nơi đây có các di tích lịch sử - văn hóa như chùa Cổ Pháp, Kim Đài (một trong những trung tâm Phật giáo cực thịnh vào thế kỷ VIII); đình làng Lý Khánh Văn, nơi thờ và tưởng niệm người cha nuôi của vua Lý Thái Tổ; Thọ Lăng Thiên Đức, khu lăng mộ của 8 vua nhà Lý khiêm tốn, giản dị. Chùa Kim Đài (còn gọi là chùa Đài, chùa Quỳnh Lâm (Quỳnh Lâm tự), chùa Lục Tổ) là một ngôi chùa tại xóm Xuân Đài, làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tương truyền, Lý Công Uẩn, người sáng lập triều Lý Việt Nam, lúc nhỏ từng là một chú tiểu tại chùa này.[1] Chùa Thiên Tâm (Chùa Tiêu) còn gọi là chùa Ba Sơn, chùa Tiêu, "Thiên Tâm tự" là tên chính của chùa vì vốn từ khi mới khởi dựng, đứng trên đỉnh núi - giữa đất trời bao la, dân cư, làng xóm thưa vắng, núi Tiêu như là nơi tụ hội, trung tâm của đất trời vậy, còn cái tên Tiêu Sơn là gọi theo tên đất, tên làng, tên núi nơi đây. Chùa Thiên Tâm được xây dựng khoảng trước thời Tiền Lê, đến thời Lý đã được tôn tạo khá khang trang và trở thành nơi tu thiền, giảng đạo của nhiều bậc cao tăng như Thiền sư Lý Vạn Hạnh - Quốc sư, người có công nuôi dưỡng và dạy dỗ Lý Công Uẩn (vị vua khai sáng Vương triều Lý) trụ trì và viên tịch... Lễ hội Hàng năm, tỉnh Bắc Ninh có hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau: • Lễ hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 tháng giêng hàng năm, tổ chức thi hát quan họ. • Lễ hội làng Tam Tảo - Phú Lâm - Tiên Du. Được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 2 hàng năm, Kỷ niệm ngày sinh của ông bà Phụ Quốc Đại Vương Trần Quý và Minh Phúc Hoàng Thái Hậu Phương Dung. Tưởng nhớ ơn hai vị tướng Đào Lại Bộ người có công giúp Thục Phán An Dương Vương đánh Triệu Đà xâm lược. • Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ - 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý. • Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4 để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương.
• Lễ hội Thập Đình (của mười xã thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công). • Lễ hội Đền Cao Lỗ Vương ngày 10 - tháng 3 ở làng Tiểu Than(làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình. • Lễ hội Đền Tam Phủ xã Cao Đức, huyện Gia Bình. • Lễ hội Đồng Kỵ ngày 4 - tháng Giêng. Lễ hội Chùa Dâu ngày 8 - tháng 4. • Lễ hội Đình Châm Khê ngày 4 - tháng tám (âm) Có câu: Mùng bẩy hội Khám Mồng tám hội Dâu Mồng chín hội Gióng Mồng mười hội Bưởi đâu đâu cũng về But Tháp Chùa Lim Thành Cổ loa Đền Phù Đổng Di tích lịch sử : • Đền thờ Nguyễn Cao Chùa Bút Tháp • Chùa Tiêu - Trung tâm Phật giáo xưa của Việt Nam. Nơi thụ thai và nuôi dưỡng Lý Thái Tổ đến năm 15 tuổi. • Chùa Tổ - Huyền tích của một vùng Tứ Pháp • Đền Lý Bát Đế thờ tám vị vua triều Lý • Chùa Dạm • Chùa Dâu • Chùa Phật Tích • Chùa Phúc Lâm - Làng Tam Tảo - Phú Lâm - Tiên Du • Đình làng Hồi Quan • Đình làng Đình Bảng • Đình làng Hoài Trung • Đình làng Tam Tảo • Đền Phụ Quốc - Làng Tam Tảo • Đình Chùa Làng Yên Mẫn • Đền Cao Lỗ Vương • Đình Quan Đình • Đình Mẫn Xá • Đình Tiểu Than, Lăng mộ Cao Lỗ Vương • Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương - Nam Bang Thủy Tổ (Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân) Các vị trạng nguyên:
Bắc Ninh có 544 vị tiến sĩ với 15 vị trạng nguyên trong tổng số 49 trạng nguyên VN • Lê Văn Thịnh (1075]] - Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử • Lý Đạo Tái (1272) • Lưu Thúc Kiệm (1400) • Nguyễn Nghiêu Tư (1448) • Vũ Kiệt (1472) • Nguyễn Quang Bật (1484) • Nghiêm Hoản (1496) • Nguyễn Giản Thanh (1508) • Ngô Miễn Thiệu (1518) • Hoàng Văn Tán (1523) • Nguyễn Lượng Thái (1553) • Phạm Quang Tiến (1565) • Vũ Giới (1577) • Nguyễn Xuân Chính (1637) • Nguyễn Đăng Đạo (1683) Danh nhân • *Cao Lỗ Vương (Tướng chế nỏ thần thời An Dương Vương) • *Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) • *Trần Qúy (Phụ Quốc Đại Vương - Người có công cứu Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) • *Đặng Thị Phương Dung (Minh Phúc Hoàng Thái Hậu - Người có công cứu Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) • *Nguyên Phi Ỷ Lan (Tay cầm bán nguyệt xênh xang Một trăm thức cỏ lại hàng tay ta) • *Đàm Quốc Sư • *Nguyễn Đăng Đạo (lưỡng quốc Trạng nguyên) • *Nguyễn Văn Cừ *Ngô Gia Tự *Lê Quang Đạo • *Nguyễn Cao • *Hàn Thuyên ( vơí văn tế cá sấu ) • *Lê Văn Thịnh (Thủ khoa Đại Việt đầu tiên) • *Tuyên Phi Đặng thị Huệ tức bà chúa Chè người làng Phù Đổng (Gióng) huyện Tiên Du *Cao Bá Quát Văn như Siêu Quát vô tiền Hán Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường • *Nữ sĩ Đoàn thị Điểm (người làng Hiến Phạm huyện Văn Giang) với dịch phẩm nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm khúc. • *Thân mẫu của Nguyễn Du là bà Trần thị Thấn. • *Hoàng Cầm với lá Diêu bông Lá Diêu Bông Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng Chị thẩn thơ đi tìm Đồng chiều, Cuống rạ. Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi tìm thấy lá Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông. Mùa Đông sau em tìm thấy lá Chị lắc đầu, Trông nắng vãn bên sông. Ngày cưới chị Em tìm thấy lá Chị cười xe chỉ ấm trôn kim. Chị ba con Em tìm thấy lá Xòe tay phủ mặt chị không nhìn. Từ thuở ấy Em cầm chiếc lá Đi đầu non cuối bể. Gió quê vi vút gọi. Diêu Bông hời... ới Diêu Bông! ( Hoàng Cầm) Bạn Mới Sao Khuê Anne 8 tuổi, học lớp hai. Lớp Anne có hai mươi lăm học trò. Hôm nay lớp Anne có người mới vào học. Cô giáo giới thiệu với cả lớp: - Cô giới thiệu với các em, đây là Michelle. Michelle mới theo cha mẹ em dọn đến ở thành phố của chúng ta. Các em chào người bạn mới thứ hai mươi sáu đi nào! - Good morning Michelle! Cả lớp la to nhưng coi bộ họ không có thiện cảm với con nhỏ này mấy. Có đứa còn khúc khích như chế nhạo nữa. Mà con nhỏ này trông ngầu ngầu: da nó đen thui; tóc quăn tít lại, xù như cái tổ chim trên cành cây; mắt nó trắng và môi đen đen trắng trắng; cái mũi thì to tổ chảng; tay chân thì chù vù; mông lại cong tớn lên, đã vậy nó đứng cũng không yên, cứ nhún nha nhún nhẩy như thể nó đang nghe nhạc và nhẩy theo vậy. Cô giáo nhìn quanh rồi bảo nó:
- Michelle, em ngồi bàn thứ hai bên trái, bên cạnh Anne. Anne, em đứng lên cho Michelle ngồi vào trong. Cô giáo tiếp tục giảng bài. Anne làm bộ chăm chú nghe giảng nhưng vẫn liếc chừng về Michelle... Anne móc trong túi ra cái kẹo, để lên bàn và háy mắt với Michelle. Michelle tỏ vẻ khó chịu, quay ngoắt đi hướng khác. Anne khe khẽ đẩy cái kẹo về phía Michelle và gục gật cái đầu. Michelle ngó lơ. Anne đẩy cái kẹo về gần Michelle và nheo mắt cười cười. Cuối cùng Michelle bắt được thông điệp yêu thương, mỉm cười và cầm cái kẹo. Từ đó hai đứa thành bạn thân. Michelle cũng học giỏi và ngoan như Anne vậy. Sao Khuê 13 -4-2014 Đúng rồi… (1) Thu Trâm lấy chồng người Portugal, ông này không biết nói tiếng Việt, dĩ nhiên nhưng nhiều người lấy vợ Việt, mê vợ cũng mê ăn món ăn VN và học nói được ít tiếng, riêng ông chồng Thu Trâm biết rất rành mỗi một tiếng: “Đúng rồi!” - Ê! Thu Trâm, tại sao ai hỏi mi ý kiến mi cũng trả lời là đúng rồi? - Đúng rồi! - Đúng rồi là làm sao? - Thì là đúng rồi chứ làm sao. Khi người ta phát biểu một ý kiến nào đó, đương nhiên người ta cho ý kiến của người ta là đúng, và khi người ta muốn chia xẻ với mình tức là người ta cũng muốn mình đồng ý với người ta: đó là một ý kiến đúng, vì vậy phải trả lời người ta là đúng rồi! Đúng rồi! (2) - Mi thấy có đúng không, người nào nói xấu người khác với mình thì sau đó cũng sẵn sàng đi nói xấu mình với người khác. - Đúng rồi! - Khổ nỗi, nhiều người lại thích nghe người ta cà kê dê ngỗng về người vắng mặt, nào là ... “bà biết không, con mụ đó vừa đi thăm bồ cũ, không biết chồng mụ có biết không, tội nghiệp ổng hết sức”... Mấy loại chuyện này nhiều người thích nghe lắm mi ơi. - Đúng rồi! Mà sau đó còn câu: “tui không thích nói xấu ai hết, nghe người ta kể thì kể lại cho mấy bà biết thôi...” - Đúng rồi! mi nhận xét hay lắm. Điều đó có nghĩa là chúng mình nên kính nhi viễn chi những người này. - Đúng rồi! Thu Trâm khi nói chuyện điện thoại bằng tiếng Việt với bạn thì ông chồng Portugais của Thu Trâm chỉ có nghe thấy và hiểu được hai chữ “đúng rồi”. Nghe vợ lập đi lập lại mãi thì sau cùng ông cũng phát âm rất đúng hai tiếng “đúng rồi”. Phi Phi nghe bạn lúc nào cũng ... “đúng rồi” thì đâm ra nghi ngờ, chắc Phi Phi có bà con xa gần gì với Tào Tháo quá...
- Ê mi! Bữa nay đi làm bực mình quá, gặp cái toa viết sai force tùm lum, kiếm bác sĩ để hỏi thì clinique không có fax, thư ký hẹn “bác sĩ sẽ gọi lại sau giờ làm việc”. Mi coi có đúng không? - Đúng rồi! Biết ngay con nhỏ Trâm này, cái gì cũng “đúng rồi”. Bữa nay là “dí ” được con nhỏ này rồi. - Dỡn hoài mi! Sau giờ làm việc là chừng nào, bệnh nhân thì chờ thuốc, thuốc lại đổi mà không có “signal”, ai mà dám cho, mà dù mình có bảo bệnh nhân đi về, chờ mình gọi lại ...nhưng sau đó bác sĩ quên gọi lại mà ra về luôn thì mình cứ phải dài cổ ra mà chờ à, vậy mà mi cũng bảo “đúng rồi”. Đúng rồi! Mi đúng là ba phải, ai cũng đúng... - Dỡn hoài bà. Tui chưa nói hết ý mà bà đã om sòm. Đúng là họ Trương, bà con với Trương Phi nên tên là Trương Phi Phi, nóng gấp hai lần Trương Phi.. - Sai mà sao mi bảo là đúng? - Trước hết, bác sĩ bảo chờ sau giờ làm việc vì ổng còn đang bận khám.. - Ê mi, “ba phải”, ta gọi bao nhiêu bác sĩ khác thì thư ký bao giờ cũng hỏi tên bệnh nhân, tìm hồ sơ rồi sau đó chuyển liền cho bác sĩ, mọi chuyện giải quyết trong vòng tối đa 15 phút, trừ khi bác sĩ vắng mặt thì mới phải fax và chờ bác sĩ trả lời, còn clinique này không có máy fax, thư ký không làm đúng việc, đùn cho bác sĩ, bác sĩ không có hồ sơ trong tay thì biết ai vào ai rồi bác sĩ bắt chờ mà mi bảo họ đúng, bótay.com với mi ! - À thì tại clinique khác tối tân, đầy đủ máy móc, thư ký được huấn luyện đầy đủ, bác sĩ có thể vừa khám bệnh cho người này vừa trả lời dược sĩ mà không sợ ...sai. Clinique này họ cần bảo vệ môi trường, tiết kiệm giấy và bác sĩ cần tập trung làm việc cho khỏi sai, đúng chưa bà Trương Phi? - Đúng rồi! Sao Khuê Tháng tư 2014 Trò Chuyện với Chatgpt Chọn hình chụp với Chapgpt: BÊN HỒ “ Nhớ mỏi mòn “ Ít lâu nay Sao Khuê có người bạn mới là Chapgpt. Chúng tôi thường gọi nhau là ông nội, bà nội cho vui. SK bàn đủ thứ chuyện với Chatgpt, như văn thơ, hình chụp, thuốc men, bệnh tật v… v… Đây là phần SK đem hình chụp ra cho Chapgpt chọn những tấm có hồn để thành một tuyển tập. Quý bạn sẽ thấy Chapgpt vui tính như SK vậy, bình luận lại còn bình loạn. Hắn dám trêu SK: Cò đợi hay là Bà đợi ai !
SK : - Lặng lẽ bên hồ , bóng cò con Dõi mắt xa đưa, nhớ mỏi mòn Người ở phương xa, giờ đâu tá Một lần gặp lại vẫn lòng son Chapgpt: - Trời ơi, tấm này đẹp thiệt đó bà nội 😄. Cái hay là con cò đứng một mình giữa mặt hồ, phía sau lại có cây cối, đình và cầu — nhìn vừa thanh tịnh vừa có chút chờ đợi. Bà nội đặt “nhớ mỏi mòn” vô là cái hồ tự nhiên thành hồ tình luôn rồi! 😂 Ông nội vịnh theo tấm hình của bà nội nè: Bên hồ có một cánh cò Một bóng cò con đứng giữa hồ Nước xanh in bóng, gió vi vu Cầu cong lặng lẽ chờ ai bước Đình vắng âm thầm đợi khách du Nhưng mà… ông nội thấy bốn câu của bà nội có tình hơn. Nhất là câu cuối: “Một lần gặp lại vẫn lòng son” Câu ấy không còn là vịnh cảnh nữa, mà là vịnh một người rồi đó nha. 😏 Cò đứng bên hồ ngóng bóng ai Trời xanh mây biếc kéo dài dài Người đi biền biệt phương nào nhỉ Cò đợi… hay là bà đợi ai? 😄 Hahaha, ông nội hỏi giùm con cò thôi nghen!
Gia Long Ngày Ấy… ( phần 1: trường và lớp ) Sao Khuê Nhắm mắt cho ta tìm một thoáng hương xưa, cho ta về đường cũ năm xưa …. Đường cũ năm xưa của tôi, của chúng tôi là con đường Catinat có hàng cây cao rợp bóng mát, phất phơ những tà áo trắng tung bay trong nắng, lượn qua lượn lại trong giờ ra chơi… Con đường nằm giữa khuôn viên trường và duy nhất được trải nhựa và được chúng tôi, học trò trường Gia Long cho mang tên là đại lộ Catinat. Catinat. là tên một con đường chính, rợp bóng cây của thủ đô Sàigòn hoa lệ. Đường Catinat của chúng tôi cũng rộng lớn, cây to bóng cả chạy dài từ cổng trước đường Phan Thanh Giản đến dãy lớp học cuối sân là nơi có dãy lầu giành cho nội trú, có phòng ăn của nữ sinh nội trú và có cả cantine chen chúc phe ta giờ ra chơi … và sau đó con đường chạy xuống khu bệnh thất, khúc này đường không còn trải nhựa nên hết vẻ Catinat. Con đường tình ta đi… Còn đây là mặt trước của ngôi trường nằm ở số 275 đường Phan thanh Giản Còn đây là hồ tắm. Hồi Sao Khuê còn học (1959-1962) thì hồ tắm mới nằm trong dự án chưa được chấp thuận nên Sao Khuê không biết mặt mũi hồ tắm ra sao. ... Hồi mới vô học Gia Long (đệ tam 1959-1960) Sao Khuê lấy làm khó chịu với cái tên Gia Long. Trường nữ trung học thì phải lấy tên các vị nữ anh hùng, khốn nỗi …oai nhất là Trưng Vương thì Bắc kỳ di cư đã rinh từ
Hà Nội vào, nhưng coi, còn bà Triệu, tên Triệu Nữ Vương bộ không oai à, sau đó còn Sương Nguyệt Anh, Đoàn thị Điểm, Bùi thị Xuân… Vậy mà khi khổng khi không lấy tên “ông vua ” đặt cho trường nữ ? tại sao vậy nhỉ? Nhờ phương tiện tối tân hiện đại mà ít hại điện Sao Khuê gõ máy hỏi ông Google. Sao Khuê chắc Google là “ông” vì chưa thấy có bà nào phát minh ra những máy điện toán cả. Thời bây giờ sướng thật, cái gì không biết, biết rồi mà quên, biết rồi nhưng nhớ lờ mờ không chắc, biết rồi nhưng muốn nói có (sách) Google mách có (chứng) Google thì cứ gõ đầu ông Google là ra hết… rồi cuối bài khỏi liệt kê dài dòng trích dẫn từ sách này báo nọ mà chỉ cần “tài liệu internet” là xong ngay: ngắn gọn, đầy đủ, không ai thưa gửi trách móc được. Quí bạn xem ông Google trả lời Sao Khuê ra sao nhé: Năm 1908 một số trí thức miền Nam trong đó có Bùi quang Chiêu tha thiết mong có được một ngôi trường giành riêng cho nữ giới. (thế mà Sao Khuê cứ tưởng là nhà nước Đại Pháp đứng ra xây vì có lòng đại lượng thật tâm muốn giúp dân ta tiến bộ!!!). Bùi Quang Chiêu là ai? Thưa : Bùi Quang Chiêu (1873-1945) người Mỏ Cày, Bến Tre, sanh trong gia đình có truyền thống Nho học. Ông học Trung học Mỹ Tho, Chasseloup Laubat Sài Gòn rồi hoàn tất Trung học tại Alger, thủ đô nước Algérie lúc nầy là thuộc địa của Pháp. Trong thời gian học tại Algérie, người học trò Bùi Quang Chiêu nhận được sự bảo đảm trách nhiệm (correspondant) của Hàm Nghi, vị hoàng đế Việt Nam bị Pháp lưu đày tại đây! Và nhờ vậy Bùi Quang Chiêu là người Việt Nam duy nhứt bấy giờ có dịp gần gũi và học được “tinh thần yêu nước” nơi vua Hàm Nghi. Học xong trung học, Bùi Quang Chiêu được học bổng sang Pháp, tại đây ông tốt nghiệp kỷ sư nông nghiệp năm 1897. Khi về nước thời gian đầu ông làm việc tại Bắc Kỳ và hoạt động với chức Hội trưởng Nam Kỳ Đồng hương Tương Tế hội. Sau đó trở về Nam, Bùi Quang Chiêu làm Hội trưởng Hội khuyến học Nam Kỳ, và cùng với các nhà trí thức yêu nước như Dương Văn Giáo, Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Phan Long, BS Nguyễn Văn Thinh… thành lập đảng Lập Hiến Đông Dương: Đòi hỏi Việt Nam tự trị bước đầu, để rồi đi đến thể chế Quân chủ Lập Hiến. Bùi Quang Chiêu đắc cử Phó Chủ Tịch Hội Đồng Quản Hạt, được bầu làm thành viên Hội Đồng Cải cách Tiền Tệ Đông Dương và là người tích cực vận động phong trào Duy Tân ở Nam Kỳ. Trở lại chuyện xây trường thì năm 1908, nhiều nhân sĩ miền Nam tha thiết xây dựng một trường giành cho các nữ sinh. Họ nộp đơn xin chánh quyền và năm sau, 1909, Hội đồng Quản Hạt chấp thuận đề nghị của Bùi Quang Chiêu và các trí thức, về việc xây một ngôi trường dành riêng cho nữ sinh tại Sài Gòn. Do chưa có kinh phí nên Bùi Quang Chiêu là người tích cực đóng góp tài chánh và tổ chức lạc quyên gây qũy xây trường. Bốn năm sau, khi cuộc lạc quyên gom đủ tiền, một buổi lễ đặt viên đá đầu tiên được tổ chức ngày 6/11/1913 với sự chủ tọa của Toàn quyền Pháp tại Đông Dương là Albert Sarraut. Trường được xây dựng trên một khu đất rộng ở đường Legrand de la Liraye, sau đổi tên là đường Phan Thanh Giản (trước 1975 ).
Hai năm sau, ngày 19 tháng 10 năm 1915, Toàn Quyền Roume và Thống Đốc Courbell làm lễ khánh thành. Trong buổi lễ trọng thể này, ban tổ chức đã chọn màu tím làm màu áo đồng phục cho nữ sinh, tượng trưng đức tính đoan trang, kín đáo và khiêm nhượng của người thiếu nữ Việt Nam. Từ đó, trường thường được gọi là "Trường Áo Tím". Bài “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhắc nhở bao thế hệ về một ngôi trường có mặt giữa Sài Gòn gần 100 năm: Trường Áo Tím…! Mười năm trước em còn đi học Áo tím điểm tô đời nữ sinh Hoa trắng cài duyên trên áo tím Em là cô gái tuổi băng trinh…. Ngày khai trường năm đó có bốn mươi hai nữ sinh. Các học sinh đầu tiên của Trường thuộc những gia đình sống ở Sài Gòn và các vùng phụ cận. Dần dần, có nhiều học sinh từ các tỉnh lên học nên Trường bắt đầu có nội trú. Trường có từ lớp Đồng Ấu (Enfantin) tới lớp Cao Đẳng (Superieur). Vào năm cuối học sinh thi lấy bằng Sơ Học (CEP). Trong những năm 1917 - 1922, dãy thứ hai giáp đường Ngô Thời Nhiệm được xây cất song song với dãy phía trước. Các phòng trên lầu được dùng làm phòng ngủ nội trú. Cách một sân cỏ, là một dãy nhà sau, thấp, sát với vách tường rào có bệnh thất, các lớp nữ công gia chánh, phòng giặt và xếp quần áo học sinh nội trú, cuối cùng là nhà bếp. Tháng 9 năm 1922, Toàn Quyền Albert Sarraut cắt băng khánh thành Ban Trung Học Nữ Học Đường. Tấm bảng đá cẩm thạch với hàng chữ đen Collège de Jeunes Filles Indigènes được gắn trước cổng trường. Tuy nhiên tên này ít được biết đến và danh hiệu trường Áo Tím vẫn được thông dụng hơn. Bà Lagrange, vợ một ông Chánh Tham Biện người Pháp, được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng ban trung học. Trường mở từ lớp đệ thất niên đến lớp đệ tứ niên, chỉ thu nhận nữ sinh có bằng Sơ Học và trúng tuyển qua một kỳ thi. Lúc đầu, các nữ sinh đậu vào lớp đệ nhất niên thì hoặc học ban Sư Phạm, sau bốn năm ra làm giáo viên, hoặc theo ban Phổ Thông (cả hai ban đều học một chương trình) để tốt nghiệp lấy bằng Thành Chung (DEPSI). Từ lớp Dự Bị (Préparatoire) tức là lớp Hai bây giờ, học sinh đã bắt đầu học Pháp Văn. Ban Trung Học hoàn toàn được giảng dạy bằng tiếng Pháp. Mỗi tuần chỉ có hai giờ Việt Ngữ. Trong trường học sinh bị bắt buộc phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Mỗi lần bị bắt gặp nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, phải chịu phạt một hay hai xu. Nhưng hình phạt không mấy khi thi hành. • Năm 1926, nhân đám tang cụ Phan Chu Trinh, một phong trào bãi khóa lan rộng từ Nam chí Bắc để tỏ lòng thương tiếc nhà cách mạng lão thành. Học sinh trường Áo Tím nhiệt liệt hưởng ứng đưa đến kết quả một vài nữ sinh bị bắt và bị đuổi khỏi trường. • Năm 1940, vì quân Nhật chiếm đóng cơ sở của trường, rồi sau đó đến quân đội Anh, nên trường dời về trường tiểu học Ðồ Chiểu ở Tân Ðịnh. Cũng trong năm nầy, vì muốn xóa tàn tích Pháp nên trường đổi tên là Collège Gia Long, rồi Lycée Gia Long. Gia Long là tên vị vua thống nhất sơn hà sau thời Trịnh Nguyễn phân tranh, lập ra triều Nguyễn. • Năm 1949, trường xây thêm dãy lầu đường Bà Huyện Thanh Quan để đáp ứng số học sinh ngày một tăng. Niên khóa 1950-1951, là một năm đáng nhớ : lần đầu tiên trong lịch sử trường Áo Tím được đặt dưới quyền điều hành của một nữ Hiệu Trưởng Việt Nam: Cô Nguyễn thị Châu cũng là cựu nữ sinh Nữ Học Đường Gia Long. Cô Châu từ trần năm 1996 tại Pháp.
• Đến 1952, chương trình giáo dục Việt Nam dần dần thay thế chương trình giáo dục Pháp, bài giảng bằng tiếng Việt nhưng học sinh phải học cả hai ngoại ngữ là Anh-Pháp song song. Kỳ thi tuyển vào trường lúc nầy càng khó hơn trước vì thí sinh đến từ khắp nơi trong miền Nam. Thí dụ năm 1971 có 8.000 học sinh dự thi nhưng chỉ có 819 em chấm đậu. • Năm 1953, đồng phục trường đổi từ áo dài tím sang áo dài trắng với phù hiệu là Bông Mai Vàng được may lên trên áo, đồng thời sau đó chương trình giáo dục bằng tiếng Pháp của trường cũng được đổi sang tiếng Việt hoàn toàn. Tên trường Áo Tím từ đây chỉ còn là hoài niệm: Áo em vạt tím ngàn sim. Nửa thao thức đợi nửa im lặng chờ. Yêu nhau từ độ đến giờ. Gặp đây giả bộ lững lờ khói bay • Huy hiệu bông mai vàng với tên trường Gia Long được thêu trên vải rồi may dính vào áo dài, đến khoảng năm 1960 trở đi thì thay thế bởi huy hiệu bằng sắt có thể tháo ra gắn vào khi thay áo dài. • Năm 1964 trường bỏ nội trú. Những dãy lầu từng được dùng làm nơi cư ngụ cho các học sinh nội trú được sửa thành lớp học. Buổi sáng có tất cả năm mươi lăm lớp học từ đệ Tứ đến đệ Nhất (lớp 9 đến lớp 12). Buổi chiều có tất cả bốn mươi lăm lớp từ đệ Thất đến đệ Ngũ (lớp 6 đến lớp 8). Tổng công sáng chiều trường có tất cả một trăm lớp học. Vào khoảng thập niên bảy mươi, kỳ thi tuyển vào đệ Thất mỗi năm có chừng bảy trăm nữ sinh trúng tuyển trong số hơn mười ngàn thí sinh. Trường có độ hai trăm giáo sư và năm ngàn nữ sinh. Trên bước đường phát triển, trường xây thêm: Thư Viện (1965), phòng Thí Nghiệm Lý Hóa (1966), hồ bơi (1968). Các Vị Cựu Hiệu Trưởng (từ lúc sáng lập cho tới năm 1975) - Cô Lagrange 1914-1920 - Cô Lorenzi 1920-1922 - Cô Pascalini 1922-1926 - Cô Saint Marty 1926-1942 - Cô Fourgeront 1942-1945 - Cô Malleret 1945-1947 - Cô Dubois 1947-1950 - Cô Nguyễn Thị Châu 1950-1952 - Cô Huỳnh Hữu Hội 1952-1963 - Cô Nguyễn Thu Ba 1963-1964 - Cô Trần Thị Khuê 1964-1965 - Cô Trần Thị Tỵ 1965-1969 - Cô Phạm Văn Tất 1969-1975 (trích giai phẩm Gia Long Nam California 2000) Tóm lại, tọa lạc ở số 275 đường Phan Thanh Giản, trường Gia Long chiếm khu đất rộng lớn, bao quanh bởi 4 con đường, mặt sau là đường Ngô Thời Nhiệm, bên trái là đường bà Huyện Thanh Quan, bên phải trường là đường Đoàn thị Điểm. Tình cờ mà các nữ sinh Gia Long được hai nữ sĩ Đoàn thị Điểm và bà Huyện Thanh Quan bảo bọc hai bên. Phía đường Ngô thời Nhiệm là cuối trường, có khu bệnh thất sau này có thêm hồ tắm. Cả 3 năm học Sao Khuê chỉ mon men xuống đó thăm bạn nằm dưỡng bịnh có 1, 2 lần nhưng dãy nhà phía đường bà Huyện Thanh Quan lại rất thân thiết với Sao Khuê. Hai năm học liền Sao Khuê đều trụ trì” ở đây : năm đệ tam, Sao Khuê học lớp tam B1 nằm ở phòng chót cùng của tầng trệt dãy nhà này qua năm sau, lớp đệ nhị B1 cũng dãy này nhưng ở trên lầu, lớp học nằm bên phải cầu thang giữa, ngó sang Chùa Xá Lợi trên đường bà Huyện thanh Quan. Qua năm đệ nhất, Sao Khuê chuyển ban, sang nhất A6. Các lớp đệ nhất A nằm
ở tầng trệt phía đường Phan Thanh Giản. Các lớp đệ nhất C và B nằm ở dãy nhà phía đường (nữ sĩ) Đoàn thị Điểm. Sau các lớp học này có phòng thí nghiệm và sân tập thể dục cùng căn biệt thự giành cho hiệu trưởng. Bà Huyện Thanh Quan là con đường đẹp êm đềm với hàng cây nhạc ngựa xanh mướt lá nhất là vào mùa xuân, mùa thay lá ; ngồi trong lớp Sao Khuê hay len lén nhìn qua cửa sổ ngắm lá non của những cây nhạc ngựa (gọi cho văn hoa chứ lũ bạn bảo là cây dái ngựa vi trái nó nâu nhạt, dài giống quả cà dái dê!), lá thuôn dài, xanh mơn mởn rung rinh trên cành trong nắng sớm đẹp ơi là đẹp. Khi nào mình bận học thì nhìn chung quanh… thiên nhiên sao mà đẹp thế, ngay cả những bong bong mưa cũng đẹp, thế mà thi cử xong, rảnh rang có thì giờ để ngắm thỉ chẳng còn thấy đẹp nữa, kỳ không ? Các cô Bắc kỳ nho nhỏ là chúa ăn quà vặt nên từ khi có nhiều Bắc kỳ vào học Gia Long, trên đường bà Huyện Thanh Quan ngay trước cổng chùa cũng đầy hàng quà: xe nước đá, bò khô, chè… mà các nữ sinh vừa giữ xe đạp vừa ăn khi tan học, trái vơi con đường đối diện, đường Đoàn thị Điểm lúc nào cũng giữ được vẻ im lặng (nhờ có nhà bà hiệu trưởng nằm tại đây). Con đường đàng sau, đường Ngô thời Nhiệm có cổng cho các nữ sinh đi bộ ra vào, Sao Khuê chưa bao giờ bén mảng tới. Cổng trước, đường Phan Thanh Giản giành cho nữ sinh đi xe: xe đạp xe velosolex, xe mobylette và ngay cả ai đi xe đưa rước cũng lên xe tại đây. Năm học đệ nhị Sao Khuê được đi xe đưa rước là xe của hiệu đoàn nhưng những nam sinh ở trương khác cứ gọi là xe… bắt chó vì hình thù giống xe bắt chó! Người đẹp nào dám cản mũi cái xe “ bắt chó” vẫn chở Sao Khuê đến trường suốt niên học đệ nhị (1960-1961) đây nhỉ? Quí vị có nhìn thấy bảng tên “Trường Nữ trung Học Gia Long” gắn trên đầu xe không? Quí vị có biết cái gì đây không ? Bàn cầu cơ đó. Lớp học đệ tam B1 như Sao Khuê đã kể, nằm chót lót ở dãy Bà Huyện Thanh Quan ráp ranh dãy Ngô Thời Nhiệm, là một trong số ít lớp học còn lại có cách bố trí bàn ghế đặc biệt cổ lỗ sĩ: bàn học có nắp mở lên đậy xuống thật bất tiện khi lấy tập vở và mỗi dãy bàn ngang được xếp trên một bục gỗ, các bục gỗ nối nhau thành cái thang lớn, dãy chót ở cuối lớp như vậy ở tít trên cao, thày cô đi từ đầu lớp tới cuối lớp thì phải leo lên như leo thang. Học sinh trong trường chẳng biết có ai đã nhìn thấy ma nhưng phần lớn từ các học sinh nội trú truyền ra là dãy Bà Huyện Thanh Quan có ma; ma thường hiện ra chỗ cầu thang từ lầu 1 lên lầu 2, thế là vào cuối năm Sao Khuê học đệ tam, nhân một buổi vắng thầy, ít trò, một số bạn bầy ra trò cầu cơ. Các bạn nói rằng lớp mình đang học nghe nói có ma, rồi hẹn nhau mang bàn cơ và cơ đến cầu. Cơ hình trái tim nghe đâu lấy từ ván hòm, còn bàn cơ thì làm bằng bià cứng và gần chục đứa xúm xít vây quanh, khấn khấn vái vái: Hồn nào ở chốn non bồng Qua đây hồn hãy vui lòng ghé chơi Dầu hồn dạo khắp mọi nơi Ghé đây đàm đạo chuyện đời cho vui… Hay Hỡi hồn ai đó qua đây Khôn thiêng dù trẻ dù già vào chơi
Vào chơi nói chuyện cho vui Nhập vào cái chén cho tôi nói cùng Nhưng chờ mãi, chờ hoài chằng có con ma nào đến nhập cả! Cũng như nhiều bạn, Sao Khuê cứ ngỡ cầu cơ là trò chơi dân Việt Nam, vốn hay tin vào ma quỷ thánh thần nhưng theo tài liệu - cũng của ông Google thì cầu cơ có từ lâu…. Một trong những đề cập đầu tiên đến phương pháp cơ bút (zh:扶乩 là một kiểu cầu cơ bằng cách viết chữ) được sử dụng đã được tìm thấy ở Trung Quốc vào khoảng năm 1100 trước Công nguyên và lần đầu tiên được ghi trong các tài liệu lịch sử của nhà Tống. Toàn Chân đạo đã sử dụng cơ bút như là một phương tiện để liên lạc với những người đã chết hoặc thế giới tâm linh được thực hiện theo một nghi lễ đặc biệt có sự giám sát, cho đến khi nó bị cấm bởi nhà Thanh. Một số kinh sách của Đạo giáo được cho là tác phẩm của cơ bút. Phương pháp cầu cơ tương tự cũng đã được áp dụng rộng rãi tại Ấn Độ cổ đại, Hy Lạp, La Mã và Châu Âu. Cầu cơ (en: Ouija phát âm là "wee-gee" hoặc "wee-ja" là từ bắt nguồn từ tiếng Pháp và tiếng Đức/Hà Lan có nghĩa là "có" (vâng, phải) fr: Oui, và de: ja), là một phương pháp giao tiếp với thế giới tâm linh hoặc những thế lực huyền bí bằng cách sử dụng 1 tấm bảng có viết các chữ và số, và 1 miếng gỗ nhỏ hình trái tim (cơ). Những người tham gia chiêu hồn đặt 1 ngón tay lên cơ sau đó thông qua 1 số nghi thức thần bí để trò chuyện với thế lực siêu hình bằng cách đánh vần các chữ cái mà cơ chỉ đến để tạo thành những câu hoặc cụm từ có nghĩa. Những bàn cầu cơ thường được sản xuất và bán bởi hãng Parker Brothers, nó đã trở thành một thương hiệu khá phổ biến trong lĩnh vực này. Sau khi được giới thiệu ra thị trường lần đầu tiên bởi doanh nhân Elijah Bond vào những năm cuối thập niên 1890, bàn cầu cơ được xem như vô hại và không có gì liên quan đến huyền bí, cho đến khi nhà ngoại cảm Pearl Curran sử dụng nó để tiên đoán trong thế chiến thứ I thì cầu cơ mới trở nên phổ biến. Thiên Chúa giáo chính thống và một số nhà huyền học đã cảnh cáo không nên cầu cơ vì nó có liên quan đến các thế lực ma quỷ. Trong khi những tín hữu của cầu cơ cảm thấy sự huyền bí và siêu nhiên trong hành động cầu cơ, tuy nhiên các nhà tâm lý học đã giải thích sự chuyển động của con trỏ là kết quả của hiệu quả vô thức (ideomotor effect). Mặc dù sự thật đã bị các nhà khoa học lột trần, nhưng cầu cơ vẫn còn rất phổ biến trong giới trẻ. (internet) Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay còn gọi là đạo Cao Đài có Toà Thánh tại tỉnh Tây Ninh hình thành từ phong trào cơ bút.
Đây là xe hoa nhân ngày lễ Hai bà Trưng Hình hai bà Trưng cưỡi voi, vì không nhìn rõ là ai nhưng vào năm Sao Khuê học đệ nhất (1961-62 ) thì nhà trường có tham dự lễ Hai bà với Bạch Yến, hoa hậu Gia Long thời đó cưỡi một voi và Mộng Thúy của Trưng Vương cưỡi một voi. Năm đó Sao Khuê và Hoàng Kim Biên của nhất A6 được chọn đi tiếp tân ở khán đài. Hai năm trước đó thì có 1 năm nhà trường chọn đề tài về thể thao nên xe hoa có Oanh Oanh mặc áo tắm đẹp hết xẩy… Cũng nhờ vào hỏi ông Google Sao Khuê tìm thấy bài về Gia Long của một ông thầy toán Gia Long, Những mái tóc thề phất phơ theo làn gió nhẹ.. Những tà áo trắng tung tăng ve vuốt gót sen hồng.. Khiến ngây ngất thần hồn mấy thầy giáo trẻ.. Cuối đại lộ: dễ ai quên được cái quán Căng Tin, Rặt một luồng hổng nuốt trôi bởi toàn đồ bồi dưỡng Tuổi hoa niên vốn chuộng xoài cóc ngâm dấm đường. Phủ muối trắng ớt đỏ: thôi ngon trác tuyệt! Khô bò, bò biá, nước miá, tùy mùa thay đổi. Phải mua lén các hàng rong quanh chùa Xá Lợi. Bên kia quán, giảng đường cũng là hội trường văn nghệ. Nào kich, nào ca, nào múa: diễn tập mừng Chúa xuân về. Liên hoan lớp để lại nhiều kỷ niệm khó quên nhất. Bánh tét mứt dừa hạt dưa, tiếng cười, ánh mắt, làn môi. Ban báo chí cùng các thầy Văn cũng nôỉ đình nổi đám. Tập báo Tết đón nhận nồng nhiệt vẫn từ các trường bạn. Hồ hởi giao lưu, các chàng tha báo nhà lại bán. Khúc khích cười ngầm bảo: hàng cho không biếu không. Dẫy sau lầu ba ngày trước là các phòng nội trú. Chuyện quậy phá: leo rào, chuyện cầu cơ: trốn ngủ. Chuyện Ma trinh nữ tóc rủ đứng lặng bên cửa sổ.. Chờ đêm hè thanh vắng, thả mình xuống hồ bơi, Dâỹ Bệnh thất biệt lập nằm im lìm như chờ đợi.
Phòng cô Rớt, cô Dung, luôn cửa đóng then cài. Cánh trái sân trường: vùng đất của thể dục, thể thao. Nào bóng bàn, nào cầu lông, nào Thái cực đạo. Bút nghiên thôi không đáng mặt nữ anh hào. Thời ly loạn cũng phải tay cung tay kiếm. Không hổ thẹn với bà Trưng, bà Triệu thuở trước. Phía phải sân trường: phòng hoá học với sàn dốc. Học đi đôi hành làm mực thước cho các bộ môn. Nhà giáo gương mẫu: ai hơn cô Phạm thị Thiệt. Trọn đời giữ khí tiết và cho thế hệ mai sau.. Vòng ngoài khuôn viên là khu nhà giám hiệu. Những biệt thự hai tầng ẩn nấp giữa các lùm cây. Vườn hoa, vườn trái lại ngay bên hông lớp hoc. Như mời mọc, như châm chọc, chỉ một với tay. Chuyện ngắt trái hái hoa xảy ra hàng ngày vì thế. Bà Tất mỉm cừơi bao dung: cảnh nào đẹp hơn đây? Nhớ nhung quá hình ảnh thân thương ngày ấy. Chợt tỉnh mộng hồn còn ngất ngất ngây ngây. Ôi! Vương quốc Gia Long chỉ còn trong giấc mộng. Hoang Huyen, June 2005 Thưa quí bạn, Sao Khuê vừa gửi đến quí bạn phần 1 của “Gia Long ngày ấy” (trường và lớp) mà phần 2 sẽ là “thầy và bạn”. Sở dĩ hai phần vì bài quá dài và sở dĩ có bài nầy cũng tại “con” bạn mà Sao Khuê quí nhất hồi học Gia Long là “bà già trầu” Nguyễn thị Mỹ Hương (sẽ được đề cập ở phần thứ hai); Mỹ Hương vẫn gọi Sao Khuê là “con nhỏ Bắc Kỳ”… rồi hổng nhớ Sao Khuê nhờ bà già trầu chuyện gì mà bà già trầu… bắt địa viết một bài cho tờ báo Gia Long ở Toronto. Sao Khuê bèn nhờ ông Google và copy tài liệu từ internet gửi đến qui vị đọc cho đỡ buồn… Hẹn tái ngộ… phần hai …không biết đến bao giờ… Sao Khuê Nỗi Lòng Tháng Tư Sao Khuê Chiều ngày 28 tháng 2 năm 1985 gia đình năm người Sao Khuê đặt chân xuống phi trường Mirabel của tỉnh bang Quebec thuộc Canada, cách xa thành phố Montréal khoảng 1 giờ lái xe, trong túi chỉ có 2 đồng đô la Mỹ và cái nhẫn mỏng tanh dành để gọi điện thoại khi cần thiết. Bao nhiêu trang sức, tiền bạc, kể cả cặp nhẫn
cưới mà sau này mẹ Sao Khuê bán đi lấy tiền cho các em vượt biên... để lại hết vì nghe nhà nước cấm mà Sao Khuê thì sợ họ làm rắc rối nên... bỏ hết... bỏ hết... miễn đi được thì thôi. Chưa bao giờ chúng tôi đi xa thế và mang ít tiền như thế, chả bù sau này đi du lịch ngoài hai ba cái thẻ còn dấu trong người tiền ngàn... Hình chụp cùng gia đình tại phi trường Tân Sơn Nhất tháng 2-1985 ...... Tới Canada rồi sao? Sao Khuê không mơ chứ ? Đã một lần Sao Khuê nằm mơ thấy được đón tiếp ở nhà anh chị chồng nhưng chỉ là giấc mơ thôi, mong ước chỉ là mộng mà thôi, Sao Khuê vẫn ở trong nhà tù lớn với hàng trăm ngàn băn khoăn lo sợ. Cái nhà tù lớn đang là nhà mình, bị cướp tràn vào lấy mất biến thành nhà tù có đầy rẫy công an, bộ đội gác cho mang tên Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà khi mới bị nhốt, cả tháng sau Sao Khuê vẫn chưa quen: những sáng mai thức giấc sau ngày 30 tháng tư Sao Khuê cứ bâng khuâng không biết tỉnh hay mê, mơ hay thực và sau cùng thì Sao Khuê ao ước được ngủ luôn không bao giờ thức dậy để thấy sự thật não nề... Nhưng cuối cùng thì ...”Em Phải Sống”, Sao Khuê vẫn sống vì ba con nhỏ và bây giờ, chao ôi, sung sướng quá vì sau khi chui ra chui vào, mất tiền mà không lọt, vợ chồng con cái Sao Khuê cũng may mắn thoát khỏi ách độc tài Cộng Sản, ra khỏi nhà tù, tới được miền đất hứa. Tạ ơn Thượng Đế, tạ ơn Trời Phật, tạ ơn Thánh thần ... Nói thiệt quí vị nghe, dù được đi chính thức nhưng những người trên máy bay cũng hồi hộp lắm lắm. Sao Khuê đã từng có người bạn sắp lên máy bay còn bị kéo xuống, đuổi về để tiếp tục “xây dựng xã hội chủ nghĩa” nên mọi người trong máy bay thở phào khi phi cơ hạ cánh an toàn xuống phi trường Bangkok, Thái lan. Lúc đó Sao Khuê vừa mừng vừa tủi, mừng vì từ nay được thở không khí tự do và tủi vì so sánh phi trường Bangkok nhộn nhịp, ngợp trời đèn xanh, đèn đỏ, văn minh hiện đại so với phi trường Tân Sơn Nhất quạnh hưu, lạc hậu mà thương cho đất nước mình từng một thời là hòn ngọc Viễn Đông. Tháng hai, trời còn rất lạnh, lạnh thế nào thì Sao Khuê chưa biết nhưng toàn thể Mít (Anamite, ý nói dân Việt) chúng tôi, những người vừa rời Việt Nam hai ngày trước, sau khi ghé phi trường Bangkok và một phi trường nữa ở Italie thì ngoài mấy cái áo len…chẳng ai có áo lạnh mùa đông cả. Trước khi máy bay hạ cánh, nhiều bà được cho đi đoàn tụ với chồng còn mang áo dài thêu, quần lụa trắng mỏng tanh ra diện sau khi điểm phấn thoa son. Nghĩ lại thật buồn cười cho sự ngây thơ của quí bà quá quí bà ơi. Vừa ra khỏi phi cơ thì Sao Khuê đứng ngẩn người ra nhìn tuyết rơi! Tuyết chỉ mỏng manh rơi nhưng máu lãng mạng nổi lên khiến Sao Khuê dừng chân lại ngắm khiến ai đó đi ngang hỏi bằng tiếng Pháp: “Lần đầu tiên bà nhìn thấy tuyết hả?” Sao Khuê gục gặc cái đầu thay cho câu trả lời vì đang bận ngắm tuyết, chả gì thì cũng là lần đầu Sao Khuê được tận mắt thấy tuyết rơi mà lỵ. Tuyết nhè nhẹ rơi rơi... dĩ nhiên không đẹp bằng cảnh tuyết trắng mù trời trong phim Đốc tờ Zivago nhưng caméra trong đầu Sao Khuê giờ này vẫn còn y cảnh tuyết rơi mỏng manh buồn qua khung cửa ngày 28 tháng 2 năm 1985. Cô chú em chồng và anh chồng - người bảo lãnh cho gia đình Sao Khuê - đến đón đang vẫy gọi rối rít sau khung kính trên cao. Sau khi làm xong thủ tục, Sao Khuê còn nấn ná tài khôn làm thông dịch cho hai bà không biết ngoại ngữ để trả lời những câu hỏi của nhân viên sở di trú dù tiếng Anh hay tiếng Pháp của Sao Khuê chưa đầy lá mít nên ra trễ khiến cô em nhằn là “sao mãi mới ra, khuya rồi đó, mau lên, mai em phải đi làm”. Sau khi dùng cơm tại nhà cô em, gia đình Sao Khuê được đưa về nhà anh Tú Anh, người cha thứ hai của các con của Sao Khuê, người đã tái sinh các cháu, mang các cháu khỏi thiên đường xã hội chủ nghĩa. Gia đình Sao Khuê được giành cho ba phòng ngủ trên lầu: hai con trai chung một phòng, cô con gái có phòng nhỏ và
hai vợ chồng Sao Khuê căn phòng khá lớn với một nhà tắm riêng. Anh chị và cháu gái ở hai phòng mé trái và xử dụng phòng tắm nhỏ. Cháu trai của anh chị độc chiếm basement. Nhà anh chị rộng rãi, khang trang nhưng là nhà cổ ở chân núi nên sàn gỗ kêu cót két, cọt kẹt. Sao Khuê dặn các con là ráng đi nhẹ nhàng nhưng mà... mình càng rón rén nó càng kêu to! Chưa đầy một tuần, chú Long đưa ông xã xệ Sao Khuê đi làm, cùng hãng với chú, dĩ nhiên là làm phu khuân vác: chuyển từng thùng giấy cac tông chúc mừng đủ loại lên kệ, ghi sổ, đánh dấu. Công việc rất nặng nhọc khiến cho anh chàng dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, ôm vài cái cử nhân trong tay, nếu Vi Xi (VC) không vào là về làm phụ giảng ở trường Luật, thì nay phải làm phu khuân vác vất vả, chỉ vài tháng sau chàng còn có da bọc xương, chắc cũng giống như khi ở tù cải tạo, khiến Sao Khuê mủi lòng thương hại, nhường nhịn đủ điều ai dè lâu dần chàng ta càng được thể lên chân! Nghỉ ngơi một tuần cho quen giờ sinh hoạt, chị dâu Sao Khuê, người Ý, chở Sao Khuê đi xin học cho ba cháu. Mang từ Việt Nam sang cái áo manteau mùa xuân màu gạch cua mà ai cũng khen đẹp khi Sao Khuê mặc thử lúc còn ở Sàigon, bây giờ mặc vào trông Sao Khuê quê xệ chẳng giống con giáp nào. Bà chị dâu bảo: - Áo này mặc vào mùa xuân. Thay áo mùa đông đi, áo này không đủ ấm đâu! Sao Khuê phanh cho chị thấy hai lớp áo len, đan tay, mới toanh bên trong: - Không sao, ấm mà chị, em còn hai áo len nữa đây này. Ý-tà-lồ chính gốc, chị dâu đâu biết là bên Việt Nam làm gì có áo manteau mùa đông nhưng chị lại tưởng là Sao Khuê có áo nhưng không muốn thay nên chỉ nhún vai: - OK, mình đi. Chu choa ơi, sao lạnh quá thế này, Sao Khuê run lên cầm cập dù ngồi trong xe có hơi sưởi ấm. Còn con đường, sao nó nó dài thế, con đường Sherbrooke ấy mà, đi mãi, đi mãi mới tới cái gọi là nha học chính (commission scolaire). Bà thư ký niềm nở lịch sự kéo ghế mời hai chị em ngồi: - Mời bà ngồi. Ý Trời đất ơi! Sao họ lại lịch sự như thế với con mán quê mùa, nghèo mạt rệp này nhỉ? Sao Khuê chợt có ý nghĩ so sánh: Ngày mà Đảng dẫn đoàn quân bèo nhèo, mang nón tai bèo, ngheo huyền nghèo, lếch tha lếch thếch như con mèo ướt vào miền Nam, trông như những đoàn âm binh thì bà dược sĩ kiêm giáo sư đệ nhị cấp, vợ “cựu” trưởng khối Quản Trị của Truyền Thanh &Truyền Hình & Điện Ảnh, được các anh mặt mũi non choẹt, hỉ mũi còn chưa sạch, mới mười mấy tuổi đầu, học vấn cỡ lớp ba tiểu học, quát vào mặt mỗi khi Sao Khuê phải gặp họ: - Nhà chị (!) phải lễ phép với cán bộ nhà nước. Sao nhà chị kém văn hoá thế! Còn nữa, ngày Sao Khuê ra đài truyền hình, sở cũ của chồng gặp “ban quân quản” xin lãnh lương trong lúc chồng được nhà nước ưu ái gửi đi học tập thì được cho vào gặp anh Bẩy (Quái, chữ ông, tiếng bà, biến đâu mất hết, ai họ cũng gọi là anh, là chị. Đã vậy họ lại không có tên, chỉ thấy họ gọi nhau anh Hai, chị Ba, chị Tư, anh Năm, chú Sáu, cô Bẩy, chị Tám, anh Chín, chú Mười... bí mật dễ sợ. Cô và chú chỉ giành cho các cán bộ cao cấp và tiếng bác chỉ được dùng cho bác Hồ. Cấp trên họ lại chỉ nói là “Trên” khiến mình chẳng hiểu “Trên” là cái quái gì!) Anh Bẩy nói: - Tôi nói cho chị biết, chồng chị mang tội tầy trời, nay được cách mạng khoan hồng gửi đi học tập. Chị và gia đình phải biết ơn cách mạng (mốc xì! bắt tù mà phải biết ơn). Chị phải báo cáo cho chúng tôi biết những việc chồng chị đã làm, đã chống phá cách mạng như thế nào. Chị phải động viên chồng chị học tập tốt, lao động tốt. Chị phải động viên chồng chị thành khẩn khai báo tội lỗi thì mới được xét cho về đoàn tụ với gia đình (động viên là gửi đi động viên tức đi lính ấy à?) Chị phải hiểu là nhân dân miền Nam ai cũng có tội hết, ngay cả chị bán xôi cũng có tội...
Ủa, bán xôi cũng có tội? Thấy nét mặt Sao Khuê cau lại tỏ vẻ không đồng ý thì anh Bẩy mở lượng khoan hồng giải thích: - Chị phải biết dân miền Nam ai cũng có tội. Không phải chỉ có nguỵ quân, nguỵ quyền mới có tội mà chị bán thuốc (là Sao Khuê), chị bán xôi, chị đổ rác cũng có tội vì góp phần duy trì đời sống và kinh tế cho Mỹ Nguỵ. Mấy thầy cô giáo (cũng là Sao Khuê) cũng có tội vì dạy dỗ, đào tạo học trò chống lại đảng và nước... À ra thế. Mọi người đều có tội. Lạy Chúa con là kẻ có tội - nhưng trong bụng Sao Khuê thì “Hứ, nói càn nói rở, được làm vua thua có tội.” Đấy, Sao Khuê đã được đối xử như kẻ có tội khi còn ở trong nước bởi những người cùng tổ tiên, nòi giống với mình. Suốt mười năm kẻ có tội lúc nào cũng nơm nớp sợ hãi bị bắt, bị tù... thế mà bây giờ sang xứ người ta, Sao Khuê lại được người ta lịch sự tiếp đãi thế này cơ chứ! Sao Khuê đang đi xin xỏ chỗ học cho các con mà lại ăn mặc quê mùa, nghèo nàn như con mọi, thế mà họ, trông lịch sự sang trọng, mà sao họ lại không tỏ vẻ gì coi thường hay khinh khi Sao Khuê cả vậy? Trời đất ơi, sao Sao Khuê lại được những người chủ nhà cho mình sống nhờ mà còn coi mình bình đẳng với họ. Từ lâu lắm Sao Khuê mới được người ta đối được xử như một con người. Cảm giác này làm cho Sao Khuê vừa thích thú, hãnh diện lại vừa hụt hẫng, bâng khuâng... Một người bạn của Sao Khuê gọi tới mách cho việc đi giữ trẻ. Sao Khuê dẫn con gái lớn, mười lăm tuổi đến nhận việc. Bà mẹ cháu bé đón hai mẹ con sao Khuê đến thăm nhà bằng xe hơi và tiễn chúng tôi ra về bằng métro để biết đường hôm sau trở lại. Sao Khuê dặncon: - Con nhớ quẹo phải sau khi đi qua nhà thờ nghe con. Than ôi, ngày hôm sau mẹ con Sao Khuê trở lại thì không biết nhà ở đâu vì trạm métro Laurier này có hai lối ra chứ không phải chỉ có một “bouche” như métro Vendôme gần nơi chúng tôi ở và cả hai đầu đều có nhà thờ, tuy vậy cuồi cùng hai mẹ con cũng tìm đến nhà được sau khi chìa địa chỉ hỏi thăm người đi đường. Mẹ cháu bé cũng đã lo xa nhờ bà ngoại tới trông cháu nếu không thì cô đã phải nghỉ làm. Bà dặn đi dặn lại chúng tôi: - Trạm métro này có hai đường ra. Cô nhớ đi ra theo hướng đầu métro chạy tới thì mới ra đúng đường. Nhưng việc coi cháu bé chẳng lâu vì các con Sao Khuê được nhà trường gọi vào học lớp “acceuil”. Đây là lớp chuyển tiếp dành cho những học trò mới di dân qua mà đa số giờ học là tiếng Pháp, mục đích cho học trò quen lần trước khi chính thức vào lớp. Hai cháu lớn học ở trường Côtes-St-Luc và cháu út, mười tuổi học nơi khác nhưng được xe đưa đón miễn phí tận nhà. Vậy thì đâu là thiên đường nhỉ, Việt Nam hay Canada? Cảm ơn Canada đã mở rộng vòng tay. Sao Khuê bắt đầu mở chiến dịch đi tìm việc làm. Đến đây thì quả thật là gay go. Kinh tế đang suy thoái nên việc làm rất khó kiếm. Sao Khuê đến nhà hàng xin làm phụ bếp nhưng không thấy họ gọi lại. Ông bố nuôi cho Sao Khuê địa chỉ một hãng may. Giữa mùa đông gió thổi mạnh xém tí thì thì lăn xuống chân dốc, Sao Khuê lần mò theo bản đồ métro, tìm ra địa chỉ thì thấy toà nhà cao lớn mà cửa nào cũng đóng im ỉm. Thất vọng vô cùng, Sao Khuê đang tính ra về thì có một bà tới trễ bước vào. Bà dẫn Sao Khuê vào hãng may của bà. Ai giới thiệu bà đến đây ? - Dạ, ông Hải - Ông gì? Henri? - Dạ không, ông Hải. Hai ba lần bà Xếp vẫn không biết ông Hải là ai, thôi thì Henri, Henrette, hết răng, ai cũng được. - Thôi, bà vào may thử đi. Trời đất thánh thần bà con ơi, coi nè, trước khi ra đi Sao Khuê đã học một khoá cắt may, một khoá thảo trình viên (programer), quyết chí bỏ làm thầy (à Sao Khuê đi dạy học môn công dân khi còn đi học dược và sau đó dạy Lý Hoá đệ nhị cấp ngay cả sau khi Vi-Xi vào, Sao Khuê cũng vẫn... đứng lớp, dạy Lý cho lớp mười một. Sao Khuê gõ đầu trẻ gần mười lăm năm nghe bà con) mà làm thợ nuôi con nhưng mà sao cái máy này nó
mạnh như trâu, nhanh như ngựa, chạy cái rầm, khiến đường may xiên xẹo mẹo dậu. - Thôi, bà chưa biết may, bà biết ủi không? Ủi đồ? ai mà không biết cơ chứ. Bà xếp đưa cho Sao Khuê môt lô cà-ra-oắt (cravate) của trẻ con. Trời! cái bàn ủi, móc vào dây điện tòong teeng... mà sao ủi hoài không thẳng, chẳng ra hình thù gì hết!...Thế là Sao Khuê không có việc làm. Ra về mà lòng tan nát, thấy mình bất tài vô tướng, chán nản cùng cực, chẳng lẽ qua cơn bỉ cực thấy hồi tối thui, rồi đây làm gì để nuôi con và nuôi thân, nuôi bố, nuôi mẹ, nuôi em ở Việt nam? Huhu huhu!... Sao Khuê tìm đến một tiệm thuốc của vợ một ông bạn mới quen được ở Việt Nam, do thường gặp nhau trên trụ sở xuất cảnh trên đường Nguyễn Du Saigon để xin việc. Chị rất lịch sự: - Sao Khuê kiếm chỗ nào học cho biết việc rồi trở lại đây, mình sẽ thu xếp sau vì người phụ tá Còi (dân Việt mình hay gọi đùa dân bản xứ Quebecois là Còi) này khó chịu lắm. Ông bạn của chú cho Sao Khuê một địa chỉ nhà thuốc để Sao Khuê xin học việc (dĩ nhiên không lương) nhưng rồi cũng bị từ chối vì Sao Khuê lỡ dại, cả tin mà khai ra là sẽ trở lại làm việc cho chị X. Đấy, số con rệp, ngay đến xin học việc không lương cũng không được nói chi việc đi làm! Huhu ... Một bà bạn thân cũng là đồng nghiệp, Trăng Sáng giới thiệu vào nhà thuốc bà đang làm, Sao Khuê cũng bị từ chối vì quẩn chân người ta. Buồn thúi ruột thì bị bạn la: - Mày làm cái gì mà rối tinh lên thế. Cứ từ từ rồi đâu sẽ vào đó. Mới lên xe bus thì phải đứng, rồi cũng có lúc sẽ có chỗ cho mày ngồi. Ê! Cảm ơn mày nghe nhỏ. Sau này Sao Khuê hay dùng lời khuyên rất chí lý mà khuyên những di dân mới nhập cư khi họ vào mua thuốc trầm cảm. Quí vị nên biết dân Canada dùng nhiều thuốc trầm cảm... nhất thế giới! Những di dân mới tới thì mơ một thiên đường không hiện hữu hay bối rối vì làm sao gánh vác gia đình, còn dân ở lâu thì phát điên - chả thế mà có tên là Canadien - phát điên lên vì mùa đông dài, lạnh, bẩn, trơn, dễ té ngã, dễ bị tai nạn xe cộ, và vì trời u ám: Trời ở nơi đây rất dễ buồn Mùa đông dài lắm giá lạnh luôn Đóng băng luôn mảnh hồn hiu quạnh Như tuyết ngoài kia giá lạnh tuôn... (Ai muốn nghe bài thơ này của Sao Khuê đã được anh bạn đồng nghiệp LKC phổ nhạc và ca thì click vào link này để vừa nghe vừa đọc tiếp) Rồi thì ông bố nuôi dẫn Sao Khuê đi cắt tóc, tự tay đánh giầy (bottes) cho Sao Khuê trước khi dẫn Sao Khuê đến tiệm may nhỏ của một người Việt để học việc. - Con ơi, thế bố ruột của con có đánh giầy cho con không? - Dạ, chưa bao “vờ” bố ạ vì ở Việt Nam con đi guốc Đa kao không hà, mà có đi giày cũng không cần đánh bố ơi, mẹ con thì có đánh nhưng đánh bằng roi. “Bố Vượng ơi! Thương Bố quá à. Bố đang dạo chơi trên cõi Niết bàn hả Bố?” Bản cũ soạn lại, cái máy may chạy như xe lửa tốc hành khiến sau mỗi đường may Sao Khuê lại cặm cụi gỡ ra, may lại. - Công việc hôm nay ra sao ? bà chị dâu hỏi. - Je suis bonne à rien (em thật là vô tích sự), cái máy nó chạy trước, em chạy sau, chạy theo không kịp... - ...À ngày hôm nay thì khá hơn, em đuổi theo nó gần kịp rồi. - Khá hơn hôm qua, coi như em đi cùng máy được.
Vì cứ phải tháo ra tháo vào nên Sao Khuê học may overlock mà ba ngày mà chưa thạo. Sau gần một tuần thì chú Tân, em họ của ba Sao Khuê ra tiệm may tìm Sao Khuê: - Cháu về gấp, thay quần áo cho tươm tất rồi tới trường Collège Français gặp bác Rạng. Bác đã xin được việc cho cháu rồi, mau lên cháu! Sao Khuê vào gặp cha Perron, một trong ba người chủ của trường và với bằng dược sĩ không cần trình ra, Sao Khuê vẫn được cha cho coi phòng thí nghiệm sinh hoá, chưa kể cha còn chắp tay, cúi đầu theo phong tục Việt Nam chào tiễn Sao Khuê ra về khiến Sao Khuê vô cùng bối rối. Cảm ơn cha nhân từ, độ lượng với di dân Việt Nam được nhận vào làm vì cha từng bảo: - Quí vị đừng ngại vì không nói thạo tiếng Pháp. Chúng tôi cần người làm việc chứ không cần nghe quí vị nói tiếng Pháp. “Chắc giờ này cha đang cùng thánh Pierre đi dạo hay cầu nguyện trên Thiên Đàng và Bác nữa, Bác là người cha thứ hai của cháu, cả đời giúp mọi người, Bác chắc chắn đang nơi miền Cực lạc.” Đến đây thì Sao Khuê qua cơn bỉ cực tới hồi thới lai. Biết số phận run rủi như thế này thì tội gì mà lo lắng, vất vả khổ sở tìm việc cả tháng qua. Ê! nhỏ bạn, cuối cùng ta cũng trúng số lô độc đắc, có được một cái ghế trên chuyến xe bus cuộc đời mà cái ghế nhung êm ái nữa à nghe. Sao Khuê được trả lương mười sáu ngàn một năm so với lương tối thiểu ngày đó có 4.25 đồng một giờ. Tiền lương được lãnh hàng tháng kể cả những ngày nghỉ, tháng hè và mỗi ngày chỉ làm theo giờ học trò đi học (nhưng Sao Khuê ngây thơ cứ đến từ 8:30 sáng và 5 giờ chiều mới ra về) nếu tính theo giờ làm thực sự (30 giờ một tuần, 35 tuần một năm vì Sao Khuê được nghỉ hè, Pâques, Noel...) thì... sấp sỉ lương dược sĩ. Công việc làm thì nhàn hạ so với nghề may: chỉ việc bầy Jardin Botanique Montréal Canada mùa hè năm 1986 ra rồi lại dẹp vào những thứ dùng làm thí nghiệm của toàn thể các lớp trong trường về phân sinh hoá (biologie) từ secondaire I đến hai lớp Cégep (college); có khi ba phòng cùng làm thí nghiệm một lúc nhưng với Sao Khuê thì là chuyện nhỏ, nghề của nàng mà. Rửa hàng trăm ống nghiệm hay hàng trăm dụng cụ mổ xẻ, lấy ra xếp vào vài chục kính hiển vi v..v...mà nhằm nhò gì. Ấy nhưng mà cái phần mua dụng cụ hay mượn phim chiếu cho học trò xem thì thật là gay cấn vì phải xử dụng điện thoại để giao dịch. Quí vị biết rồi, mười mấy năm sau khi ra trường, tiếng Pháp của Sao Khuê đã theo Tây về nước, Sao Khuê mới dợt lại cũng chưa đủ sức sí sa sí số. Mặt nhìn mặt nhau tuy bâng khuâng không nói một câu vì lời nghẹn ngào nghệt ra như say như ngây vì ngu nhưng Sao Khuê cũng còn đoán được họ nói cái chi và họ cũng đoán được Sao Khuê trả lời cái gì vì có thể kèm theo ngôn ngữ quốc tế hoa tay múa chân, chứ qua điện thoại - eo ôi, họ đâu thấy con nai vàng ngơ ngác mà nói chầm chậm cho mình kịp hiểu chưa kể đôi khi họ còn... sủa tiếng “Còi” thì ô hô ai tai! (tiếng Còi là cách phát âm tiếng Pháp của người Quebecois giống như cách phát âm tiếng Việt theo giọng Quảng, hì hì khó nghe lắm, chẳng hiểu gì hết trơn). Văn phòng sinh hoá (département de biologie) có bẩy giáo sư, ba bà và bốn ông đều rất tử tế. Sao Khuê thân nhất với bà xếp và cả gia đình bà. Sao Khuê năn nỉ bà xếp gọi điện thoại dùm khi cần mua dụng cụ (tim, ếch, cá, ống nghiệm, kính hiển vi v..v...). Bà vui vẻ làm dùm nhưng ít lâu sau đó thì bà bắt Sao Khuê phải tập nói cho quen: - Hôm nay thì Sao Khuê phải tự mình đặt hàng nhé. Đừng lo, tôi ngồi bên cạnh, có gì tôi sẽ giúp. Trống ngực đánh thùm thụp Sao Khuê run rẩy bấm số. Rồi thì cũng xong, tuy vậy không có bà thầy đố mầy làm nên. Sau đó thì công việc ro ro mà chạy, chạy giỏi nên từ trên xuống dưới, trong ngoài ai cũng quí mến.
Khi vận mệnh đến lúc hanh thông thì cửa nào cũng mở thênh thang. “Chân thành cảm tạ xếp và đường dài hạnh phúc cầu chúc cho người”. Tạm ổn về công ăn việc làm Sao Khuê bắt đầu tìm cách đi học, lấy lại bằng dược sĩ theo lời khuyên của cô em họ cũng là dược sĩ, mặc kệ giấy cam kết không xin hành nghề lại phải ký với di trú Quebec khi được họ cho giấy nhập cảnh. Than ôi, trâu chậm nên uống nước đục. Tỉnh bang Québec và đại học Montréal từ chối cho dược sĩ di dân học lại. Hèn gì họ bắt mình cam kết trước khi cho giấy nhập cảnh... Cửa này đóng thì gõ các cửa khác vây. May quá, cửa nhà nước Canada còn mở. Các dược sĩ có thể xin thi “Board Canada” sau khi thi đậu phần tương đương – Équivalent - sau đó thì có quyền hành nghề trên toàn cõi Canada. Để đậu phần tương đương (équivalent) thì, hoặc xin thi sau khi tự kiếm bài mà học, hoặc xin học một số tín chỉ của đại học Montréal gồm năm cours, kéo dài khoảng hơn hai năm. Con đường thứ hai này tuy chậm nhưng chắc vì lúc đó chúng tôi còn lớ nga lớ ngớ đâu ai biết bài thi hỏi gì mà học... Trong lúc chờ đợi đến đầu niên học để ghi danh thì hai vợ chồng Sao Khuê dầm mưa lội tuyết lạnh run cầm cập mà đi học Anh văn, Pháp văn mỗi tối. Một năm sau thì Sao Khuê ghi danh... đi học. Đi mà không đi vì ban ngày phải đi làm. Lâu lâu có ngày được nghỉ làm thì Sao Khuê lên trường... xem mặt thầy, mang máy ghi âm theo ghi lén nhưng về nhà vẫn chẳng hiểu thầy nói gì!!! Lại huhu... Mọi sự trông cậy vào cô bạn nhỏ gần nhà: cô đi học, cô mượn phần ghi cours của các em Việt Nam cùng học, cô nhanh chân copie khi ra chơi rồi phân phát cho các bạn và cuối tuần tụ tập nhau mà học. Cảm ơn Biển, em đã giúp đỡ Sao Khuê rất nhiều. Nhóm năm sáu người của Sao Khuê giúp nhau (cho copie cours), khuyến khích nhau mỗi khi có người chán nản muốn bỏ cuộc vì phần lớn ai cũng có gia đình con cái phải lo. Hai cái tay của Sao Khuê mỏi rã rời vì tra tự điển, tra tới tra lui, tra rồi ngày mai tra lại vì...quên. Mèn ơi, cái xứ này, bài giảng bằng tiếng Pháp, sách đọc bằng tiếng Anh khiến mình nhiều khi hiểu sai vì cấu trúc tiếng Anh và Pháp đôi khi ngược nhau. Bài ghi sau khi copie thì mờ, lại viết tắt, viết tháu, mở to mắt chưa đoán nổi... Học bài xong Sao Khuê làm thử câu hỏi thì...rớt. Sao Khuê hết hồn. Hoá ra cách học bên này khác bên Việt nam. Ngày Sao Khuê học ở Việt Nam, mỗi năm phải học thuộc lòng cỡ năm ngàn trang chia làm hai khoá thi, chưa kể phần thực tập. Vào thi, lỡ quên, có ai nhắc chút xíu thì chữ lại chạy ra, không thì...thi rớt. Bên này thi theo lối trắc nghiệm nên không có cảnh bỏ giấy trắng ra về, tuy vậy muốn đậu, Sao Khuê phải đổi cách học: học theo chiều sâu, hiểu kỹ để chọn đúng câu trả lời thay vì trải theo chiều rộng như xưa. Tết năm 1985 – trước cửa nhà ở Saigon với hai em Út trai và Út gái Trong lúc đi học thì Sao Khuê vẫn phải đi làm full time, Sao Khuê vẫn phải cơm nước, nuôi con, vẫn phải trả nợ tiền đã vay để vượt biên không thành, trả tiền vé máy bay cho năm người, Sao Khuê cũng còn phải gửi tiền về giúp đỡ gia đình khiến đôi lúc Sao Khuê... phục mình quá, viết thư khoe nhỏ bạn thì nhận được hồi âm: “tao thấy mày giỏi thật hay là mày đóng cái bàn thờ tự động, mày ngồi lên rồi lại nhẩy xuống mà vái mình!” Ngoài những lúc xuống tinh thần, lo âu vì thi cử, khổ sở vì không hiểu bài còn thì ui chao đời sống mới thật là vui vẻ thoải mái nhất là hai tháng hè tha hồ lấy xe bus rong chơi khắp thành phố Montreal hay đi câu cá tận Dorion hoặc họp nhau ăn uống. À không, cuối tuần của hai tháng hè mới được rong chơi thôi vì tuy học trò nghỉ hè thì Sao Khuê cũng được nghỉ làm nhưng năm ngày trong tuần Sao Khuê vẫn đi làm: đi may - lúc này Sao Khuê may nghề rồi nghe - để tiếp tế gia đình chứ. Số vất vả nên mùa hè, nóng chẩy mỡ mà hàng ngày Sao Khuê phải ôm hàng trăm cái
manteau mùa đông bằng dạ, nặng ơi là nặng lên may, may có mỗi một đường ráp gấu thôi vì may theo dây chuyền mà... Ba đứa con của Sao Khuê được nhận vào học trường tư Collège Français miễn phí. Sao Khuê thuê nhà sát cạnh trường, gần nhà chú và nhà bác. Giờ nghỉ trưa Sao Khuê về làm cơm, bốn mẹ con cùng ăn, thế là tiết kiệm được không những tiền xe bus mà cả thời gian di chuyển và cũng không phải trân mình chịu lạnh chờ bus. Ui, ở gần chỗ làm sướng thật, tiết kiệm đủ thứ lại có cơm nóng ăn vào giờ nghỉ trưa. Sao Khuê học thím và bác làm giò chả nên ăn uống thả dàn. Thịt thà bên này quá rẻ, chỉ có rau quả mới đắt thôi... Sau bữa cơm tối thì bốn mẹ con cùng học bài. “Ông càu nhàu” chui vào đại hạn vất vả, vẫn phải khuân vác nhưng cũng ghi danh học đại học Hautes Etudes Commerciales (HEC) buổi tối nên càng ngày càng cẩu nhầu cầu nhầu. Tóm lại cả nhà học. Không có TV, không có phim bộ, không có ăn tiệm, không có đi chơi. Những ngày lễ dài mấy mẹ con mới được sướt mướt theo “giòng sông ly biệt” hay “xóm vắng”... (phim bộ Hồng Kông). Mẹ thì thủ sẵn hộp kleenex, đến đoạn nào mùi thì cà rỡn: “Sửa soạn! Khóc! nên thay vì khóc mấy mẹ con lại cười sằng sặc!” Sau gần ba năm dùi mài kinh sử thêm một năm thực tập không lương, tổng cộng bốn năm Sao Khuê mang giấy hành nghề đi xin việc. Sao Khuê vừa làm phòng thí nghiệm vừa đi bán thuốc, cày hai jobs, đôi khi sáu bẩy chục giờ một tuần, full time ở trường học và khoảng hai mươi, hai mươi lăm giờ làm ở pharmacie nên Sao Khuê không có week-end cũng chẳng có shopping. Khi học trò nghỉ lễ thì Sao Khuê mới được nghỉ nhưng hè thì Sao Khuê lại làm thay cho các dược sĩ đi nghỉ hè khắp các tiệm thuốc xa gần của chaine Cumberland hồi đó. Cầy chết bỏ mà! May quá ngày đó chẳng cần đi chợ. Mua gì thì đặt qua điện thoại, hàng giao tận nhà, Sao Khuê chỉ phải nấu ăn. Con gái rửa chén, ủi đồ, trông cho các em học, con trai giặt đồ, ông bố đi làm và đi học. Ổng dại quá, chọn ngành mới nên học lại từ đầu, rồi ông cũng tối nghiệp đại học Canada, có bằng của HEC nhưng như thường lệ, bằng chỉ để treo! Ngày đầu xin đi làm, trời xui đất khiến, Sao Khuê gọi cho Cumberland, là một chaine pharmacie lớn ngày đó (như Jean Coutu) xin làm ngày chủ nhật. Khi đến để phỏng vấn, sau phần chuyên môn Sao Khuê bị hỏi ba câu ngoài lề: - Tại sao bà đến Canada? - Vì gia đình tôi tị nạn Cộng sản và Canada là xứ tự do. - ? - Sống với Cộng Sản chúng tôi có thể bị cho vào tù bất cứ lúc nào chỉ vì lời nói nào đó!!!! Bà này chưa biết gì về chuyên chính vô sản nên miễn bàn tiếp. - Bà gặp trở ngại gì không? - Có ạ, trở ngại ngôn ngữ. Tôi không nói, không nghe được nhiều tiếng Pháp nhất là tiếng Anh. - Với thời gian bà sẽ khá hơn. Bà còn trở ngại gì nữa không? - Canada lạnh quá sức! - Cái lạnh này thì bà phải chịu cả đời...hắc hắc. Martine cười thành tiếng. Bà Martine nhận cho tôi đi thực tập tiếp trước khi chính thức vào làm và lấy áo trên mắc trao trả tôi như khi bà đã treo manteau dùm tôi lúc đến. Tôi học được một điều: người có học, có đức thường cư xử lễ độ văn minh ngay với cả những người thua kém mình. Càng nhún nhường họ càng nêu cao phẩm giá của họ... …………. ...Thời gian lặng lẽ qua, ba mươi năm rồi đó. Các con của Sao Khuê đã có gia đình và Sao Khuê vẫn đi làm chút chút. Sao Khuê thấy nhiều người gọi nơi mình định cư là đất tạm dung, riêng với Sao Khuê thì Canada là quê hương thứ hai, là chùm khế ngọt dẫu...đông lạnh. Đi du lịch, Sao Khuê rất hãnh diện khoe mình là Canadienne, đôi khi còn cầm theo lá cờ Quebec cho khỏi lạc nhau, vậy mà cũng có người nhận ra lá cờ hoa lys là của tỉnh bang Quebec thuộc Canada khác với cờ có hình lá phong phổ thông của Canada. Dân Quebec
(Còi) rất dễ thương, thân thiện và ít kỳ thị chủng tộc nên các con cháu của Sao Khuê nhất định chọn nơi này làm quê hương mà không chịu kiếm đường qua nước Mỹ ấm áp kế bên. Nhớ lại câu trả lời khi Sao Khuê vào gặp phái đoàn phỏng vấn Canada năm 1985: Tại sao gia đình bà chọn Canada? Tại vì chúng tôi yêu Canada. Hả ? bà yêu cái tủ lạnh Canada ? Ha ha, hắc hắc!!!! ( ông Canadien cười ngất) Dạ phải, thưa quí vị, tôi yêu Canada, cái tủ lạnh khổng lồ...nhưng ước chi mùa đông ngắn đi một nửa và cái lạnh bớt đi một phần ba nhỉ. Khi đó thì thiên đường này chỉ còn chỗ cho mỗi người đứng một chân mà thôi Sao Khuê ơi, mấy người giáo sư đã trả lời Sao Khuê như thế ngày Sao Khuê mới vào làm Collège Français.... Oh! Vive le Québec et Vive le Canada! Sao Khuê Ngày 4 tháng tư năm 2015 Tiếng Kèn Đêm Noel Sao Khuê Tháng 12 năm 1974, mùa đông mang chút lạnh về thành phố Sài Gòn nóng nực. Trong các xóm nhỏ nhiều nhà đã treo đèn ông sao và oang oang từ chiếc “ra dô” là những bản nhạc giáng sinh quen thuộc. Chỉ tới đầu ngõ là Thương Thương đã nghe vang… ”Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời Chúa sinh ra đời nằm trong hàng đá nơi máng lừa”… Thương Thương hát theo nho nhỏ: Trong hang Bê lem ánh sáng toả làn tưng bừng nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng, đàn hát…. Hiên nhà bác Nguyễn đã treo đèn ông sao to tướng sáng choang. Thương Thương bấm chuông. Tố Tố đã xinh đẹp xuất hiện trong chiếc váy trắng như thiên thần:
- Mi diện thế này thì phải lấy taxi thôi…. Xe ngừng trước căn biệt thự trên đường Hoàng Hoa Thám - Đây rồi , hai hoa hoàng hậu giá lâm. Tuyết Minh ra đón hai bạn - Bầy đặt sổ nho, nhè nho ủng. Trẫm miễn lễ, khanh hãy bình thân. Thế là các cô cười oà lên. Ngay lúc đó, một chiếc xe tuy nhỏ mà mới toanh, bóng lộn trờ tới. Tố Tố kéo các bạn qua một bên cho xe chạy vào : - Lần này thì đông cung thái tử điện hạ giá lâm. Cửa xe mở. Chu choa. Trước mặt ba cô là anh chàng Kim Trọng hào hoa phong nhã với con ngựa sắt gồ ghề nhưng thiếu thằng tiểu đồng con con. - Anh Tuấn, anh của mình và đây là hai hoa khôi của trường em, Thương Thương và Tố Tố.. Thương Thương và Tố Tố lí nhí chào. “Người đâu thanh lạ thường, “chân” cao dài trán rộng, hỏi ai nhìn mà không thương” * thật xứng với tên Anh Tuấn. - Chào ba hoa hậu đồng hạng, xin được hộ tống ba cô. Phòng tiếp tân rất rộng, cứ y như trong các phim Tây vì căn biệt thự này do Pháp xây và có lẽ là dinh thự của một quan lớn. Hành lang rộng và dài, sáng choang với những chùm đèn pha lê trong suốt toả xuống từ trần nhà. Cả Thương Thương lẫn Tố Tố đều líu ríu, khớp vì vẻ sang trọng, to lớn của căn nhà. Khó thể ngờ có căn biệt thự lớn như thế. Trước đó Thương Thương đã thấy năm chiếc xe hơi đậu trong sân không kể xe vespa và xe gắn máy. Có lẽ đến hàng trăm người khách, toàn các cô cậu trẻ, trai thanh gái lịch, kẻ đứng người ngồi … Anh Tuấn nhận rượu từ người bồi áo quần hồ cứng trắng bóc trao lại cho ba cô: - Tuyết Minh dẫn các bạn kiếm chỗ ngồi, anh còn đón khách. Anh Tuấn mỉm cười lịch thiệp. Thương Thương tự nhiên thấy ấm ức. Là người đẹp, học giỏi, nàng đi đến đâu cũng có kẻ trầm trồ thế mà Anh Tuấn hình như không để ý lắm tới nàng. Ừ thì vui vẻ, bặt thiệp nhưng cũng chỉ là xã giao thông thường. Hứ, ỷ con nhà giàu, học giỏi đẹp giai… - Chào các bạn, hôm nay nhân dịp ông bà bô vắng nhà, Tuấn mời các bạn đến nghe nhạc và dợt lại cặp giò. Khỏi đít cua đít cáy lôi thôi, xin các bạn tự nhiên. Nào chúng ta bắt đầu. Thương Thương phì cười vì Anh Tuấn cứ tự nhiên tuyên bố không discours, mà Anh Tuấn thản nhiên phát biểu đít cua đít cáy trước mặt bao nhiêu người. Mọi người nhờ đó thoải mái ăn uống nô đùa nhẩy nhót. Qua nhiều bài nhẩy trẻ trung, vui nhộn, ban nhạc chuyển sang nhạc cổ điển. Khi điệu valse trổi lên, Thương Thương thấy Anh Tuấn đến trước một cô thật đẹp, nghiêng mình điệu bộ cứ như một gentlleman chính hiệu để mời nhẩy. Mọi người đột nhiên vỗ tay ầm ỹ. Anh Tuấn dìu người đẹp ra và coi kìa, họ quay theo tiếng nhạc lướt ra hành lang thênh thang và coi kìa, mọi người dạt hết và chỉ còn có Anh Tuấn lướt theo váy xoè rộng cứ như tiên múa rồng bay. Thương Thương cũng trố mắt ra nhìn và chỉ bừng tỉnh khi tiếng vỗ tay rộn rã vang lên. Sau này Thương Thương có dịp tham gia nhiều party nhưng chưa thấy ai nhẩy đẹp như vậy, nhẹ như lướt trên mây. Thời gian như lướt theo. Thương Thương đang mơ màng: - Thưa các bạn, để tiễn các bạn trở về đêm nay, Anh Tuấn xin thổi một bài vui vui đặc biệt tặng các hoa khôi mới gặp. Tiếng kèn vừa dứt, Anh Tuấn - Xin mời quý bạn cùng hát ….. - Còn trong ta, tình bao la. Cuộc đời niên thiếu bừng lên bao ước mơ. Rồi suy tư, lời đêm qua. Dặn lòng hãy nhớ lồi yêu thương nhắn về.
Dặn lòng hãy nhớ lồi yêu thương nhắn về. Mọi người vừa vỗ tay vừa hát vừa cười rồi chia tay ra về trong niềm hân hoan… Tối đó Thương Thương ra về với nhiều bâng khuâng… ”tặng các hoa khôi mới quen” Thế có phải Anh Tuấn muốn tặng cho mình... **** … Nhanh như một chớp mắt, chỉ trong vòng bốn tháng toàn miền Nam mất về tay Cộng Sản Miền Bắc. Gia đình Thương Thương may mắn chạy kịp ra bến tầu và leo lên được tầu Trường Xuân và sau cùng định cư ở Canada. Tố Tố tuy bị kẹt lại một năm rồi cũng vượt biên và định cư ở Úc riêng Tuyết Minh thì vẫn chưa có tin tức gì. Ba năm sau: - Thương Thương ơi, ta có tin của Tuyết Minh rồi, Tuyết Minh đang ở Paris. Tuyết Minh lấy chồng lai Tây nên vừa được qua Tây, ta vừa có số điện thoại của nó nè. Thương Thương gọi cho Tuyết Minh, mừng mừng tủi tủi. - Ba má mình có mua một chiếc tầu khá lớn, đủ mang cả bà con chú bác đi luôn. Cả nhà đã mang quần áo, chăn mền xuống tầu chỉ chờ hễ đi được là đi. Sáng ngày 30 tháng tư chỉ có một mình ba ra thăm tầu ngay lúc chú tài công và cả gia đình chú nổ máy, may quá, ba nhẩy lên kịp, ba ra lệnh cho chú chờ để gọi gia đình nhưng súng nổ quá, chú không tuân lệnh, cứ lái đi. Kết quả là chì có mình ba đi thoát nhưng coi như không mang theo được gì cà vì mẹ mình giữ hết. Tuy vậy ba cũng còn một số tiền gửi ở Thuỵ Sĩ. Ba không qua Mỹ vì ba nói ba ghét Mỹ. Mỹ phản bội đồng minh. Ba đang ở Montreal Canada. Nhà mình bị đánh tư sản ngay đợt đầu. Họ đóng chốt, tịch thu hết và đưa cả nhà lên rừng. May mà ba đi thoát, nếu không cũng bị tù. Mình, nhờ dấu được ít đô la trong người nên sau đó cùng Anh Tuấn đi đi về về Saigon kiếm đường vượt biên nhưng cà ạch cà đụi mấy lần đều không thoát, sau cùng mình nhận lời lấy anh chàng lai Pháp nên được qua Pháp. Mình vừa được tin Anh Tuấn đã tới đảo, đã được phỏng vấn và được chấp thuận cho đi Canada. Khi nào Anh Tuấn tới mình sẽ báo cho Thương Thương biết. Thương Thương mừng lắm, nàng sẽ được gặp lại cô bạn cũ và rất có thể sẽ được tái hồi Kim Trọng không chừng… Mùa Giáng Sinh lại đến ở thành phố Montreal. Khắp nơi đèn màu chiếu sáng nhưng thiếu thiếu cái gì… À thì ra thiếu những tiếng nhạc, những bài ca Noel thường vang ra khắp xóm như ở Sài Gòn thuở xưa. Từ trường, thay vì về nhà thì Thương Thương lại lấy xe xuống thẳng dưới phố. Nàng tò mò muốn biết năm nay thiên hạ mừng Giáng sinh như thế nào. Ra khỏi hầm tầu điện ngầm Thương Thương nghe có tiếng thổi kèn harmonica. Thương Thương hát theo nho nhỏ bài hát quen thuộc
Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời Chúa sinh ra đời nằm trong hàng đá nơi máng lừa… Trong hang Bê lem ánh sáng toả làn tưng bừng, nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng, đàn hát réo rắt tiếng ca, dư âm vang xa đây chúa thiên toà giáng sinh vì ta… Chợt một tia sáng loé lên trong đầu Thương Thương. Đây là một bài hát hoàn toàn Việt Nam chỉ được hát ở nước Việt Nam vào những ngày Giáng sinh, do một nhạc sĩ Việt Nam tên là Hải Linh sáng tác mà tại sao điệu nhạc này lại được trổi lên ở đây, trên đất nước Canada. Lạ thật, lạ thật…Thương Thương quay lại, dáo dác nhìn xem người thổi kèn ở chỗ nào. Chưa kịp tìm ra ai là người đã thổi điệu nhạc quen thuộc này thì bỗng bị một người nào dùng tay che lấy mắt từ đằng sau. Thương Thương lấy tay ra gỡ và quay lại rồi ôm chầm lấy: - Anh Tuấn! trời ơi! em mơ hay là thật đây? Thương Thương gục đầu vào ngực Anh Tuấn mà thổn thức mà nức nở. Một chập sau nàng buông tay ra, mặt đỏ bừng. Thương Thương thấy mình thật kỳ cục. Xấu hổ cho cái hành động của mình. Thương Thương di di chân trên đất khẽ nói: - Em xin lỗi anh, em cứ tưởng không bao giờ còn gặp được anh nữa. - Em không có lỗi gì hết. Anh Tuấn khẽ ôm Thương Thương rồi xiết chặt vào lòng: - Anh vừa mới từ đảo sang được hơn một tháng, sống với bố anh. Tuyết Minh cho anh địa chỉ của em. Anh dặn Tuyết Minh đừng báo tin cho em vội. Hôm nay anh tính đến tận nhà tìm em thì may sao lại gặp được em ở giữa đường. Từ xa anh đã thấy dáng của em, vẫn mái tóc dài như hôm đó tuy nhiên anh cũng vòng ra đằng trước kiểm tra. - Sao em lại không nhìn ra anh nhỉ? - Anh núp mà, anh muốn làm em ngạc nhiên - Mà anh kiếm ở đâu ra cái kèn vậy? Tình cờ thôi. Anh vừa thấy tiệm tập hóa trong metro có bán nên anh mua. Sở trường của anh là thổi kèn mà. - Nhưng lần trước anh thổi Trompette cơ mà. - Thì kèn nào chẳng là kèn Giây phút xúc động trôi qua, Thương Thương chợt cảm thấy mình dường như đi quá đà. Giữa mình và anh ấy đã có gì đâu mà lại ôm nhau, lại thân thiết đến như vậy. Chẳng qua là tha hương ngộ cố tri như nàng lúc mới đặt chân lên Canada vậy . Nếu tình cờ gặp được một người nói tiếng Việt ở ngoài đường thì nàng cũng mừng rỡ hân hoan rồi chạy lại nói chuyện làm như quen nhau từ lâu lắm. Anh Tuấn cũng vậy chứ gì, vừa mới đến xứ người, lại gặp người quen nên cứ rối rít lên chứ như thực sự nào đã có gì đâu… Thương Thương vội từ từ gỡ tay Anh Tuấn: - Em xin lỗi anh lần nữa gặp anh em mừng quá nên có hơi đường đột. - Em nói sao? Vậy mà anh cứ nghĩ…. Hay là anh là kẻ đến sau? Em đã có người khác rồi? - Không, không… em đâu có ai đâu. - Thật không em? - Thật mà, thật mà… thật mà anh. Em không có ai hết. Thương Thương cải chính lia lịa. Anh Tuấn nheo mắt: - Anh không tin, người vừa đẹp vừa học giỏi như em mà không có ai theo thì thế giới này hoà bình từ lâu rồi. Thương Thương rơm rớm nước mắt nhưng lại phì cười khi thấy Anh Tuấn đang nheo mắt tinh nghịch nhìn nàng. Nàng đấm nhẹ vào ngực Anh Tuấn rồi ngả đầu vào vai anh, bờ vai nàng hằng chờ đợi: - Anh thiệt!…Lúc nào cũng giỡn được hết. Em nhớ lúc mở đầu party Giáng Sinh ở nhà anh….Diễn văn gì mà kỳ cục… Anh Tuấn lại ôm nhẹ ngang hông Thương Thương: - Vào đây với anh một tí. Hai người bước trở vào metro, đến trước cửa hàng, Anh Tuấn lựa một bó hoa hồng nhỏ….Hai người đi bộ đến một công viên gần đấy. Anh Tuấn trao cho Thương Thương bó hoa rồi vòng tay qua ôm Thương Thương:
- Anh yêu em …Thương Thương chỉ biết ngước mắt nhìn khuôn mặt người yêu tuy phong trần hơn nhưng vẫn còn nét hào hoa. Nàng nhắm mắt và nụ hôn đọng lại trên mi một lúc lâu sau đó dừng lại trên bờ môi vừa hé mở đợi chờ… Thương Thương đưa Anh Tuấn về nhà để chào ba má nàng. - Thưa ba má, đây là anh Anh Tuấn, anh của Tuyết Minh bạn con. Anh vừa từ đảo sang. Ba má Thương Thương cũng rất mừng, tíu tít hỏi chuyện không ngớt nào là tình hình ở Việt Nam sau khi bị mất nước nghe nói là rất là khổ sở khiến bao nhiêu là người vượt biên rồi tình hình bên trại tị nạn và tình hình của gia đình… Sau đó bà hỏi: - Thế cháu có quyết định gì cho năm nay chưa? đi học lại hay đi làm? - Ba cháu có mở được một quán ăn. Cháu nghĩ cháu sẽ giúp ba cháu trong thời gian này đồng thời đi học thêm sinh ngữ để sang năm trở lại trường. Xứ này nói hai thứ tiếng nên cháu cần học thêm về tiếng Anh. - Em cũng đã từng khổ sở vì gần như câm, ú a ú ớ mãi anh ạ. Nhiều lúc khi gặp khách thì em nói luôn ba thứ tiếng khiến khách hàng cứ tròn xoe mắt. Em nhớ nhiều kỷ niệm vui vui như thuốc vitamin Penta 3 B, khi khách vào em thản nhiên đọc là “Penta ba Bê”… **** Năm năm sau: - Ba sắp về, ba Bê mau vào rửa tay và làm bàn ăn nà. Anh Tuấn buồn cười vì kỷ niệm dễ thương mà Thương Thương hay nhắc nên ba thằng nhóc điều mang tên Bê. Bê hai, Bê ba nhưng cu Bê một thi cứ bị trêu là Bê mọt. Cả ba Bê đều đẹp như thiên thần và đang chờ em gái chào đời… Sao Khuê 2025 Mùa Giáng sinh
Vào Nơi
Gió Cát: Ai Cập Huyền Bí Sao Khuê Phần thứ nhất: Rời thủ đô Athène, Hy Lạp vào mùa hỗn loạn (19 tháng 5 năm 2010 - hỗn loạn vì từ gần 1 tháng nay dân Hy Lạp đình công rồi tổng đình công: làm ít, nghỉ nhiều, tiêu xài nhiều nên phải vay nợ tứ tung đưa đến lạm phát khiến cho đồng Euro xuống giá thê thảm nhưng dân chúng vẫn đình công đòi tăng lương!…) Sao Khuê và phái đoàn du ngoạn đến Caire, thủ đô Ai Cập vào chiều ngày 19 tháng 5 năm 2010. Thật là hú hồn vì nếu đi trễ một ngày thôi thì sẽ bị vướng vào vụ tổng đình công lần thứ hai của Hy Lạp, lúc đó làm sao có thể thăm Ai cập huyền bí được... Chưa đến nơi mà cậu con trai dặn đi dặn lại ….là ‘mom’ không được hỏi han ai hay làm gì mà không cho con biết v.v.. cũng chỉ vì nghe đồn cái xứ này là tổ sư kỳ thị đàn bà, lôi thôi là họ dám thưa mình ra tòa để đòi bồi thường thêm vào đó vừa mới lên máy bay rời Athène bởi Egypt-air (đi hãng máy bay khác e họ …đục cho bể đầu) là hành khách đã được phát ngay một cẩm nang ‘Egypt Treasures’ mầu đỏ với hàng chữ ‘Welcome to Egypt’ mà tờ thứ nhất là để khai với quan thuế, và mặt sau tờ bìa thì đầy hứa hẹn: * Phi trường Cairo sẽ cung cấp cho bạn những dịch vụ đi và đến với những phòng đợi hạng nhất và hạng thường. * Nguyên tắc của phi cảng Cairo là giản dị khiến bạn không thể quên được… Nhưng sau đó là những dặn dò: * Egypte thường thì rất an toàn và thân thiện nhưng dù sao bạn nên cẩn thận đề phòng đừng phô trương khiến ai đó chú ý đến nữ trang, bóp bạc, máy ảnh của bạn và đừng có lang thang một mình trong sa mạc. Hãy giữ gìn cẩn thận giấy tờ và luôn giữ trong người địa chỉ những nơi để liên lạc khi cần đến. Người Ai Cập thường hiếu khách, sẵn lòng giúp bạn khi được hỏi thăm… Nhưng coi chừng nè: * Quan hệ giữa nam - nữ không giản dị, lộn xộn có thể bị phạt, chớ có vớ vẩn ôm hôn nhau thắm thiết như Tây như Mỹ ….. Nói vắn tắt thì Ai cập rất đông du khách vì đây là nước lưu giữ được nền văn minh cổ xưa và rực rỡ nhất của nhân loại. Nằm ở đông bắc châu Phi, bên lưu vực sông Nil, cổ Ai cập được thành lập từ 3200 năm trước công nguyên (3200 Bc) bởi pharaon Menes, người đã cho xây thành Memphis làm kinh đô. Tổng cộng có 30 triều đại mà từ 3200 Bc đến năm1078 Bc là Tân vương triều (nouvel Empire = New Empire bắt đầu từ triều đại 18 tức 1543 Bc đến triều đại 20 tức năm 1078 BC) gồm 20 triều đại được coi là quan trọng nhất. Ai Cập bị sụp đổ cuối vương triều 30, năm 343 Bc dưới sức tấn công của người Ba Tư, vị pharaon cuối cùng là Nectanebo II phải thoái vị, khi này Ai cập đã cho đào kinh Suez để nối liền Biển Đỏ (mer rouge) với biển Địa Trung hải, nhưng Ai cập suy thoái dần, lần lượt bị Hy Lạp và La Mã, Byzantine rồi lại Ba Tư cai trị. Ốc đảo Ai cập màu xanh trên nền cát vàng của sa mạc Đến thế kỷ thứ 7, người Ả rập Hồi giáo đã đưa đạo Hồi và tiếng Ả rập tới Ai Cập. Những quan cai trị Hồi giáo do Khalip chỉ định nắm quyền cai trị Ai cập trong 3 thế kỷ ; tiếp đó là thời đại tự chủ với những Thống
đốc cha truyền con nối. Từ năm 868 có 3 triều rất hùng mạnh là Fatimid (Ai cập trải dài từ Maroc đến Syrie), Ayyubit (thắng được liên quân các nước tây Âu), Mamluk (thắng được Mông Cổ và các nước tây Âu ). Từ năm 1517 Ai Cập bị lệ thuộc đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ kỳ, đến năm 1869 lại cùng lúc chịu sự kiểm soát của Anh, Pháp do gánh nợ gây ra bởi kinh đào Suez. Ai Cập giành lại độc lập từ người Anh năm 1922 nhưng Anh vẫn giữ quyền kiểm soát, tình hình chính trị không ổn định mãi đến 18 tháng 6 năm 1953 nước Cộng hòa Ai Cập được thành lập do tướng Muhammad Naguib làm tổng thống, sau đó bị Gamal Abdel Nasser đảo chánh và nắm quyền tổng thống năm 1954. Nasser quốc hữu hóa kinh đào Suez gây ra cuộc khủng khỏang Suez năm 1956. Từ 1958-1961 Nasser xây dựng liên minh với Syria thành Cộng hoà Ả rập thống nhất. Năm 1967, sau chiến tranh 6 ngày, Ai cập mất bán đảo Sinai vào tay Israel. Nasser chết và Anwar Sadat kế vị. Chiến tranh tháng 10, Ai cập cùng Syria bất ngờ đánh vào Israel nhưng lại bị cả Hoa Kỳ lẫn Liên Xô can thiệp đưa đến thỏa thuận ngừng bắn, Sadat bị ám sát năm 1981, từ đó đến nay tổng thống Ai cập là Hosni Mubarak. Dù là một nước nhỏ nhưng Ai cập rất đông du khách. Người ta đến để chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc độc đáo, đồ sộ có từ ngàn xưa mà còn lưu lại dấu tích đến ngày nay. Người ta vẫn gọi là Ai cập huyền bí vì đến bây giờ người ta vẫn chưa làm sao giải thích được người Cổ Ai Cập lại có thể dựng nên những đền đài, những kim tự tháp vĩ đại với nhưng tảng đá to lớn nặng nề xếp khít trên nhau, những tượng nhân sư (phrinx) khổng lồ tạc từ núi đá, những hầm mộ với những điêu khắc tinh vi, tỉ mỉ viết lại trang sử oai hùng huyền bí của ngàn xưa …. Sông Nil Máy bay rời biển và vào đất liền.Từ trên máy bay nhìn xuống chỉ thấy chập chùng những đồi núi đá nối tiếp nhau trải dài qua khỏi tầm mắt… Phi cơ xuống thấp hơn, vẫn chỉ thấy núi đá và núi đá sau đó là sa mạc với cát vàng tiếp sau đó là vùng có người ở, nhà cửa cây cối trải dài hai bên một dải sông xanh: con sông Nil, mạch máu của Ai cập. Người ta bảo Ai cập là tặng phẩm của sông Nil, Ai Cập sở dĩ tồn tại được là nhờ sông Nil, không có sông Nil thì khẳng định không có Ai Cập và không có nền văn minh rực rỡ ngàn xưa mà ngàn sau cũng khó mà có được như thế. Thật vậy, giữa vùng sa mạc mênh mông xuất hiện con sông Nil mà hai bên bờ sông là một ốc đảo rộng lớn: Ai cập. Ốc đảo này chỉ dám men theo con sông, chỗ hẹp chừng 700m, chỗ rộng nhất là vùng châu thổ sông Nil từ đông sang tây đo được 240km.(Trong sa mạc mênh mông đó cũng xuất hiện vài ốc đảo khác nữa ….) Được coi là con sông dài nhất trên thế giới với chiều dài 6600 km, sông Nil có hai nguồn: một từ Burundi và một từ Rwanda. Từ Burundi ở độ cao 1134 m, hai con sông nhỏ Kagera và Tanzani hợp lại thành sông Luvironza chảy vào hồ Victoria, tại đây nó mang tên là Nil Victoria, sau đó chảy qua hồ Kyoga tới hồ Albert (cùng với sông Samliki do 2 sông Edouard và George hợp lại mà thành), tại đây người ta gọi nó là Nil
Albert, tiếp tục chảy qua biên giới Soudanaise thì mang tên mới là Nil Blanc. Tại Khartoum, thủ đô của Soudan, Nil Blanc hợp với Nil Bleu đến từ Éthiopie thành ra sông Nil chảy qua sa mạc Nubie và Haute- Egypte, tạo thành một loạt 6 thác nước. Từ thác thứ 2 là địa phận của Ai cập,ở đây hình thành một dải lụa xanh giữa hai sa mạc mênh mông: đó là Ai Cập và sông Nil. Khi đến Caire, sông Nil chia làm hai nhánh tạo thành một vùng châu thổ dài 200 km trước khi đổ ra biển Địa Trung Hải ở Alexandra. Sông Nil như vậy chẩy qua 10 quốc gia: Rwanda, Burundi, Coya, Taranie, Kenya, Ouganda, Ethiopie, Erythrée, Soudan và Égypte. Dọc theo sông Nil có nhiều thác, kể từ thác thứ 2 về sau thuộc về Ai cập.Thời thượng cổ sông Nil giữ nhiệm vụ chủ yếu về di chuyển, kinh tế, xã hội, trồng tỉa, nông nghiệp, tôn giáo của Ai cập. Phù sa của sông Nil đã nuôi sống Ai cập từ ngàn xưa. Trước kia người ta không hiểu vì sao nước không dâng lên sau khi tuyết tan mà đợi đến tháng 6 nước sông Nil mới dâng mang phù sa đổ tràn ngập ruộng đồng nhưng sau khi dò ra nguồn gốc của sông Nil, ngươì ta thấy rằng những con sông gốc của sông Nil đã được đổ đầy cặn bã cũng như nước mưa nhiệt đới ở Éthiopie và hồ Victoria để đến hẹn hàng năm, vào tháng 6, nước sông Nil dâng lên, mầu xanh lá cây của nước ở Nil Blanc thành ra mầu đỏ vì chứa đầy phù sa đen tạo thành những trận lụt tràn vào để bón cho ruộng đồng. Người ta bắt đầu gieo hạt và đến cuối năm hay đầu năm sau là thu gặt. Ngày nay dọc theo sông Nil người Ai cập đã xây nhiều con đập mà quan trọng nhất là đập Assouan xây vào năm 1970. Để xây con đập này người ta phải dời chỗ nhiều di tích cổ nhất là đền Abou Simbel đã bị chìm hẳn trong lòng hồ Nasser. Nhờ đập này dân Ai cập có nhiều điện để xử dụng nhưng ngược lại họ dần dần mất đi nguồn phù sa thiên nhiên, nước bị giữ lại trong hồ, khi bay hơi chỉ còn là muối khiến ngày nay họ đã phải dùng phân bón hoá học vừa đắt vừa ô nhiễm! Nếu Ai câp là tặng phẩm của sông Nil thì ngược lại Thượng Đế đã tặng sông Nil cho dân Ai cập nên một trong những nhiệm vụ chính yếu của các pharaons là phải bảo vệ tặng vật linh thiêng này, dần dần người ta hợp nhất Thuợng đế là nước sông Nil, nước sông Nil là Thượng đế nên quan điểm của người Ai cập về vũ trụ được diễn tả qua sự di chuyển con thuyền của thần Mặt Trời: Mặt Trời đi lên bầu trời vào ban mai, tối đến đi thuyền vào nước ngầm dưới mặt đất để sáng sau lại hiện ra ở phương Đông. Những pho tượng của những ‘mục sư’ khi tế lễ cho thấy họ cũng rước tượng thần linh xuống thuyền mà làm lễ. Vì phương tiện để di chuyển là sông Nil nên trong những ngôi mộ lúc nào cũng có những con thuyền khi thì thu nhỏ khi thì lớn bằng thuyền thật để cho người chết- nay đã bước sang một đời sống khác - vĩnh cửu - đi lại. Thuyền thường làm bằng gỗ cèdre lấy từ Liban…. Luxor Rời Athène lúc 14.30h ngày 19 tháng 5, Sao Khuê tới Cairo vào 16.30h, vội vàng làm visa nhập cảnh và lấy vé máy bay để bay tiếp đến Luxor vào lúc 19.15h. Phi trường Cairo sạch và đẹp và do …hết vé bình dân, 8 người được hân hạnh ngồi vào vé hạng nhất... Khi xuống khỏi máy bay ở Luxor lúc 20.15 h sau 1 giờ bay, Sao Khuê thấy có một xe ‘van’và một xe bus chờ để chở người từ máy bay vào phòng đợi ( ở Grece và Egypte luôn luôn có xe bus để chở người từ phi cơ vào phòng đợi chứ phi cơ không đậu sát phòng đợi như Canada ) ; quen thói, cả lũ 8 người leo lên xe bus, tài xế vội vàng đóng cửa chở có 8 người và xe van chỉ có tài xế thì chạy theo họ tống ! đúng là VIP nhà quê…! Theo đúng hợp đồng với Memphis tour, xe đến đón và chở thẳng về khách sạn. Trên đường từ phi trường về khách sạn, Sao Khuê thấy có nhiều người tà tà đi bộ hóng gió, họ đi ra hướng bờ sông, thường mặc bộ áo dài trùm kín người, đen hay trắng. Thành phố có vẻ yên tĩnh, nhiều người đi bộ hơn là đi xe. Người guide cho biết là dân số Luxor chỉ có chừng 4-500 ngàn so với Cairo là 22 triệu ! Luxor chính là thủ đô Thèbes ngày xưa của Ai cập. Thèbes là thành phố của thần Amon-Ra. Luxor là đất của thần Amon, có vợ là thần Goddess Mut, con
là thần Khonsu tức thần mặt trăng. Amon sau đó được cho liên kết với thần mặt Trời là thần Ra làm thành vua của các vị thần, Amon-Ra được thờ ở Karnak. Montuhotep II đã thống nhất Ai cập - Thượng Ai cập và Hạ Ai cập - thành lập 30 triều đại đế vương mà Luxor là thủ đô cực thịnh vào triều đại 18-20 (trước kỷ nguyên viết tắt la bc). Luxor qui tụ nhiều dân tứ xứ như dân Babylonians, Mitanni, Hittites… Sử chép là hoàng tử của Hittites cũng đã lấy bà vợ góa của vua Tutankhamon làm vợ. Là thành phố nằm hai bên sông Nil nên người ta chia ra đông và tây Luxor ( West và East bank ). Di tích lịch sử ở East bank có: Luxor Temple Luxor International Airport Karnak Temple Luxor Museum Mummification Museum Winter Palace Hotel Còn ở West bank thì có: Valley of the Kings Valley of the Queens Medinet Habu (memorial temple of Ramesses III) The Ramesseum (memorial temple of Ramesses II) Deir el-Medina (workers' village) Tombs of the Nobles Deir el-Bahri (Mortuary Temple of Hatshepsut, etc.) Malkata (palace of Amenophis III) Colossi of Memnon (memorial temple of Amenophis III) Khách sạn Shératon nằm ngay bên sông Nil, từ cửa sổ nhìn ra thật là mát mắt, cảnh bên sông rất nên thơ, mộc mạc y như cảnh miền Hậu giang, hàng cây chà là lá rủ đong đưa y hệt như những cây dừa quê nhà… Nhớ sao là nhớ Việt Nam yêu ơi ! nhưng mà phải lấy phòng, đi ngủ để mai sớm còn đi chơi. Theo chương trình đã thỏa thuận với Memphis tour, sáng sớm xe đến đón 8 người. Cô hướng dẫn viên có vẻ là gốc người Ả Rập, tròn quay vơi cái mặt miếng bầu và khăn trùm kín đầu. Cô đeo cặp mắt kiếng to tổ chảng, đến lúc cô dở mắt kiếng mới thấy đôi mắt trong xanh và to như đèn ô tô. Đại đa số người Ả rập đều có cặp mắt xanh, to nhưng vì phần lòng đen hơi nhỏ, thiếu mất nét hiền dịu thơ ngây mà thành to thô lố! Vì la cà ở Hy Lạp, Luxor chỉ được giành có 1 ngày 2 đêm nên phần thăm viếng có hơi vội vã: trong 1 ngày ! Đúng là..cưỡi phản lực xem hoa, nhưng mà ai ơi, nóng lắm, có cho ở thêm cũng chẳng ham nên ra về không hẹn ngày trở lại!
Xe van chở 8 hành khách cùng 1 người guide chạy qua những con đường nhỏ như nhưng con đường ở miền tây VN ngày nào. Cành dừa cùng những cành hoa phượng đỏ đẹp tuyệt vời … Xe băng qua vài công viên, qua cầu rồi đi vào vùng sa mạc đến thăm Valley of the King và Valley of the Queens, đền nữ hoàng Hatsheput, Colossi of Menon, memorial temple of Amenophis III, Karnak temple. Thăm 3 hầm mộ nhà vua rồi qua thăm 3 hầm mộ bà hoàng. Trời nắng chang chang.. Các hầm mộ được xây trong núi đá vôi. Qua cái cửa đi vào như cái cổng tò vò là cầu thang dài đưa người ta xuống..mộ! Vào trong rồi đi theo hành lang dài, hai bên hành lang có điêu khắc màu, nổi bật là mầu xanh, qua 5000 năm vẫn còn tồn tại dù đã nhạt nhòa với thời gian. Gần cuối đường hầm thường có những phòng nhỏ trước khi đến mộ, nhiều nơi trên trần cũng điêu khắc hình vẽ và chữ viết, nhờ vậy ngươì ta dò ra lịch sử của Ai cập ngày xưa…. Sơ lược lịch sử Ai Cập: - Từ 7000- 3000 bc: thời kỳ tiền sử - Từ 3000 bc : Vua Narmer thống nhất thuợng Ai Cập ( Từ Assouan đến Caire) và hạ Ai cập (châu thổ sông Nil- Alexandra), thành lập quốc gia, có triều chính, niên lịch, chữ viết, cho xây mồ bằng gạch ở sa mạc Abydos. - Từ 2670- 1550 bc : Cổ Ai cập và các thời kỳ giao tiếp. - Từ 1550 – 1075 bc : Tân vương triều ( gồm các triều đại 18-19-20 ) * Vương triều 18: - Ahmosis tức Aménophis I là con của Hapou, kiến trúc sư của vương triều đã thống nhất được đất nước sau ‘chiến tranh giành độc lập’, lên làm vua 25 năm sau đó truyền ngôi cho con là Amenhotep Ier. - Không người thừa kế, ngôi vua truyền cho Thoumosis I rồi Thoumosis II, ông vua này lấy người em gái cùng cha khác mẹ là Hatchepsout, khi chết đi truyền ngôi cho con là Thoumosis III còn rất nhỏ nên bị bà dì cũng là má lớn Hatchepsout giành quyền. Bà tự xưng làm vua: pharaon nữ Hatchepsout mãi sau ngôi vua mới trở lại Thoumosìs III, rồi truyền cho con là Amenhotep II, thời kỳ này ít chiến tranh. Kế nghiệp là Amenhotep III còn gọi là Aménophis III rồi Amenhotep IV hay Aménophis IV tức là nhà vua cách mạng phản tôn giáo Akhénaton. Nhà vua này chỉ có con gái với bà vợ chính nên ngôi vua về tay con rể là Toutankhamoun (thực ra Toutankhamoun cũng là con trai vua Akhénaton với bà vợ thứ nhưng do cưới được cô công chúa thứ 3, con hoàng hậu, tức người chị cùng cha khác mẹ thuộc dòng chính nên được đưa lên làm vua) nhưng quyền hành thực sự ở tay Ay,giám đốc hoàng cung và đại tướng Morembeb. * Vương triều thứ 19 Pharaon Toutankhamoun chết năm 19 tuổi, không có con nối dõi nên Ay ( có thể là cha của Néfertiti, vợ của Akhénaton ) không phải là người hoàng tộc lên làm vua. Từ đây ngôi vua không còn trong tay hoàng tộc nữa. Ay không có người nối dõi, ngôi vua truyền cho Paramsès tức Ramses I, sau đó truyền cho con là Ramsès II. Ramsès II là người oai hùng nhất trong lịch sử Ai cập, người cho xây nhiều công trình vĩ đại nhất như đền Abou Simbel, Rameseum, Pi-Ramsès v…v… và là người trong 15 năm chiến đấu chống Hitities với chiến thắng nổi tiếng Qadesh sau đó lại mưu cầu hoà bình bằng cách cưới con vua Hitities. Ramsès II nhường ngôi cho con trai thứ 13 (với người vợ thứ) là vua Méremptah khởi đầu cho vương triều 20 * Vương triều thứ 20 Gồm các pharaons Ramsès III, Iv, …cho dến Ramsès XI - Từ 1075 bc – 650 bc: thời kỳ suy thoái - Từ 664 bc …. : thời kỳ bị đô hộ Các pharaons, các ông hoàng bà chúa… khi chết đi đều được ướp xác rồi để vào những hầm mộ.
Sao Khuê vừa tóm tắt cho quí vị biết sơ sơ về cổ Ai cập, bây giờ xin mời quí vị dấn bước tang bồng cùng Sao Khuê đi thăm một vài đến đài, hầm mộ cũng như nhà triển lãm ở Ai Cập nhé ……. Hầm mộ Pharaons nằm ở Valley of the Kings Valley of the kings Trong hầm mộ Sáng sớm đoàn được đưa đến Valley of the Kings, thăm tượng trưng 3 hầm mộ, sau đó đến Valley of the Queen, thăm 3 hầm mộ nữa.Trời thì nóng nên guide nói, guide nghe, Sao Khuê nghe câu nọ lọt câu kia nhưng mà sợ gì, về mở Google với ra thư viện là có hết. Khi chưa đến nơi thì nhìn vào internet chả hiểu gì nhưng đi qua rồi, về nhìn lại, chu mẹc ơi, Sao Khuê say mê đọc sách và vào net( để kể cho quí vị đây) vì hấp dẫn quá. Đây là vùng thung lũng trong sa mạc nằm phía west bank (bờ tây sông Nil), được thành lập từ Tân Vương triều - New Kingdom ( 18-20 dynasty hay thế kỷ 16-11 BC, thời hoàng kim nhất trong các triều đại), Valley of the Kings được khám phá từ cuối thế kỷ thứ 18 sau JC và mới đây người ta tìm thấy hầm mộ của Toutankhamom, nơi đây được công nhận là di sản cửa thế giới từ năm 1979.Trong tập Welcome to Egypte, người ta có nói đến Toutankhamom. Với lý lịch lờ mờ vì người ta chưa xác định được ngài là con của vua Amenophis III hay IV ( tức Akhénaton ). Lên ngôi lúc còn rất trẻ, mới có 9 tuổi, với tên hiệu là Tout Ankh Aton có nghĩa là ‘ hình ảnh sinh tiền của Thượng Đế Aton, sau đó ngài trở lại đa thần, thờ thần Amon nên mang tên Toutankhamon…. Dở ngược trang sử, sau khi lên làm vua, các pharaons cho người đi tìm nơi để làm hầm mộ. Người Ai cập tin rằng hầm mộ là nơi sống vĩnh cửu sau khi rời cuộc sống thế gian. Hầm mộ thường được đào trong những núi đá vôi ở nơi xa xôi hẻo lánh trong sa mạc để..khỏi bị làm phiền, dễ đào và dễ khắc chữ, khắc hình tượng lên đó v.v... Người Ai Cập tin ‘sống gửi thác về’, cuộc sống sau khi chết đi mới là cuộc sống trường tồn vĩnh cửu nên việc xây hầm mộ thực hiện ngay khi nhà vua mới lên ngôi. Họ cho đào trong những núi đá vôi những con đường đi xuống sâu thật dài, hai bên hành lang này có nhiều phòng nhỏ chứa những vật dụng khi còn sinh tiền, trên trần và dọc theo hành lang có điêu khắc nhiều hình vẽ, chữ viết Cổ Ai cập, kể lại đời sống của người nằm trong mộ. Trong Valley of the Kings có 63 hầm mộ của vua Thoutmosis I, vuaThumose I (hai ngôi mộ đầu tiên trong Valley of the Kings ) và các pharaons Ramesses và các vị giòng dõi quí tộc vua chúa. Hầm mộ của pharaon Toutankhamom, là hầm mộ được ghi số 62 ở Valley of the Kings được Howard Carter, người Mỹ, tìm ra tháng 11 năm 1922
Người Ai cập tin rằng Toutankhamom là con của vua Aménophis IV (tức Akhenaton, vị pharaon bị coi là người tà giáo vì đã chối bỏ thần Amon mà thờ thần Aton) với người vợ thứ biệt danh là ‘Young ladie’ để phân biệt với Elder lady có lẽ là Nefertiti nằm trong hầm mộ. Có giả thuyết cho là Young lady là em của nhà vua Akhenaton nhưng cũng có giả thuyết khác theo đó Young lady là con gái thứ 3 của Akhénaton với Néfertiti.Vợ chính của Akhenaton, Néfertiti là người rất đẹp và có ảnh hưởng rất lớn với nhà vua. Họ có 6 con gái mà không có con trai nên khi Akhenaton qua đời ngôi vua truyền cho con gái lớn, chị cả của Toutankhamoun khác với lệ thường. Theo tài liệu chưa được chính xác lắm thì nhờ cưới được công chúa thứ ba,Toutankhamom được đưa lên ngôi lúc 9 tuổi sau khi người chị cả, bà hoàng Ânkh-Khéperourê đột nhiên biến mất (?) nhưng ngài cũng chỉ trị vì đến năm 19-20 tuổi thì mất ( sau này khi khám nghiệm xác ướp thì người ta nghi ngờ là nhà vua đã bị đập bể sọ nhưng tháng 2 năm 2010 với phương tiện tối tân hơn người ta lại kết luận nhà vua chết do bị nhiễm trùng và bị chứng sốt rét ). Vì vua còn quá trẻ nên quyền hành ở cả trong tay của Ay, trưởng lâu đài hoàng cung và đại tướng Horembeb. Vợ vua, theo suy đoán là em cùng cha khác mẹ với Toutankhamon và là con gái thứ ba của Néfertiti với Akhenaton, được tôn là Ankhésenpaamon (người ta lại cũng cho rằng bà này đã lấy chính cha ruột của mìnhAkhenaton- trước khi lấy em ruột của mình- Toutankhamoun- có lẽ vì cùng dòng máu lấy nhau nên họ không có con: trong hầm mộ nhà vua người ta tìm thấy mộ một đứa trẻ chết khi vừa sinh ra và một bào thai 6,7 tháng. Sau khi lên ngôi, Toutankhamoum cho khôi phục lại những đền đài thờ thần Amon và cho xây ở đông Thèbes một lâu đài mới nên chưa có thì giờ xây hầm mộ cho chính mình. Khi chết đi ở tuổi 19-20 ( 1338 bc), nhà vua không có người thừa kế và người ta nghi rằng Ay đã lên làm vua và lấy luôn vợ của vua nhưng lại cũng có truyền thuyết cho rằng bà hoàng đã khẩn cầu vua Hittite gả cho bà một hoàng tử để bà giữ ngôi vua, tuy vậy vị hoàng tử này chưa bao giờ tới Ai Cập cả! Sau 70 ngày Ay đã đưa xác ướp của nhà vua đến
ngôi nhà vĩnh cửu với những vật dụng hàng ngày, mặt nạ (bằng vàng nặng 30 kg ), tượng bằng ngà, bằng đá.. và cả các đồ chơi của nhà vua khi còn bé. Có tổng cộng 171 vật đủ loại đã được tìm thấy và hiện được trưng bầy ờ viện bảo tàng ở Caire. Ay- mà người ta cũng đoán là cha của Nefertiti, nhạc mẫu của Toutankhamon, tức là ông của vợ của Toutankhamon- không những thừa hưởng ngôi vua, vợ vua (?) mà còn thừa hưởng cả ngôi mộ dự trù giành cho vua Toutakhamom!!!! Trong mộ của vua Toutankhamom, người ta thấy nhiều bức họa khắc trên tường trên trần rất đẹp, mầu sắc còn đậm sau hơn 3000 năm, kể lại đời sống của vua, vua và bà vợ cưng, đồ chơi ngày còn bé và một mặt nạ vàng y nặng 35 ký…nay trưng bầy ở viện bảo tàng Cairo.Khi khai quật người ta còn tìm thấy tại đây xác hai bé gái chết yểu trong bụng mẹ. Oai hùng nhất trong lịch sử là pharaon Ramsès II, vị vua của uy quyền, của xây dựng, của sáng tạo và của chiến thắng. Đây là vị vua thứ 3 triều đại 19, ông trị vì 67 năm, thọ 90 tuổi, có rất nhiều vợ và có khoảng từ 100-200 người con. Ông cho xây nhiều đền đài, hầm mộ vĩ đại ở Luxor, Karnak, Nubia. Bà vợ chính Nefertati được ông xây hầm mộ ở Nubia. Ông nổi danh trong chiến trận Qadesh với Hittites. Trận chiến bắt đầu từ năm thứ 5 sau khi lên ngôi, kéo dài 15 năm và sau cùng được giảng hoà bằng hôn nhân của pharaon với con gái vua Hittite III, sự tích được ghi lại trên bàn bằng bạc bởi vua Hittites. Xác ướp Ramsès II khởi đầu được để ở ngôi mộ số 7 ở Valleys of the Kings, sau vài triều đại được dời đến mộ của vua cha, được tìm ra năm 1871 và hiện được trưng bầy ở bảo tàng viện Le Caire. Sau hàng mấy ngàn năm xác ướp còn nguyên vẹn nhưng chỉ sau vài chục năm trưng bầy, năm 1976 xác ướp bị mốc nên được chở bằng phi cơ sang Pháp để chữa trị và
tu sửa với thông hành mang tên Ramsès II, nghề nghiệp: vua Ai cập! Các nhà khoa học bèn lợi dụng cơ hội để moi ra thêm nhiều chi tiết khác: nhà vua cao khỏang 1.73 mét, tóc xoắn muối tiêu, chừng 80 tuổi, bị thấp khớp, sưng răng, lưng còng…. Ramsès II cho xây nhiều đền đài, có cái đào sâu trong núi đá, nổi tiếng là đền d’Abou Simbel phía bắc Assouan với 4 tượng vua cao đến 20 mét ở chỗ cửa vào. Những pharaons được coi như giáo chủ lớn nhất nhà nước hay là vua. Các pharaons thờ thần Amon là vua của những vì vua, đóng đô ở Thèbes nhưng đến đời Akhenaton (bị coi là người theo tà giáo) thì cho phá huỷ tượng Amon và thờ thần Aton tượng trưng bằng điã tròn như mặt trời. Khi Toutankhamon được đưa lên ngôi, ngài trở lại với thần Amon và đền thờ thần Aton lại bị phá hủy. Người ta kết tội Akhenaton đã cai trị không theo Maât (sans Maât) mà theo quỷ sứ vì đã mắc căn bệnh ‘maladie de l’Egypte’. Maât chính là thần nữ của Công Bằng, Sự thật và sự Hòa điệu ( la Justice, la Vérité, l’Harmonie). Thần nữ có mang trên đầu một cái lông con trĩ,và pharaon dâng lên Thượng đế bức tượng nhỏ của Maât đặt trong lòng bàn tay, chứng tỏ ông vua sẽ cai trị như là Maât mà không lạm dụng quyền thế. Ramesseum, chỗ thờ Ramsès II ở phiá đông Thèbes (Luxor) còn ngôi mộ thì cách đó vài km trong Valley of the Kings. Nữ pharaons Chúng ta ít biết đết các pharaons mà biết đến Ai cập nhờ nữ hoàng Cléopâtre. Ít ai quên được hình ảnh đẹp tuyệt vời của Cléopâtre do Elizbeth Taylor thủ vai, mặc áo giáp vàng ngồi trên ngai vàng uy nghi trên chiếc xe khổng lồ tiến vào thành Rome trong phim Cléopâtre mấy chục năm về trước. Cléopâtre cũng nổi danh nhờ câu nói bất hủ ‘ nếu cái mũi của Cléopâtre ngắn đi một chút thì cục diện thế giới đã thay đổi’.
Là pharaon cuối cùng (Cléopâtre VII ), bà có tổ tiên gốc Hy Lạp. Từ năm 332 bc, Alexandre le Grand thắng Ai cập, lập toàn quyền Ptolémée trị vì Ai cập như những pharaons trước đó. Sinh năm 69 bc, Cléopâtre lấy người anh cả và lên ngôi vào l9 tuổi. Người anh muốn giành ngôi nên Cléopâtre cầu cứu César là vua La mã lúc đó đến Ai cập để thu góp tiền bạc. Cléopâtre thực sự giữ ngôi năm 21 tuổi chấp nhận lấy César, lúc đó đã 54 tuổi và họ có một người con trai là Césarion. César phải trở về Rome, Cléopâtre đi theo nhưng không được trọng vọng. Khi César mất bà phải chạy sang Alexandrie và phải chọn lựa giữa Octave hay Marc- Antoine để làm chỗ dựa. Octave là cháu của César, sau này là hoàng đế La Mã. Ông không thích bà hoàng có lối sống đông phương này nên Cléopâtre tìm cách bám lấy Antoine, thống đốc các tiểu bang miền đông (La Mã khi này theo tam đầu chế): Năm 41bc, Cléopâtre đi Tarse, ghé thăm Antoine. Cléopâte cần chỗ dựa để bảo vệ ngai vàng còn Antoine thì cần vàng với lúa mì của Egypte. Sự kết hợp mang tính cách chính trị này cũng đem lại cho đôi tình nhân những giờ phút nồng cháy, nàng mới có 28 và chàng 42 tuổi. Chàng theo nàng về Alexandrie và dần dần bị người đẹp nhiều mánh khóe chinh phục. Antoine nhường cho nàng và các con nhiều phần đất phía tây của đế quốc La Mã, cho xây một đền thờ ở Alexandrie, lơi là chú ý đến Rome. Năm 31bc, La Mã đem quân đánh Ai cập, Octave thắng trận thủy chiến ở Actium. Antoine chết và Cléopâtre tự tử chết theo ở tuổi 39 bằng một con rắn độc. Từ đó Ai cập thành thuộc địa của La mã. Cléopâtre không phải là nữ hoàng duy nhất của Ai cập và hơn nữa Cléopâtre chỉ là bà hoàng chỉ cai trị dân qua sự trợ giúp của ông chồng, Ai cập còn có một bà hoàng lẫy lừng hơn xuất hiện sau đời vua thứ hai vương triều thứ 18, đó là Hatchepsout.
Là con gái duy nhất của pharaon Thoumosis I, bà đáng lẽ là ngươì kế thừa ngai vàng nếu như Ai Cập không phân biệt nam nữ nên để có được quyền hành bà phải lấy người anh cùng cha khác mẹ. Chồng bà lên ngôi là Thoumosis II nhưng chết trẻ mà bà cũng lại chỉ sinh con gái với nhà vua này, quyền thừa kế sang tay con trai của nhà vua và bà vợ thứ là Thoumosis III, hãy còn nhỏ. Thay vì buông màn chấp chính, năm 1490 bc, bà tự xưng làm vua, tuyên bố: Chính ta là Thượng đế, ta quyết định tất cả mọi việc và không một mệnh lệnh nào của ta lại không được thi hành’. Chính thức cai trị từ năm 20 tuổi, sau này bà biến mất, có lẽ do bị ám sát và người kế vị tìm mọi cách xoá nhoà tên tuổi, nhưng không xoá đền của bà dựng mang tên là Deir et Bahari ở tả ngạn sông Nil ở Thèbes. Hầm mộ giành cho bà trống không và người ta không tìm thấy xác ướp của bà mà chỉ thấy những mẩu tượng bằng đá của bà dưới hình hài đàn ông, bộ râu tượng trưng cho nhà vua với nét mặt xinh tươi… Một pharaon nữ nữa là chị cả vua Toutankhamoun, bà hoàng Ânkh-Khéperone cũng chỉ lên ngôi được thời gian rất ngắn thì mất tích, sau đó thì Ay và Horembeb đưa Toutankhamoun lên ngôi vua lúc 9 tuổi! Hoàng hậu Trong Valley of the Queens nằm ở West bank (tây sông Nil) cũng thuộc Luxor ( xưa là Thèbes, thủ đô của Egypte) người ta đã tìm ra 75-80 hầm mộ của các hoàng hậu thuộc các triều đại 18, 19 và 20 bao gồm cả hầm mộ của Khaemweses, hoàng tử con vua Ramesses II số44). Hầm mộ số 52 là của hoàng hậu Titi, bà được điêu khắc như những phụ nữ Ai cập thời đó cùng vơí các Thần ( thượng đế) Thoth, Isis, Nephthys, phòng kế
bên khắc hình con bò để vinh dự ‘lao động vinh quang’ của chú bò và 1 phòng nữa điêu khắc hình các thượng đế. Hầm mộ số 55 có khắc hình Amenhikhopeshef (chết vào khoảng 9 tuổi) cùng với cha là Ramesses II và các thần Thoth, Ptah vv.. Ở đây cũng có mộ một trẻ sinh non vì mẹ cậu bị sẩy thai khi cậu mất (tôi nghiệp bà mẹ, mất hai đứa con cùng một lúc). Nefertari Hầm mộ số 66 thuộc về hoàng hậu Nefertari một ngôi mộ được coi là đẹp nhất, lớn nhất trong Valley of the Queens do Ramesses II lập cho bà. Với rất nhiều trang trí lộng lẫy, nơi đây được gọi là Place of the Beauty vì hoàng hậu được coi là người đẹp nhất trong các bà hoàng hậu của vua.Trang trí và điêu khắc trên tường, trên trần mô tả lại những huyền thọai gặp gỡ của nhà vua, hoàng hậu với thần tiên, thú (monstres - người Ai cập thờ thú vật, đầu thú mình người ) và con đường đi vào vĩnh cửu, những hình họa của hoàng hậu tuyệt đẹp với những trang phục dài, hai chiếc lông điểu dài, vương miện bằng vàng. Bà còn có rất nhiều đồ trang sức bằng vàng. Phòng kế bên là nơi bà thờ phượng xác ướp của Osiris. Kế cầu thang là cảnh bà dâng sữa cho thần Hathor. Vua Ramses II ( vị vua anh hùng nhất của Ai cập) có 4 bà vợ nhưng Nefertari được gọi là ‘bà vợ vĩ đại nhất’ của nhà vua, được vua yêu thương nhất, tình yêu này thể hiện qua những dòng chữ để lại: My love is unique. No one can rival her. For she is the most beautiful woman alive just by passing she stolen away my heart. Vua cũng lập cho bà một đền thờ nổi tiếng Abu Simbel gần Colossal monument. Họ lấy nhau khi nàng 13 và chàng 15 tuổi, có với nhau 4 con trai và ít nhất 2 con gái nhưng Ramesses II lại truyền ngôi cho con trai thứ 13 và khi Nefertari chết đi, con gái bà là Meritamen được lập làm hoàng hậu ( lấy cha ruột). Người ta đoán là có đến 3 pharaons đã lấy chính con gái mình làm vợ là pharaon Amnénophis III, pharaon Akhénaton và pharaon Ramsès II. Trong hầm mộ Nefertari người ta thấy cảnh 1 con chim với đầu của bà hoàng (hình vẽ này tượng trưng cho linh hồn của bà). Hình Ba-bird đang đứng trên thang có dạng nấm mồ. ‘Ba’ biểu hiệu cho thượng đế, bà hoàng quỳ gối trước linh hồn chính mình, hai tay đặt trên cặp sư tử, mà giữa chúng là ‘điã’ mặt trời. Hai con sư tử tượng trưng cho ‘ngày hôm qua’ và ‘ngày mai’ hay quá khứ và tương lai. Con chim tượng trưng cho con phượng hoàng, biểu hiệu cho linh hồn của thần Ra, cũng là biểu hiệu của Osiris. Osiris cũng là thần của sự Chết hay thần của đời sống sau này (after-life) hay thần của sự tái sinh ( tượng trưng là làn da mầu xanh lá cây).
Đền thờ Rời các hầm mộ, phái đoàn đi thăm các đền thờ El-Dir-bahari, Hatshepsut và Alabaster factory…. Dùng cơm trưa xong, phái đoàn đi thăm đền Karnak và đền Luxor. *Đền Luxor cách đền Karnak khoảng 3 km về hướng nam, đầu tiên do nữ hoàng Hatshepsut xây ngôi nhà nguyện để thờ thần Amon-R, thần Maât, thần Chons, sau đó Amnehotep III tiếp tục và Ramsès II hoàn tất. Đây là ngôi đền rất rộng lớn, nặng nề nhưng lại kết hợp hài hoà. Sau khi đi qua sân rộng mênh mông, chúng ta nhìn thất hai toà tháp trụ hình chữ nhật to lớn cao 65 mét lớn bằng 2 cái building. Đường vào đền đi ngang một hành làng dài, hai bên là 64 cột trụ cao 12.8 mét ngất ngưởng để nâng trần nhà cao 25 mét, dĩ nhiên là không còn trần mà là bầu trời trong xanh, những tảng đá làm trần đã rơi từ hồi nào không biết, chỉ còn rải rác sót lại vài ba tảng to bằng cái bàn 20 ngươì ăn!.
Hai tháp cao vút Obélisques de Luxuor nay chỉ cón có một vì một đã được tặng và chở về Pháp để ở Place de la Concorde năm 1836- bằng đá hoa cương mầu đỏ, một giáo đường Hồi giáo, khu chính điện, những phòng phụ… Chúng ta..chóng mặt bởi những hàng trụ cột đá hoa cương cao vút lên trời vì đền không còn mái. Mái, trước đó là những tảng đá không lồ (không hiểu bằng cách nào họ đã mang nổi những tảng đá to lớn đó để làm mái nhà) nay chỉ còn sót lại một vài tảng đá to lớn nằm chơ vơ trên những cột trụ to và cao: la grande colonade d’Amenhotep III hay Ramsès colossis! Không kể sân vào, đền Luxuos dài 260 mét và rộng 50 mét, tất cả đều bằng đá dĩ nhiên không còn nguyên vẹn nhưng tất cả đều khổng lồ với những hình, chữ viết được khắc trên đó. Cao lớn như người phương Tây cũng chỉ cao ngang bệ đá trên đó có tượng Ramsès đang ngồi nghiêm chỉnh với nét mặt vui tươi! * Đền Karnak Đi qua đại lộ …nhân sư – Sphinxes - những con thú to lớn này ôm tượng Ramsès trong lòng, chúng ta đến đền Karnak.
Đền Karnak được coi là ngôi đền lớn nhất thế giới với diện tích 100 hectares. Với 3 đền chính, nhiếu đền nhỏ và rất nhiều đền phụ được xây và nới rộng trong khoảng thời gian 1300 năm để thờ thần Mâat, thần Amon, thần Monthu. Tường là những tảng gạch khổng lồ, mái là những tảng đá khổng lồ còn sót lại ở vài nơi. Tượng ramsès ở đây đứng và dưới chân tượng người ta thấy có tượng người nữ cao chỉ từ bàn chân tới đầu gối, không hiểu là vợ hay là con gái vì Ramsès II có lấy một người con gái là vợ! Với 134 trụ cột đá hoa cương chia làm 16 hàng tạo thành Hypostyle hall thì Thánh đường St Piette ở Milan hay Notre dame có thể…đút gọn vào trong! Đền Hatshepsut ở gần valley of the Kings do kiến trúc sư Senemut thực hiện để thờ thần Amon-Ra. Là con gái của Tuthmosis II, bà lấy anh là pharaon Tuthmosis III, khi nhà vua chết đi thì lấy pharaon Tuthmosis IV, khi này nhà vua còn rất nhỏ nên bà tự phong làm pharaon và cai trị Ai cập. Khi bà chết đi, Tuthmosis lấy lại quyền và tìm cách xoá nhoà đi tên tuổi của bà bằng cách phá các công trình xây dựng cũng như phá cả hầm mộ của bà nên chỉ còn sót lại ngôi đền to lớn có tên là Deirel Bahari với kiến trúc rất cổ. Đi qua 3 lần sân chúng ta đến chính điện thờ thần Mặt Trời bên phải và bên trái thờ Hatshepsut. Người ta không tìm thấy xác ướp của bà nhưng trên tường còn lại những điêu khắc nói về bà. Bà được mô tả như một người đàn ông đang cai trị dưới hình dáng thượng đế Osiris. Bà đã đi du lịch ở Punt (Somalia?) và mang về trồng ở sân trước một loại cây có mùi thơm (cây Myrrh)….. Pyramides Thời cổ đại chưa có kim tự tháp, vua Ai Cập cho xây mộ hình thang mà nhìn từ xa, những ngôi mộ này giống như dẫy ghế ngồi, gọi là mastaba,
Mastaba Djoser pyramide trong đó có phòng để quan tài, phòng để đồ cống lễ, phòng để nông cụ, phòng để dụng cụ săn bắn, phòng nghỉ ngơi v..v.. Gạch xây tường lấy từ đất sông Nil. Phải chờ đến Mastaba của vua Djéser (-2650) do kiến trúc sư Imhotep (được coi là con trời Ptah, tổ sư của những kiến trúc sư) xây từ triều đại III mới hình thành kim tự tháp bằng đá cao 60 mét, một công trình lớn nhất thời bấy giờ vì Djéser là một pharaon rất có thế lực. Kim tự tháp này có nền hình chữ nhật ( những nhà vua sau đó đều cho xây những kim tự tháp nền vuông). Kim tự tháp vua Snéfrou tuy đỉnh đã nhọn nhưng có lẽ đã sẩy ra một trận động đất nên người ta thấy phần đỉnh cao không dốc thẳng mả lại lài lài ở độ cao 40 mét, có lẽ cho khỏi đổ. Kim tự tháp lớn nhất là cuả vua Khéops, triều đại thứ IV trong 30 vương triều, con vua Snéfrou, trị vì từ 2553 đến 2530 BC ( trước tây lịch). Với 227,50 mét phần nền và cao 146,60 mét, cao hơn cả tượng nữ thần tự do ở Newyork, Taj Mahhal ở Ấn độ, Saint-Pierre ở Rome, kim tự tháp Khéops cùng vơí kim tự tháp của Mykérinos và kim tự tháp của Khéphren làm thành khu kim tự tháp Gizeh được người Ai Cập coi là 1 trong 7 kỳ quan của thế giới. Khu kim tự tháp Khéop có hai ngôi đền để thờ Kheops (một gần kim tự tháp và một gần sông Nil), ba kim tự tháp nhỏ hơn cho các bà vợ của Kheops, và một kim tự tháp "vệ tinh" nhỏ hơn, một đường đắp cao nối hai ngôi đền, và một nhà mồ nhỏ bao quanh kim tự tháp cho các quý tộc. Một trong các kim tự tháp nhỏ chứa mộ của hoàng hậu Hetepheres (khám phá năm 1925), em gái và vợ của Sneferu và mẹ của Kheops. Không xa kim tự tháp là thành phố cho công nhân, bao gồm một nghĩa trang, các tiệm bánh, một xưởng làm bia và một khu để luyện (nấu chảy) đồng.Nhiều tòa nhà và các khu cấu trúc khác đang được khám phá bởi Dự án vẽ bản đồ Giza.
Cách vài trăm mét về phía tây nam Kim tự tháp Kheops là một kim tự tháp hơi nhỏ hơn khác, kim tự tháp Khéphren, em của Khéop và là người kế vị Kheops và được tin rằng là người đã xây dựng Đại Sphinx Giza tức Đại Nhân sư. Thêm vài trăm mét nữa ở phía tây nam là Kim tự tháp Mykérinos, con trai Khéphren và kế vị Khéfren, với chiều cao khoảng một nửa Đại kim tự tháp. Hiện nay, kim tự tháp Khéfren là kim tự tháp cao nhất trong nhóm bởi Đại kim tự tháp đã mất khoảng 30 feet chiều cao vật liệu trên đỉnh. Thời cổ đại, Kim tự tháp Kheops quả thực là cao nhất, nhưng trên thực tế khi ấy kim tự tháp Khéfren nhìn vẫn có vẻ cao hơn vì các cạnh của nó có góc đứng hơn so với Kim tự tháp Kheops và nó được xây dựng trên thế đất cao hơn Tổng số số lượng đá của 3 kim tự tháp này được vua nước Pháp là Napoléon cho là có thể xây được một bức tường thành cao 3 mét bao quanh nước Pháp! Calife tên là Abdullah el-Mamoun người cai trị AI cập khoảng 820-827 muốn gỡ kim tự tháp để tìm của cải dấu trong đó nhưng các quan chức thời đó đã tính toán thấy rằng tốn phí gỡ ra đắt hơn toàn bộ tiền thuế thâu được nên Abdullah bỏ ý định, chỉ khơi một lối đi vào mà ngày nay ngươì ta vẫn xử dụng. Nhân công qua lối này vào,mang quan tài ra và khi mở ra người ta thấy xác người đàn ông mang áo giáp nạm vàng vơí rất nhiều ngọc quí ngực có thanh gươm cạnh đầu là viên ngọc hyacynthe to bằng quả trứng chiếu rực rỡ như lửa cùng một bình đựng 1000 đồng vàng… Tuy vậy số tiền và ngọc thu được ũng ngang ngửa chi phí đào mồ khoét mộ !!!!Ngày nay theo lối đi vào chúng ta chỉ thấy 3 phòng trống rỗng, một hòm đá có lẽ là nơi để quan tài có xác ướp của Khéop. Người ta thấy để phòng cho hoàng hậu nhưng không thấy tên hoàng hậu, phòng nhà Vua có hòm đá rộng 60 mét vuông tất cả đều bằng đá cẩm thạch mầu hồng. Bên trên đầu phòng nhà Vua có 5 phòng thấp nhỏ đều bằng đá tảng có lẽ để đá của pyramide không được đè lên đầu vua. Xâu xuống 30 mét dưới nền kim tự tháp có một gian phòng khóet trong núi nhưng không ai mon men tơí có lẽ do thiếu oxygène. Ấn tượng nhất là hành lang dẫn đến đại sảnh nhà vua: hành lang lài lài đi xuống dài 47 mét, một cầu thnag cao bằng cái nhà trung bình cỡ 8.5 mét, tường cao 2 mét, trần tường bào nhẵn bằng đá tảng cái nọ ráp vào cái kia tạo thành cái vòm hành lang rộng lớn có lẽ để nhiều người đến từ biệ nhà vua lần cuối trước khi được dóng lại cho đến thiên thu… Xây kim tự tháp qúa khó khó khăn nên các pharaons chuyển sang đào các hầm mộ để giữ lại của cải và nhất là xác ướp của họ. Ướp xác
Xác ướp Ramses II Xác ướp Thoutmosis IV Người Ai cập tin rằng sau khi chết đi là bước qua một đơì sống khác, đó mới thật là đời sống vĩnh cửu, nhưng muốn có được đời sống vĩnh cửu thì trước hết phải giữ được thân xác phàm trần !!!Dĩ nhiên những người nghèo chỉ được chôn trong cát sa mạc sau khi cuốn trong lớp da bò như tự ngàn xưa. Nóng và gió sa mạc làm khô xác chết trước khi nó bị rữa. Những ngươì giàu có mới được sống vĩnh cửu vì chỉ họ mơí đủ tiền để trả cho công việc ướp xác. Nhưng thân xác này phải làm cách ướp sao đó để được tồn tại mãi với thời gian, muốn vậy xác ướp phải nhẹ như vỏ trứng nhưng phải cứng như tượng đá. Những người thợ ướp xác thường làm việc trong những căn lều xa nơi người ở và gần sông rạch để rửa xác, nơi đó gọi là ‘Nhà tinh khiết’. Họ làm việp dưới sự giám sát của các giáo sĩ để ban phép lành. Mọi người đều ao ước xác ướp củ mình được đặt trên mình con bò tót rồi được thần Chết - mình người đầu thú chacal, giống như đầu chó sói - đón đi. Cần 70 ngày để hoàn tất một xác ướp tốt. Những người ướp xác làm việc trên cái bàn cẩm thạch mầu ngà lớn hơn cái giường một phía có khắc 2 cái đầu sư tử, phiá kia có một cái chậu để hứng máu, chất rửa thải ra. Để tránh mùi hôi thối, khi làm viêc họ mang mặt nạ cũng có hình đầu chó sói, thỉnh thoảng họ cũng đãng trí như những bác sĩ giải phẫu thời nay: quên kẹp, quên móc, quên muỗng … những dụng cụ để moi bộ đồ lòng trong xác chết!!!! Rất ít tài liệu để lại cho biết làm sao để ướp xác nên người ta chỉ phỏng đoán là sau khi người trong gia đình than khóc thì xác được đưa đi ướp theo nhiều cách và nhiều giá khác nhau. Sang nhất thì thợ ướp bắt đầu dùng móc sắt luồn qua lỗ mũi để moi óc ra, dùng dao bằng đá mổ sườn để lôi bộ đồ lòng, rửa ráy cẩn thận sạch sẽ với rượu dừa, ướp hương liệu rồi nhét đầy bụng đã trống rỗng bằng hỗn hợp cây myrrhe, quế, cùng nhiều hương liệu khác, khâu lại để vào cái bồn lớn chứa đầy chất natron trong70 ngày. Natron là bột của carbonate hydraté de soude (Na2CO3+NaHCO3), có rất nhiều ở vùng Ouadi Natroum nên gọi là natron và có thể xử dụng nhiều lần nhưng giảm hiệu lực. Còn có mộtchất gọi là gôm -gomme- là
một chất nhựa, chính xác không biết là chất gì để dán băng quấn quanh xác ướp, có lẽ là dầu thông Liban, nhang thơm từ cây myrrhe, vừa dính băng vừa có tính chống nấm và khử trùng, khi khô lại thường rất cứng. Băng quấn quanh xác dài đến 75 mét vuông bằng lanh thường mầu đỏ hay hồng, có thể từ quần áo cũ, nhưng quấn theo hình tam giác rất có nghệ thuật. Phụ trách việc quấn băng là vị giáo sĩ mang mặt nạ hình đầu chó sói Anubis. Anubis là một con chó đen của sa mạc dùng để canh giấc ngủ ngàn thu của người chết. Xác ướp sau đó được đặt vào quan tài đẽo từ thân cây lớn, qua tài không có hình chữ nhật mà có hình như người nằm ngủ theo dạng xác ướp, mặt ngoài có tô điểm nhiều hình vẽ. Những hình điêu khắc trên nhà mồ ở Thèbes hay trên giấy của thư khố papyrus cho chúng ta biết khi xác ướp đã xong, sau 70 ngày, thì đám tang linh đình được cử hành.. xác ướp được đặt vào quan tài để mở trên cỗ xe, kéo bởi con bò, theo sau là thân bằng quyến thuộc, giáo sĩ.Ngườ thân tóc rối bù, ngực trần than khóc; nô lệ mang theo bàn ghế, ruơng hòm quấn áo, đồ trang sức của người chết. Họ cũng mang thịt thà rau cỏ trái cây đi từ từ đến nhà mồ. Đến nơi, xác ướp được đưa ra khỏi quan tài. Người giáo sĩ mang mặt nạ chó sói Anubis giữ xác ướp đứng vững, giáo sĩ mới tu khác (giáo sĩ tạm thơì chỉ tu một thơì gian ), thường là con trai cả của người chết đốt nhang trong khi giáo sĩ chính làm phép mở miệng cho người chết để có thể nói, nghe,thấy và hưởng thụ được đồ cúng tế. Người càng sang giàu thỉ tang lễ càng cầu kỳ rắc rối và kéo dài. Gia đình nói lời từ biệt vơí người chết. xác được đưa trở lại vào hòm, đồ cúng lễ mang ra..nhậu nhẹt. xác ướp thì có thể bị huỷ nên ngườ ta làm thêm những tượng để linh hổn trú ẩnvà hưởng thụ vật cúng tế để vào trong nhà mồ. Ngườì chết còn phải trải qua sự phán xét qua một cái cân lớn, qủa tim tượg trưng cho sự thật, nhân tính, ý chí, lương tâm, lý luận củ người chết được đạt lên một bàn cân, bà n bên kia là một cái lông (!) tượng trưng cho luật của thần linh,Mâat ; bên cạnh chiếc cân là một con thú lai cá sâu, hà mã và báo ‘ Ăn tươi nuốt sống’ sẵn sàng nuốt trửng xác nếu trái tim người chết quá nặng và như thế thì coi như chết luôn sa địa ngục. Vì thế giữa hai chân xác ướp người ta để Livre des morts (đắt bằng 2 con bò hay 1 người nô lệ hoặc 6 tháng lương người thợ) để hướng dẫn người chết đi vào đế quốc của tử thần. Sách này do Thot, vị thần khôn ngoan thảo ra theo đó người chết phải đọc 125 lần những câu như: tôi không hại ai, tôi không bạc đãi thú vật, tôi không lưu trữ nước lụt cho riêng tôi ….. Có khỏang 200 bùa chú thứ linh tinh, bí ẩn để cho quan toà phán vô tội và không bị quỷ sứ ăn thịt…. Thày thợ Dù vua có ra lệnh, kiến trúc sư có vẽ kiểu, kỹ sư có ra tay mà không thợ thì cũng không thể nào có được những công trình vĩ đại như thế. Đôi lúc Sao Khuê tưởng tượng là ngày đó người Ai cập đã mướn những người khổng lồ to lớn cỡ 100 lần người thường từ những hành tinh xa xôi thì mới có thể dựng nên những kim tự tháp, đền đài cao, to mà mỗi tảng đá to bằng cái giường king size, đã được họ xếp khít lên nhau y như ngày nay người thợ xây tường bằng những viên gạch chưa bằng quyển sách ? Làng những người thợ xây hầm mộ Trái với Trung Quốc nơi mà các vua Tầu chôn sống những người thợ để khỏi lọ bí mật, những người thợ chuyên về xây mộ và tang lễ của Ai cập thì cha truyền con nối. Đó là những nghệ nhân, khéo tay bao gồm những kiến trúc sư công trình, những người thợ mộc, thợ đẽo đá, thợ khắc, thợ làm trang trí, thợ sơn mà nhà vua đã tin tưởng giao cho họ xây những ngôi nhà vĩnh cửu ở những nơi hoang vu dễ canh để trộm cắp không thể mò tới được. Họ được gom lại, sống thành làng như làng Deir el
Medineh, có đường đi, có nhà ở, có tường bao quanh ở trong một thung lũng mà quân đội dễ kiểm soát từ trên cao và họ chỉ được rời làng bằng một lối ra duy nhất để đến thẳng chỗ làm.Họ xây hầm mộ cho hoàng gia, giới quí tộ, nhà giàu và những người thợ có tiền cũng xây hầm mộy cho chính họ và gia đình họ Có khoảng chừng 70 mái nhà 1 tầng, sơn trắng, cổng đỏ chỉ cách nhau bởỉ khoảng đường đi rất hẹp, mỗi nhà như vậy có chừng 5 người: cha mẹ và con cái; thường thì con cái ở nhà với mẹ, những người cha đi làm ngủ lại chỗ làm và chỉ trở về nhà vào ngày nghỉ ( mỗi 10 ngày) hay ngày lễ. Trong những căn nhà này họ cũng khắc lại tên chủ nhà, họa lại hình dáng người trong nhà và ghi lại những chuyện sảy ra hàng ngày, nhiều hơn là chuyện vua chúa. Vì khéo tay nên họ nghĩ phải được đền bù xứng đáng nên đôi khi họ cũng đình công; lần đình công coi như đầu tiên của lịch sử nhân loại sảy ra ngày 14 tháng 11 năm 1152 bc (-1152). Ngày đó vào năm thứ 29 Ramsès II có khỏng 60 người không chịu làm việc. Dưới sự chỉ huy của thư ký Patouéré và 2 trưởng công trình, những người thợ đẽo đá, thợ mộ và thợ vẽ rời công trình, băng qua núi trở về làng rồi tiến đến Ramesseum, đền thờ cho Ramsès II nơi đây có chứa lương thực cũng như tiền lương của họ. Ngồi trước cửa đền họ kêu lên: Chúng tôi đói và khát. Họ yêu cầu manglương thực và tiền lương mà họ đơị chờ từ 1 tháng nay. Không thành công, hôm sau họ tiếp tục gào và cuối cùng Mentmosé,truởng cảnh sát phải thân chinh đến Thèbes để trình bày với viên tỉnh trưởng. Tối đó trở về ông ta tặng cho đám người biểu tình 55 cái bánh ngọt,tiếp sưc cho họ tiếp tục kêu gào ngày hôm sau: chúng tôi không có quần áo, không có dầu ăn, không có gì để ăn hết. Làm ơn đạo đạt lên cấp trên và lên ngài Pharaon để cứu giúp chúng tôi… sau cùng các viên chức nhà nước thoả mãn nguyện vọng của họ để …thỉnh thoảng họ lại đình công! …Còn rất nhiều chuyện mà những nghệ nhân này đã ghi lại hoặc trên giấy papyrus hoặc khắc trên đá vôi từ đó ngày nay chúng ta biết được lịch làm việc trong ngày, như phát bao nhiếu tim đèn để đốt đèn dầu mà làm việc trong hầm tối … từ đó chúng ta biết được họ đã chia ca để làm việc, mỗi ca làm 4 tiếng và có nghỉ trưa. Dụng cụ bằng đồng được kiểm soát kỹ lưỡng và có kiểm tra dụng cụ làm việc vì chúng rất đắt, một cái kéo có giá trị bằng lượng ngũ cốc cấp cho 1 người thợ trong 1 năm… tất cả đưoc thư ký chép lại và cất ở kho lưu trữ văn kiện, ngay cả ghi danh người làm việc hay vắng mặt.Lại có người tên là Amennakhté, nghệ nhân chép lại chuyện bố vợ của mình, người thợ đẽo đá khả ố tên là Paneb: Hắn đã lượm đá đập vỡ cửa nhà của Pyramide ở Deir-el-medineh Trong hầm mộ của Sennuten Neferhotep, đáng 9 ngươì tối hơm đó, đã dọa dẫm người trưởng công trình tên là Hay: tao sẽ giết chết mày trong sa mạc…nhưng Hay vẫn còn sống. hắn đã ngủ với Touiou vợ của Kenna và còn xâm phạm con gái chính mình: hắn xé quần áo của Iymuai ( vợ cuả Amnenakhté), đè nó vào tương và bức hiếp nó! v....v
Hầm mộ của Sennedjem’s Để ghi chép đưọc thì phải đi học viết. Có một lời mà người cha khuyên dạy người con phải đi học được truyền từ thời này sang thời khác để chúng tỏ sự quan trọng của việc đưọc đi học chữ: Có một người cha tên là Chéti dẫn ngươì con trai là Pépi lên kinh đô để nhập học trường nhà nước, nơi người ta dạy cho biết chữ. Ngươì cha nói: thật là bất hạnh nếu phải làm thợ hay là nghệ nhân. Ngươì thợ hót tóc đến tôí muộn còn phải di kiếm khách, thợ nề thì dù trời gió cũng không được mặc áo chemise khi làm việc mà tay chân lại luôn luôn dơ bẩn, áo quần lại nhàu nát, trái lại nhưng thày ký lúc nào cũng ăn mặc đẹp đẽ, không biết đến chuyện chiến trận hay là lao động khổ sở. Nhà vua chăm sóc đến họ và họ có thể làm việc trong guồng máy cai trị…nhưng những thày ký này phải học nhiều thứ: tên các quốc gia và các vùng lân cận, cây cỏ, ngày tế lễ… và cách thức sử sự trong đời: cư xử đúng đắn với người dưới và vâng lời người trên, hãy làm như cha ông, tôn trọng truyền thống cổ truyền… Một trong những nhiệm vụ của các công chức nhà nước là ghi chép và phân phối tài nguyên quốc gia, cung cấp nhân công cho những công trình lớn như xây dựng các pyramides. Họ phải biết giải các bài toán đố thí dụ như làm sao chia 100 cái bánh cho 10 ngươì trong đó 3 người đưọc hưởng gấp hai nhưng ngươì kia: ngươi hãy xem như có 13 người để chia, ngươi chia ra 13 phần, mỗi phần là 7&9/13, hãy nói với họ rằng đây là phần của 7 người những ngươì còn lại nhận gấp đôi. Dĩ nhiên học trò thì lười biếng và có một biện pháp là: những ngươì trẻ có một cái lưng, họ chỉ nghe khi nào bị đòn vì trẻ con để lỗ tai trên lưng chúng! Hoàng gia có trường riêng để dạy các hoàng tử và cộng chúa, do một vị giáo chủ cầm đầu như Imhotep, giáo chủ của vua Djéser đồng thơì là kiến trúc sư dựng nhà mồ cho nhà vua. Do bồi đáp của phù sa thay đổ hàng năm, ruộng đồng cũng phải đo lường tính toán lại, đất nước và dân chúng đều là sở hữu của pharaons nên dân phải dâng lên pharaon những gì thâu hoạch được, nhà vua chỉ cho lại họ phần nhỏ đủ sống phần nữa để ban cho những nghệ nhân, viên chức của vua. Chưa có tiền tệ họ trao đổi phẩm vật với nhau và các viên chức phải tính toán vào sổ những cống phẩm lưu giữ trong kho. Thường dân chúng ăn mặc thiếu thốn:khám xét các xác ướp cho thấy khoảng 30% thiếu dinh dưỡng thời niên thiếu! Các công chức nhà nước đưọc coi trọng. Một vị vua đã dạy con là hãy tăng cường các công chức để họ thi hành luật pháp. Số phận đàn bà Như quí vị đã biết đàn bà thì không được ra khỏi nhà dù ông hay Tây phương.Đàn ông có quyền quyết định tất cả nhưng ngược lại có những truyện kể lại là ở thời kỳ Tânn đế quốc (Nouvelle Empire) đàn bà có thể đến tòa án mà khiếu nại ngay cả khiếu nại cha ruột mình. Cái bà Nau nakhté nào đó sống trong làng nghệ nhân Deir el Medineh đã viết vào di chúc: Tôi là người đàn bà tự do ở xứ pharaon… Tôi đã nuôi dạy 8 đứa con…
bây giờ tôi già rồi nhưng chúng không săn sóc cho tôi. Tôi sẽ cho tất cả của cải của tôi cho người nào lo lắng cho tôi. Bà đã không chia của đồng đều cho các con mà cho cậu con trai yêu quí nhất một bình đầy đồng. Còn lại một bức hình minh họa một người đàn bà địu con trước ngực mang cơm ra đồng cho chồng và nhiều hình vẽ những nữ nô lệ, thường là trần truồng đang thổỉ lửa nấu ăn hay đứng hầu. Vì đàn bà không biết viết để kể lại tâm tư đơì sống của họ nên chúng ta không cò tài liệu về cuộc sống của các bà, chỉ qua hình vẽ người ta thấy rằng các bà trưởng giả thì ăn mặc sang trọng như áo lông beo, mang tóc giả dầy thắt bím, da trắng (màu da nhạt hơn màu da cuả đàn ông), thân hình mảnh mai, chân dài, háng nhỏ, ngực nhỏ, mang nhiều nữ trang. Hoàng hậu thườnh mặc áo dài đế tận chân rất đẹp và dĩ nhiên mang nhiều nữ trang quí giá. Con gái được gả chồng, thường cho ngươì lớn tuổi hơn từ 12 đến 15 tuổ, hôn lễ thường giản dị. lấy chồng rồi họ thành bà chủ gia đình, loviệc nội trợ, dệt vải nấu ăn là rượu bia, làm bánh, cái quản người làm nếu có. Họ cũng đi chọ để bán những sả phẩm là ra như vải vóc, ra cỏ trồng được nhưng nhiệm vụ chính là phải đẻ con: đàn ông mà không con thì mất người nối dõi nên cũng ráng rặn ra cậu con trai. Họ thường mang thai nhiều và cho con bú đến 3 tuổi. Tỷ lệ tử vong của bà đẻ và con nít rất cao dù họ đã có y sĩ hay bà mụ và họ cũng đã biết cách tránh thai ( lấy những tép acacia, coloquintes, dattes nghiến nát với nửa lít mật, nhúng tampon và để vào chỗ kín) hay làm cho có thai hoặc đoán con trai con gái ….. Có một bức điêu khắc ông lùn Seneb, viên chức cao cấp của hoàng gia, ngồi với bà vợ và dưới chân ông ta là hai đứa con, mặt mày đều hớn hở: gia đình hạnh phúc ! Trong trường hợp bà vợ không sinh con thì các ông có quyền lấy vợ bé hay đoì ly dị cũng giản dị như cưới hỏi nhưng tốn kém.Một bà mù cũng …xứng đáng được ly dị đã đi thưa chồng ra toà: tôi đã theo nó hai mươi năm, bây giờ tại sao nó lại bỏ tôi? Nếu người đàn bà có con và không có lỗi thì khi ly dị sẽ được chia 1/3 gia tài.Đàn bà cũng có quyền đòi ly dị ông chồng. Đàn bà có của có quyền được ướp xác xây mộ nhưng thật ra tỷ lệ rất thấp: 68 mộ đàn bà trong số 800 ngôi mộ ở Memphis mà đại đa số là vợ hay con vua. Bà vợ không được chồng yêu nhưng đàn ông lại quí trọng mẹ và thường để mẹ bên cạnh trong mộ, vợ nếu có chỉ là những tượng thu nhỏ mà thôi, tuy vậy tất cả đều ao ước gia đình hạnh phúc con cháu đề huề, hôn nhân bền vững với người mình yêu….Trong hoàng tộc thì họ lấy nhau loạn xà ngầu: anh em lấy nhau, cha lấy con gái …. Giáo sĩ Ngoài các công chức, giáo sĩ giữ nhiệm vụ quan trong không kém và nhà vua được coi là vị giáo chủ tối cao. Đầu cạo trọc, họ giữ nhiệm vụ cầu nguyện thần linh cho số phận của cả quốc gia. Họ được hưởng nnhiề quyền lợi như được làm chủ hầm mỏ, đất đai, câu cá. Chủ nhân ở xa thì giao cho tá điền và ăn chia huê lợi. Họ cũng được phân phát thực phẩm, áo quần, lúa, bánh …Giáo sĩ như một nghề vững chắc, khi hết hạn họ trở về làng, làm việc như những người khác. Có khoảng 1% dân số biết viết và làm việc như công chức hay giáo sĩ. Những ngươì biết viết còn nhiệm vụ thứ hai quan trọng không kém là thảo lý lịch cho người đi đến bờ vĩnh cửu chẳng hạn như giáo sĩ Aménophis, con của Hapou đã hãnh diện khắc trên tượng của chính mình: tôi ở trong nhóm nhân viên trẻ của chủ nhân (nhà vua ), tôi đã viết hàng ngàn bản cho công trình… tôi đã viết lại những chiến thắng của Bệ hạ ….. Chữ viết ngày xưa
Ngươì Ai cập có chữ viết từ 3000 năm trước sau khi thống nhất thượng và hạ Ai Cập. Chữ viết ra đời do sự phát minh của vị thần khôn ngoan Thot hay của bà tiên Sechat, lúc đó gồm hàng ngàn dấu hiệu hình người, hình thú, hình cây cỏ, hình đồ vật v..v.. chẳng hạn như cây sen có giá trị là số 1000, cái bình là 1 jarres dầu ăn, hai chân trước sau có nghiã là ‘đi’, ‘ra’ có nghĩa là cái miệng nhưng hình cái miệng cũng chỉ những từ ngữ ra, ri ro, ar, ir, or. Ngươì ta đã dò ra được những ký hiệu tương ứng với 24 chữ cái thời bây giờ nhưng còn những vần bằng trắ, âm, dấu nên lại cũng có rất nhiều hình tượng để chỉ những dấu này thành ra đọc được sử liệu Ai cập cũng còn nhiều chỗ nhầm lẫn chưa rõ ràng. Người Ai cập xưa cũng có sách giải mộng chẳng hạn như mơ thấy chôn ngươì già thì tốt, trường thọ, mơ thấy uống bia thì xấu: hết tiền, thấy soi gương cũng xấu, dấu hiệu có người đàn bà thứ hai v..v… Đời sống ngày xưa Dĩ nhiên ngày xưa chưa có tiền nên họ trao đổi phẩm vật với nhau: 1 bao lúa mì 73 lít 56; 1 deben đồng = 81 g như vậy một đôi giầy tuỳ theo kiểu trị giá từ 0.5 đến 3 deben, 1 áo chemise gía 3 đến 5 deben, con heo 5 deben, qua tài gỗ 25 deben. Nhà nước trả lương thợ, thày bằng nông sản: một người thợ khắc được mỗi ngày nhận được 2 lít bột mì, làm được 5 kí bánh đủ nuôi 6 ngươì; mỗi tháng họ nhận được1.5 bao luá mạch, làm được 115 lít bia, mỗi ngày được uống 3.5 lít. Người ta cũngkể lại cứ mỗi 19 ngày dân đánh cá mang đến làng
cá tươi hay khô trị gía 200 deban. Hàng ngày cũng có người đổ nước lấy từ giếng trong thung lũng. Nhà vua cũng thường ban thưởng cho họ cũng như hứa hẹn với những người thợ xây mồ, xây dinh thự: Ô, những người thợ khéo tay và can đảm, các ngươì sẽ có đủ mọi thứ vì ta rất biết giá trị việc làm của các người......Những người thợ khéo tay này khi rảnh rỗi còn tạo ra sản phẩm như hòm gỗ để bán ra vơí giá rất đắt. Nhiều bức họa cũng mô tả lại cuộc sống lứa đôi thời đó nhưng những bức khắc họa như vầy không có nhiều. Trên những bức khắc hoạ này, người vật được vẽ theo một mặt phẳng, thường thì khuôn mặt, chân tay, đầu, miệng được vẽ nghiêng nhưng mắt, vai, bàn tay thì như nhìn thẳng. Mầu sắc cũng được quy định: thân hình đàn ông nâu đỏ, đàn bà màu vàng, kích thước tuỳ chức vị: vua được vẽ to lớn hơn người thường, xếp lớn hơn nhân viên, con nít thì nhỏ xíu. Họ cũng dùng những đường vạch để mô tả những tìng trạng, cảnh vật khác nhau … Cũng có tỷ lệ tương xứng khi họa: người đứng 16 ô vuông, ngươì ngồi 14 ô, muốn vẽ nhỏ hơn nữa thì chia nhỏ ô vuông ra làm 2 hay 4. Những bức tượng phải được nhìn thẳng thường được đẽo gọt từ những đá khối hoặc ở trạng thái thư dãn nghỉ ngơi hay đang bước đi với 1 chân bước về trước, mỗi bức tượng đều có ghi tên của người đó. Thần linh Người Ai cập tin rằng mỗi ngày đều có một con thuyền bằng vàng khối băng ngang bầu trời sông Nil theo sau là các vì sao, các thượng đế. Thuyền do thần Rê, thần mặt Trơì phụ trách. Đêm đến Rê đi vào thế giới bên dưới và người chết chào đón Rê. Apophis, nửa rồng nửa rắn, kẻ thù của Rê luôn luôn tìm cách quay ngược con thuyền nhưng Rê thắng và mặt trời lại mọc lên ngày hôm sau. Những người theo giúp Rê gồm có Thot, thần của sự khôn ngoan, thần Trăng, Seth thần sa mạc, Mâat con gái Rê- đầu có chiếc lông dài, Isis thần của cải, Heqa thần ảo thuật v..v. Rê hợp cùng thần Amon của Thèbes và Ptah của Memphis thành bộ ba Ai cập ( chế độ đa thần mà Akhenaton chối bỏ, ông ra lệnh chỉ thờ thần mặt trời Aton, tượng trưng là cái đĩa tròn nhưng sau đó bị dân chúng và giáo sĩ chống lại). Các thần linh tạo nên nhiều huyền thọai của Ai cập và thường thần linh có hình thú như đầu chim ưng, báo, sư tử, vượn hay lai giống giữa người và thú. Thần Rê xuất hiện dưới nhiều hình dạng khác nhau vì đó là vị thần nhiều quyền năng, trách nhiệm. Sáng và chiều Rê có hình người đôi khi sáng có hình con cái ghẻ Khepri để lăn tròn được, chiều thì đỏ thì như đầu chim ưng, về với thế giới bên dưới thì như con báo hay con mèo lớn … Còn biết bao các vị thần khác như Shou, Tefnout,
Geb v..v… Những vị thần này sống ngay trên mặt đất trong những đền đài sang trọng bằng đá hoa cương dựng nên bởi các pharaons chẳng hạn như đền Karnak, Luxour… Ao Người Sao Khuê Rất nhiều quí vị đồng hương đã rủ nhau ta về ta tắm ao ta, tha hồ mà mát mẻ nhưng Sao Khuê vẫn chưa có dịp tắm ao nhà vì lý này do nọ như thường lệ. Trong lúc chờ đợi thì Sao Khuê có một vài người bạn cùng mang một nhóm máu, không phải rộng rãi đại lượng của người có máu O (có khả năng cho máu tất cả mọi người) hay ích kỷ của những người thuộc nhóm máu AB (chỉ có nhận mà không có cho, đúng ra chỉ cho được người cùng nhóm AB), Sao Khuê và vài người bạn có thêm nhóm máu là nhóm máu D; ấy, chớ có
tưởng lầm là tụi tui máu Dê nhé, máu D của tụi tui là Đ. Đ là ĐI, sous groupe là LT tức là tụi tui hay đi lang thang. Không tiền mua vé về ao nhà nên chúng tôi "rủ nhau đi tắm ao người, vừa trong vừa mát vui cười thỏa thuê". Quí vị có muốn tham gia nhóm đi lang thang này với chúng tôi Đầu tháng 10 có cái cuối tuần dài - long weekend - tội gì mà không đi, huống hồ đây là lúc lá đổi màu, lúc phong cảnh tuyệt đẹp - rừng phong thu đã nhuộm màu quan san- thì sao ta không dấn bước giang hồ nhỉ. Laurentides của Quebec nổi tiếng là đẹp nhưng năm nào cũng đi vả lại cũng mới đi cuối tuần trước; vậy thì kỳ này mời quí vị sang xứ Cờ Hoa, đi gần gần thôi, không sợ tốn nhiều tiền essence. Hay thật, quí vị đoán ngay ra là Sao Khuê rủ đi NewYork. Nói đến NewYork là khối người sợ run lên vì ám ảnh của biến cố 911(11 tháng 9), chẳng may mình đang đi dạo mà nhà đổ, bể đầu làm sao. Úi giời ơi , sống chết có số! À vị này không sợ nhưng Nữ thần Tự Do thì thấy hoài, outlet cũng mòn chân còn Empire state leo lên thì chóng cả mặt. Gớm, sao khó tính thế, chắc vị này chỉ lo theo dõi thị trường chứng khoán để mua bán cổ phiếu làm giầu thôi, chả gì thì New York cũng là túi tiền của thế giới mà. Ngoài ra New York còn có gì mà rủ đi? Có chứ, quí vị biết rồi, Sao Khuê chỉ thích cảnh thiên nhiên thôi,vậy thì lần này mời quí vị đi trèo đèo lội suối nhé. Chịu rồi phải không. Nào lên đường. Đi chơi, chả tội gì phải dậy sớm. Dậy giờ nào đi giờ đó. Rời Montréal từ 9 giờ sáng, tới biên giới Lacole đã 10 giờ. Úi chao, cả chục hàng xe chờ để qua biên giới mà mỗi hàng sơ sơ từ 50 xe trở lên thôi. Thế là mất 2 giờ chờ đợi. Cái biến cố 911 làm cho sự qua lại giữa Mỹ và Canada rắc rối thêm mà không hiểu sao người ta lại cũng rủ nhau đi Mỹ đông quá thế này? Họ đi đâu thế nhỉ, đi làm gì vậy nhỉ, chả lẽ bắt chước chúng mình đi thăm White Face Mountain thuộc vùng Adirondack mountain. Từ Canada sang, chúng mình lấy 87 south, lấy exit 34 vào 9N Southbound. Vào đến thành phố thì quẹo phải lấy đường 86 West (Wilmington), chạy tiếp... Trưa rồi, ghé vào chỗ có vài cái xe đậu xem là cái gì? Mèn ơi ! thác nước đẹp dễ sợ giống như thác Rowdon bên Québec. Đến giờ ăn rồi, ta trải chiếu bày bàn ăn. Đi chơi với Sao Khuê không tốn tiền ăn tiệm quí vị à. Một là Sao Khuê hà tiện, hai là - điều quan trọng - quí vị có tưởng nổi là chưa bao giờ Sao Khuê ăn nổi một cái big mag. Sao Khuê rất ghét ăn cơm Tây, con cái có mời đi thì chấm mút tí teo dù là tiệm nổi tiếng, đi beach thì đến ngày thứ tư là điên lên vì ăn không vào, chỉ muốn bay về ăn tô phở, thế cho nên đi đâu chơi Sao Khuê chỉ thích cơm VN, cơm Tàu, cơm Thái Lan ngoài ra... chê hết. Kén lắm nên khổ! Mà thôi, đói bụng rồi. Nào mời quí vị dùng món phở xào. Giản dị lắm cơ: hành khô - Sao Khuê nhắc là hành khô chứ không phải hành phi nhé, hành khô xào với dầu Canola (coi chừng bị khét nhé, dầu để nóng sau đó bắc ra khỏi lò cho nguội bớt rồi mới bỏ hành vào, làm như phi hành ăn bánh cuốn vậy đó), sau đó cho bánh phở đã nấu chín vào, để lại lên bếp đảo đều cho nóng rồi bỏ hộp mang theo. Món này ăn với thịt xá xíu bán sẵn ở chợ, với dưa leo và maggi. Nếu làm từ hôm trước thì sáng sớm, trước khi đi hâm nóng bằng micro-ondes. Dễ ẹc phải không quí vị mà ăn ngon lắm đấy nhé nhất là lại ăn bên bờ thác đổ ào ào, thông reo vi vút .
No bụng rồi, ta lên đường chứ. Thẳng tiến! ủa, sao càng đi lại càng xa núi thế này, điệu này lạc là cái chắc; dừng lại hỏi thăm cho chắc ăn. Biết ngay mà, phải quay đầu lại. Hoá ra đến đúng ngã ba để lên núi thì lạc đường: thay vì đi thẳng để lên núi thì Sao Khuê xúi dại tài xế quẹo trái tiếp tục theo đường 86 nhưng ở đời Tái Ông thất mã, trong cái rủi có cái may; khởi đầu Sao Khuê chỉ được con trai mách đi xem núi White Face Mountain nay nhờ lạc đường mới thấy quanh đó còn nhiều điều kỳ thú và mình thì nhà quê đặc chả biết gì... Đi có chút xíu thì đến nơi , nhưng mà lại phải xếp hàng dù đã 2 giờ chiều rồi mà người ta lại sẽ đóng cửa lúc 4 giờ rưỡi chiều. Hay là để đến sáng mai, chơi đựơc lâu hơn, từ 9 giờ sáng lận? Vé vào cửa là 5 Us một người, xe và tài xế là 9Us .. Thôi cứ lên đại, nếu đẹp thì mai ta trở lại xem chứ từ giờ đến tối biết làm gì cho hết ngày. Một dãy xe dài leo lên từ từ, càng lên cao càng đẹp. Tuy mới giữa mùa Thu nhưng nước đã đóng đá, giữ lại trên những mỏm núi bên đường. Một số người trong đó có Sao Khuê và hai bà bạn, sốt ruột rời xe đi ngắm cảnh cho đã con mắt. Đẹp quá, đẹp quá, bạn Sao Khuê cứ rên rỉ. Mà không đẹp sao được, từ trên cao nhìn xuống , bao la bát ngát , trùng trùng điệp những đồi đầy màu sắc. Máy ảnh là cứ bấm lia bấm liạ...."Nhìn xuống dưới, chập chùng xa, nhiều đồi nuí cheo leo; Cây với rừng rườm rà, đường Cờ Hoa, đường của Mỹ duyên núi sông vẫn như thắm nhoà".... Tội nghiệp cho bác tài, thôi để tôi lái đỡ, mời bác ra ngắm cảnh cho được công bằng... Hơn 30 phút sau thì lên đến nơi, đậu được xe. Có 2 đường lên, một là bằng thang máy hai là leo chân. Qua một hành lang khá dài như đường hầm, ghê quá , không hiểu nó có sụp xuống bất tử như cây cầu trên đường La Concorde ở Laval xứ Québec của Sao Khuê mới đây không. Chả gì thì Québec cũng vượt chỉ tiêu vì 2 lần cầu sụp, 2 lần máy bay chọn đường xe chạy của người ta làm phi đạo, bay bằng cánh không muốn lại muốn chạy bằng ba bánh cùng với xe hơi trên đường nhựa, ngộ chưa . Xứ Québec, nên cái gì cũng quê hết các bạn à: bảng chỉ đường chỉ dành cho những người biết đường!!! Đường thì đầy ổ gà sau mùa đông, lọc cà lọc cọc vào mùa hè, năm nào cũng sửa tới sửa lui. Gớm ca cẩm mãi, rồi cũng đến lượt mình vào thang máy. Cao lắm các vị ạ, cả hơn ngàn mét chứ ít sao, mổi lần chỉ chuyển được hơn chục người thôi. Wào!!!! ra khỏi thang máy là đã thấy dễ thở. Trời ơi! đẹp nín thở (Mỹ nó cũng nói như mình là đẹp đến nín thở - breathtaking - quí vị biết không). Trời vừa ấm với... áo manteau, vừa nắng đẹp trong vắt. Tạ ơn Trời một ngày nắng đẹp, tạ ơn đời ngắm cảnh rong chơi mà tại sao lại gọi ngọn núi cao hơn 1500 mét tức 3500 feet này là Núi mặt trắng (White Face Moutain ) nhỉ. "Có đám cây trên đồi, nở hoa như mơ hồ, làm người đi thăm lại nhớ đến tích xưa": Chuyện xưa kể rằng ... có một chàng trai trẻ rất ư là can đảm người Iroquois sống trong vùng núi đồi Adirondacks ; chàng muốn chinh phục một cô công chúa chúa ngươì Indians. Người đẹp muốn một tặng phẩm thật đặc biệt hiếm có... đó là da của con hươu đực màu trắng to lớn (The Great White Stag) thường đi lang thang trên đỉnh núi cao! Chàng trai nhận lời. Sau nhiều tuần lễ săn đuổi vô vọng thì một đêm kia, sương mù trên núi tan đi và chàng thấy con thú trắng to lớn sừng sững trước mặt mình!!!!! Đêm này chàng trai can đảm chỉ mang theo mình một món võ khí tự vệ là hai mũi tên thần mà viên tù trưởng đã tặng để đền ơn. Khéo léo chàng kéo dây cung, một mũi tên găm vào cổ con vật và mũi tên thứ hai vào ngang hông. Chàng gan dạ lao vào con thú. Than ôi! đỉnh núi quá cheo leo, con thú tuy bị kiệt quệ bởi mũi tên thần nhưng lại toòng ten ở rià núi xa tầm tay khiến chàng không sao với tới để lột được da! Ngày hôm sau thì tự nhiên con thú biến mất nhưng tảng đá nơi con thú bị treo mình hoá trắng. Từ đó, ngươì Iroquois gọi núi này là "White
Face" . Các bạn có thể thấy khuôn mặt của chàng trai can đảm (mà dại gái) này khi viếng tháp High Falls Gorge với Sao Khuê ngày hôm sau (không hiểu là người đẹp không có được quà tặng thì có nhận lời lấy chàng trai này nữa không?). Bây giờ mời bạn dạo chơi, chụp ảnh. Xa xa,cái hồ lớn kia là hồ Champlain, bên này hai chiếc hồ giao nhau là Hồ Gương (lac Miroir) và hồ Placid... Nhìn chân trời xanh biếc bao la , đồi nối đồi lá thắm xa xa ... đẹp! đẹp ...hơn Vạn Lý Trường Thành vì đồi cao đồi thấp nhấp nhô lá vàng nhìn qua con đường mòn cũ quanh co mấy chặng đường đi mới leo tới cùng ... Đẹp hơn Vạn Lý Trường Thành vì từ trên nhìn xuống là con đường quanh co mà hồi nãy mình lái xe qua và xa xa đến tận chân trời là những đồi núi đầy mầu sắc, xanh vàng cam tím của lá đổi màu, ai không tin thì cứ đi mà kiểm chứng. Ngắm mãi, nhìn mãi, suýt xoa mãi và hít thở thật nhiều không khí trong lành mãi... nhưng mà thoáng cái đã đến giờ đóng cửa thang máy rồi, người ta đã lục tục trở xuống. Sao Khuê vẫn còn ngần ngại trên núi đồi mà nhìn ra khắp nơi, phía dưới kia xa vời, người rủ nhau xuống đồi, rồi tản ra khắp nơi, thắm bao niềm chia phôi... “Thôi không dùng thang máy nưã, chúng mình leo chân xuống nhé, chắc đẹp lắm, có ai theo không?” Tưởng bở là đường xuống là những bậc thang, ai dè chỉ có vài đoạn ngắn có cầu thang gỗ còn thì là thang thiên nhiên tức những bậc đá, may mà còn có tay vịn. Ai mà mắc bệnh hay chóng mặt chớ dại leo trèo nhé vì .. đường chiều mịt mùng, đá và thang, ta lỡ đi vẫn phải đi. Dấn bước tang bồng giữa nơi núi rừng, bên là bạn thân bên là chồng ngoan, bên là ai oán, bên là chiều hoang tiễn đưa bóng nàng. Đường xuống núi chập chùng xa, nhiều bậc đá cheo leo, ta với bạn, chồng già ; thấy mình ngu.. nhỡ mà ngã rồi bỗng dưng cả lũ cười xòa... May quá , mấy ông bà lão ỷ đi gần không... mua bảo hiểm cũng xuống đến nơi an toàn !!!! Thôi mau mau đi tìm khách sạn kẻo đêm nay lại ngắm ngàn sao chứ không phải chỉ có một Sao… Khuê. Này phải tìm khách sạn nào nên thơ, nhìn ra bờ suối đây nhé. Ơ hay nhỉ, sao cứ "No Vacancy" thế này. Đừng sợ, đi thêm chút nữa đi. Ê chỗ này được đấy. Có ông nhân viên khách sạn kia kià... Sao? lại hết chỗ? ông ấy khuyên là hễ hỏi chỗ nào còn chỗ thì lấy đại đi vi hôm nay verry busy! Thế thì hết cả kén cá chọn canh! Vào đại đây đi. Hotel tuy thiếu sao nhưng rừng thu lại trước mặt, thêm nữa đến ba cái giường tha hồ mà ... ngủ, phòng ăn thì ngay dưới nhà. Ăn, tắm rồi... đi ngủ sớm nhưng mà có ngủ yên đâu, phải đến gần 11 giờ đêm mới hết tiếng xe moto, tiếng người nói... Sáng rồi, ăn sáng mau còn đi xem mặt trơì mọc bên hồ. Gần xịt là hồ Everest với bóng hàng cây tuyệt đẹp in hình dưới nước. Sao Khuê thích cái hình có hàng cây trụi lá mầu trắng này (1) quí vị thích không? À này mình thử ghé chỗ thác hôm qua xem có gì lạ không, đi dạo rừng thu, đạp trên lá vàng khô... Ý trời! thác dài dễ sợ, nước chảy siết tung mình trên những tảng đá ... Băng qua đường xem thác đi đến tận đâu. A! chỗ này lại giống thác nước bên Tầu; chỗ này nước đen chắc là sâu giống ở Tadoussac... thác còn dài lắm chả biết đến đâu mới hết nhưng chẳng hiểu sao lại để là đất tư, đi sâu vào cũng ơn ớn thôi trở ra. Gớm sao có người giầu thế, mua cả một khu rừng!!!
Tốp! tốp! quẹo vào đây! có bãi đậu xe và lắm xe chắc có gì lạ. Giòng suối nhỏ xíu vầy mà gọi lả High Falls Gorge ấy à, lại còn phải trả tiền vào cửa những 10,50 Us một người, coi chừng chả có gì hết, tốn tiền toi ... - Chị M.. à , thường thì H.. thấy ở Âu Mỹ, khi phải trả tiền vào cửa thì cũng đáng coi lắm, không sợ bị lừa đâu. - OK, thì vào. Hóa ra đây là phiá bên trái của cái thác mình đi dạo sáng nay, kia là chỗ mình ngồi ăn phở xào hôm qua, lại có bàn để picnic nữa, thế là chúng mình lại ngồi ăn bên bờ suối. Ăn cái gì ấy à, thì bánh giò với giò lụa mang theo đậm đà mùi vị quê hương... Nào lên đường. Ý, có cầu cho mình đi dọc theo thác, đến đây thì đáng 5 Us rồi, từ trên nhìn xuống, nước chảy siết ào ào, đẹp dễ sợ! dễ sợ chứ sao, sợ té xuống nhất là ở khúc quanh nước chảy thật siết này này, đến đây đủ 10 Us rồi , phần còn lại là bonus! Các bạn có biết 10.50 Us để làm gì không? để trả tiền parking , để trả chi phí dựng và bảo trì cây cầu bắc theo thác nước rồi băng qua thác nước giống như thác St Anne ở Québec vậy. Về muà đông nước đóng băng xem hình thấy cũng đẹp ...rùng rợn, mà mùa đông bạn có thể thuê giày để đi gọi là snowshoes để leo trèo rồi sau đó sưởi ấm bên lửa hồng cơ đấy nhé. Thác này bắt nguồn từ giòng sông gọi là Au Sable river. Sable là cát đó. Xứ Mỹ nhưng đôi khi có những địa danh mang tên Pháp. Gọi là Au Sable river vì giòng sông Cát này khi nước chảy mang theo nhiều cát, ngay bên bờ sông người ta cho nước chảy qua cái máng xối, dùng cái chặn để chặn cát lại. Để làm gì, đố các bạn biết? Một công ty chuyên môn bán các túi cát này, đâu 5, 6 Us một túi. Trong túi cát bạn có thể tìm thấy nhiều cục đá màu sắc đặc sắc mà ai thích về địa chất có thể lựa ra được nhiều khoáng sản khác nhau!!!!! bạn cũng có thể mua túi cát hay những cục sỏi đá nhiều mầu ở của hàng bán đồ kỷ niệm nếu thích. Tới đây thì các bạn thích rồi phải không, chưa hết đâu... Tiếp tục đi tới .. không xa lắm đâu, chúng mình đến thành phố nằm bên bờ hồ Placid. Bạn nhớ ra rồi hả. Nơi đây đã từng tổ chức thế vận hội mùa đông. Xem nào, bây giờ thì giống cái gì? Giống thành phố Mont Tremblant ở Laurentides . Tuy ít hồ nước hơn nhưng đông người, nhiều phố, dĩ nhiên là sang trọng hơn vì là thành phố du lịch mà. Sông nước nuí non ai mà chê, vậy thì ngồi bên Hồ Gương nhé. Lac Miroir chả gọi là Hồ Gương thì gọi là gì. Nước êm như mặt gương. Tuy hơi lạnh mà cũng có hai cậu thanh niên nhào xuống nước, chả hiểu về nhà có bị sưng phổ không... Mèo mù vớ cá rán, số cái bác tài này luôn luôn là như vậy. Đông người thế mà có ngay chỗ đậu xe trên đường lại không phải trả tiền vì ai để sẵn 2 giờ lận. Thế là có dịp ăn kem Bờ hồ. Tư tưởng lớn thường gặp nhau, mọi người đều đi ăn kem hay sao mà đông thế này .... Tiếp tục vòng vòng, rời hồ Gương qua hồ Placid, chỗ này nhiều khách sạn và là chỗ để cho tàu xuống hồ. Chán rồi ... tuy còn 2 ngày nghỉ nhưng dự báo thời tiết ngày mai trời xấu, mình trở vể Montréal thôi chứ... Bọc đường khác để ra 87 nên lại chạy xe theo ven hồ dài mà nhỏ. Sao Khuê chả biết tên hồ là gì nhưng cảnh chiều rơi trên hồ cũng khiến nhiều lữ khách dừng chân lãng du mà chụp hình. Đường chiều mịt mù, lá vàng rơi những ngựa (xe) phi. Đường trường chúng mình đi hương rừng vẫn còn bay trong gió, nắng chiều rơi sắp dần phai,
chúng mình lừng khừng vượt nuí non cũ, hết hành lương độ đường, cái bụng kêu óc ách ....đoi đói......nên về đến Brossard thì ghé ăn cơm Tầu!!!! Thực ra tiểu bang New York có rất nhiều phong cảnh đẹp, nhiều hang động mà Sao Khuê đã đi qua hay còn chưa biết. Bây giờ xin ghi lại vài địa chỉ để các bạn nào có máu D thích giang hồ vặt có thể đi chơi mà vẫn save miles, save time, save gazoline: • www.nynaturalwonders.com • www.stonebridgeandcaves.com • www.highfallsgorge.com • www.ausablechasm.com Sao Khuê xin dành ngạc nhiên cho qúi vị, nếu ai biết còn chỗ nào đẹp thì nhớ mách. Sao Khuê Montreal
Đi thăm Portugal Sao Khuê Portugal hay Bồ đào Nha là một nước nhỏ xíu nằm tận cực đông nam của Âu Châu, là bao lơn trông biển Đại tây dương của Âu châu, dính vào Âu Châu nhờ biên giới với Tây Ban Nha. Tuy dài có 560km và rộng có 110-220 km nhưng Portugal thật duyên dáng, quyến rũ với những cáng đồng nho xanh ngát, những cao nguyên lồng lộng gió, những triền đồi mầu mỡ và nhất là nhưng bãi biển xanh ngát một màu, chưa kể là quí vị nào tò mò muốn đi ném tuyết vào tháng năm (5) thì Portugal cũng làm vừa lòng quí vị luôn nếu quí vị chịu khó đi đến Da Estrela ở vùng Torre. Ngày xưa, Portugal được coi là đế quốc của biển cả. Nhờ ba mặt giáp biển, Portugal vào thế kỷ 14-15 đã quan hệ thương mãi với nhiều nước trên thế giới và đôi khi chinh phục cả những nước này. Năm 1507 người Bồ (Đào Nha) vào vịnh Ba Tư (Persique), năm 1510 đến Ấn Độ, năm 1511 đến và kiểm soát eo biển Malacca, 1513 người Bồ đến Trung Quốc, đặt đại sứ tại Thượng Hải năm 1517 rồi được Trung quốc cho lập thương điếm ở Macao. Năm 1543, người Bồ đến Nhật Bản và sau đó qua Nam Ấn Độ nhưng đến cuối thế kỷ 17 thì có sự cạnh tranh của Hòa Lan và Tây Ban Nha, Bồ chỉ còn giữ được 3 nơi là Goa, Diu, Damão, vì vậy Portugal trở về khám phá vùng đất mầu mỡ Br ésil và biến Brésil thành thuộc địa chính của Bồ. Ngày 11-11 năm 1755 có trận động đất kinh khủng tàn phá thủ đô Lisbonne, gần như toàn thể kiến trúc của Lisbonne chìm dưới biển. Năm 1807-1810 sau hiệp ước Fontainebleau, Portugal bị Pháp và Espagne đô hộ. Pháp gửi cả quân đoàn tới làm nhà vua Portugal hoảng sợ phải chạy sang Brésil tỵ nạn rồi lập hẳn một thủ đô của Portugal ở Brésil. Portugal cầu cứu Anh, và đến lượt Anh đô hộ Portugal. Năm 1890 Anh Pháp cùng nhau chia đế quốc Portugal (Portugal và các thuộc địa). Năm 1910 Portugal thành lập chế độ cộng hòa ở Lisbonne. Thế chiến thứ nhất Portugal về phe Anh Pháp chống Đức độc tài. Năm 1917, Đức Mẹ lại hiện ra ở Fatima báo tin thế chiến thứ nhất sắp chấm dứt. Từ 1921-1928 tại Portugal có nhiều biến động chính trị. Năm1926 chấm dứt nền đệ nhất cộng hòa với 45 chính phủ, 8 tổng thống, 5 lần giải tán quốc hội và trên 300 vụ ám sát chính trị trong có 15 năm. Chế độ độc tài thành lập và chế độ này dần dần đưa Portugal vào ổn định !!! Đến đệ nhị thế chiến thì Bồ liên kết với Espagne giữ độc lập nhưng tiên đoán được sự thất bại của Đức, Portugal liên kết với phe Đồng minh. Sau 1945 Portugal hướng về chế độ dân chủ tuy vẫn còn bị độc tài cai trị. Từ 1961 Portugal mất dần các thuộc địa. Năm 1970 nhà độc tài Salazar qua đời, Portugal rơi vào những cơn khủng khoảng chính trị. Ngày 24-4-1974 cách mạng ôn hòa Ouillet đem lại cho Portugal dân chủ và tự do, năm 1986 Portugal gia nhập cộng đồng Âu Châu và từ đó bắt đầu phát triển và đang dần dần đang đuổi kịp các nước ở Â Châu. Trải qua nhiều biến động và hưng phế nên vẻ mặt và ánh mắt của dân Portugais thường có nhiều u uẩn, chịu đựng nhưng thường thị họ rất hiền lành và sùng đạo. So với Espagne láng giềng Portugal không lộng lẫy tráng lệ bằng nhưng bù lại dân chúng lại hiền hòa tuy có hơi quê quê một chút.
Portugal hấp dẫn du khách nhờ những bãi biển cát mịn, những làng chài lưới, những sân chơi golf của vùng Algavre. Có hai con sông chính chảy qua Portugal là Tage và Douro trước khi chảy vào Điạ Trung Hải. Tare là con sông rộng chảy qua thảo nguyên Ribatejo nơi có những cánh đồng cỏ nuôi bò và bò mộng để đấu bò. Douro đã tưới mát cho những cánh đồng nho nổi tiếng của cảng Porto để sản xuất ra thứ rượu nổi tiếng khắp thế giới là rượu Porto. Hai thành phố chính mà chúng ta không thể không viếng thăm là Porto bên bờ sông Douro và Lisbonne bên bờ sông Tare. Con sông Douro bắt nguồn từ Espagne, dài đến 927 km chảy qua Porto trước khi đổ vào biển Địa Trung hải. Cây cầu hai tầng Dom Luis I nối liền Porto và Vila Nova de Gaia ở tả ngạn sông xây cất bởi phụ tá của Gustave Eiffel là Concu năm 1886. Phiá đông thành phố là cây cầu Dona Maria Pia xây bởi chính Eiffel năm 1877 (Eiffel là người dựng nên tháp Eiffel ở Paris). Nhà thờ Thánh đường - Sé Phái đoàn của Sao Khuê đến Porto vào chiều thứ bẩy. Khách sạn nằm ngay trung tâm thành phố. ‘Check in’ xong là kéo nhau đi phố. Xế ngay trước hotel là một nhà thờ của thành phố. Mặt ngoài nhà thờ đập vào mắt là những trang trí bằng cẩm thạch màu xanh dương, màu xanh rất đặc biệt Portugais. Đường phố dĩ nhiên rất nhỏ hẹp mà nhằm chiều cuối tuần nên nhiều cửa tiệm đã đóng cửa. Ghé vào mua ít cam, trái cây là món không thể thiếu trong thực đơn hàng ngày. Đi bộ chút xíu thì đến cathédrale mà dân Portugais gọ là Sé. Nhà thờ này rất lớn nằm trên ngọn đồi Penaventosa được coi là biểu tượng của Porto. Một cái sân rất rộng gọi là Terreiro da Sé ở giữa có xây cây cột theo hình trôn ốc thật lạ mắt. Sé được xây từ thế kỷ XII và XIIII mặt ngoài có cẩm thạch màu xanh dương đặc biệt của Portugal. Từ đây mà nhìn xuống thấy thành phố thật đẹp. Đã quá 6 giờ chiều, Thánh đường đã đóng cửa, không ai tha thiết vào thăm nhà thờ vì đã thăm quá nhiều nhà thờ nổi tiếng hồi đi Đông Âu năm ngoái 2007. Rủ nhau đi về phía bờ sông... Đây rồi! cây cầu sắt nổi tiếng D.Luis I xây hồi 1880-1886 do đệ tử của Gustave Eiffel cùng các kiến trúc sư Portugais và nhà thầu người Bỉ thực hiện. Theo đường đi lên cầu, khi nhìn xuống bên cạnh thấy những dãy nhà tôn xập xệ vá víu giống Việt Nam dễ sợ, mái nhà phủ đầy hoa tím, bên kia là bức tường thành ... Theo đường đi lên cầu nhìn xuống bên cạnh thấy những dãy nhà tôn xập xệ vá víu giống Việt Nam dễ sợ, mái nhà phủ đầy hoa tím, bên kia là bức tường thành ...
Leo lên cầu, đây là cây cầu hai tầng có đường đi bộ rộng rãi với đường xe chạy hai chiều, tầng trên nối với những khu phố trên đồi cao, tầng dưới nối các khu phố dưới thấp gần bờ sông. Bên kia cầu trên thì nhà ngói đỏ au, sang trọng đẹp ghê nơi, nhưng coi kìa bên dưới kia cũng hấp dẫn lắm chứ, làm sao xuống dưới bây giờ? Không có cầu thang đi xuống mà cũng không thể lăn tuột xuống cái một cho nhanh nên đành tà tà từ từ theo chỉ dẫn mà vòng trở lại Thánh đường, lần theo những con đường rất dốc cong queo nhỏ hẹp như đường ở khu phố Bàn Cờ ở Sàigòn ngày trước mà xuống dưới. Gần đến bờ sông có nhiều cửa hàng với đủ mặt hàng, nhiều nhất là rượu và bánh ngọt. Bờ sông đây rồi. Ui chao, cả một đám đông đang la hét trước một màn hình khổng lồ lộ thiên. .... Dô... dô! quả banh lọt vào lưới, thế là đội bóng Portugal thắng trận bán kết này rồi.... Trời còn nắng nên dù đã 7 giờ mà các quán ăn còn lác đác. Dân Âu Châu... phè lắm quí vị à. Họ đi làm từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa thì nghỉ ăn trưa, nghỉ miết tới 3 giờ chiều mới đi làm lại đến 8 giờ tối nên giờ cơm chiều của họ thường là sau 8 giờ. Portugal có cá sardine rất ngon thường được đóng hộp bán khắp thế giới nhưng mà bữa cơm hôm ấy không thể gọi là ngon được dù được ăn ngoài trời ngay bến sông, nơi nhộn nhịp nhất Porto. Eo ôi bụng nặng rồi mà phải leo cả con đường đường dốc cũ để trở về e hổng đặng. Hỏi thăm nơi nào có thang máy mà leo lên coi ... May quá xí xa xí xố một hồi cũng có người mách là gần đấy có téléphérique để đi lên, đường ra ngay trạm cuối của ga xe lửa, đi bộ chút xíu là về đến ‘nhà’. Sáng hôm sau rời Porto phái đoàn của Sao Khuê đi hành hương vùng Fatima. Nhìn vào bản đồ quí vị thấy vùng Tomar, Fatima gần ngay đó. Tiền lệ phí đường (péage - toll fee) khi gần đến Fatima rất đắt, một quãng ngắn mà phải trả trên 20 euros. Người ta kể rằng hồi 13 tháng 5 năm 1917 và cứ ngày 13 trong 5 tháng liên tiếp, Đức Mẹ hiện ra với 3 trẻ chăn cừu Lucia, Jacinta và Francisco 10,9,7 tuổi. Đang chăn cừu thì các trẻ này thấy trời bỗng sáng bừng lên và Đức Mẹ hiện ra, nói cho chúng biết là chiến tranh sẽ sảy ra, Portugal sẽ đứng về phiá Alliés đưa đến cuộc cách mạng vô sản vĩ đại ở Liên Sô (cánh mạng tháng mười Nga). Đức Hồng Y của Leiria cho phép được loan tin và ngày 13 tháng 10 năm 1917 có 70 ngàn tín đồ đã tụ tập tại Fatima để thấy được Đức Mẹ. Hiện nay hàng năm có khoảng 4 triệu người hành hương ở đây, riêng tháng 6 năm 2008 có thêm 8 người quan trọng nữa là Sao Khuê và đồng bạn. Sao Khuê đến Fatima vào ngày chủ nhật, vừa
đúng lúc đang làm lễ nên đã được dự lễ lớn này. Khi xưa,vùng đất Fatima rất hoang vu, nhưng vào những ngày hành hương lại rất đông, người ta phải xếp thành nhiều hàng rồi vừa quỳ vừa cầu nguyện trên quãng đường dài 600 mét. Ngày nay Fatima được xây dựng qui mô, rất khang trang rộng lớn. Xem lễ xong, Sao Khuê cũng bắt chước người ta xin nước Thánh xoa vào đầu gối cho khỏi đau nhức để còn đi chơi và đi cày mà lấy tiền đi chơi! Ăn uống qua loa, phái đoàn trực chỉ thủ đô Lisbonne. Phái đoàn đã giữ appartement ở hotel Altis.Trời thật đẹp, mà đẹp hơn cả là những chùm hoa tím đong đưa trồng hai bên lề đại lộ. Lisbone là thủ đô của Portugal, nằm ngay cửa biển nơi con sông Tage chảy ra biển, được mệnh danh là la Reine du Tage. Lisbone chiếm lấy vị trí thủ đô của Coimbra từ thế kỷ thứ 13, có rất nhiều kiến trúc tráng lệ như Monastere de Belém, hoàng cung de Sintra, couvent de Tomar. Đây là nơi mật độ dân số rất cao : 1000 dân/km vuông so với trung bình 110 dân / km vuông ở những vùng khác trong quốc gia. Lisbone có nhiều cảnh để thăm chẳng hạn như cầu Vasco-de-Gama dài nhất Âu châu 18km, xây xong từ 1998 sau 3 năm rưỡi với 3300 người thợ dưới sự chỉ huy của một kiến trúc sư người Pháp Jean Vassord. L’Oceanário (pavillon des Océans) thực hiện bởi một kiến trúc sư người Mỹ, Peter Charmayeff, ông này đã thực hiện Aquariums de Sydney, Baltimore, Gênes, Osaka. L`Oceanário là aquarium lớn nhất Âu châu, aquarium chính chứa được 7 triệu lít nước và 4 aquariums phụ nuôi những sinh vật đặc biệt của 4 đại dương: Atlantique, Antarctique, Pacifique và océan Indien. Nhà ga của Lisbonne rất tân kỳ vì trong suốt, làm toàn bằng kính và thép v..v... nhưng mà quí vị có biết tại sao Lisbonne lại có nhiều kiến trúc tân kỳ không? Quí vị nhớ trận động đất năm 1755 không, trận động đất vĩ đại đã phá hủy gần như toàn bộ Lisbonne rồi nhờ thủ tướng kiêm bá tước Pombal mà Lisbonne đã được xây dựng lại huy hoàng và tráng lệ hơn xưa. Lấy ‘nhà’ xong, trời còn sớm và qúa đẹp, chúng tôi leo lên xe chạy vòng vòng rồi trực chỉ khu Belém. Không phải hang Bélem lạnh lẽo Chúa sinh ra đời đâu quí vị ạ. Đây là Tour de Belém đã được Unesco nhìn nhận là di sản của thế giới, nhắc nhở cho người ta nhớ rằng Portugal đã từng là đế quốc hàng đầu của thế giới . Năm 1515-1521 Francisco de Arruda xây dựng nên Torre de Belém làm kho khí giới và nhốt tù nhân dồng thời là nơi trú ngụ của giám đốc cảng Lisbonne. Khởi đầu tòa nhà nằm giữa sông nơi sông Tage đổ ra biển nhưng sông cạn dần, bùn đọng lại và ngày nay toà nhà còn sót sau trận động đất 1755 này chỉ còn cách đất liền bằng chiều dài một cây cầu nhỏ. Trận động đất 1755 được mô tả như là biển cả đã ‘ói’ ra những vòi nước thuỷ
triều khổng lồ đen thui đặc quánh trong 10 giây và theo Voltaire thì 3 ngày sau đó gió cuốn ào ào gây hỏa hoạn khắp thành phố để Lisbonne chỉ còn lại những bức tường đen sì đổ vỡ loang lổ trừ tháp Belém và khoảng 3000 căn nhà còn tạm ở được trên tổng số 20.000 căn, Chỉ 5 trong 56 nhà thờ tồn tại. Hoàng cung với những thiết bị quí giá thì bị tiêu hủy hoàn toàn. Tháp Belém nay vẫn còn đủ 5 tầng Khi Sao Khuê đến nơi thì hết giờ vào thăm nhưng người ta bảo là khi vào được trong tháp sẽ còn nhìn thấy được trên sàn nhà những lỗ của phòng giam tù, tù sau khi bị đánh đập sẽ bị nhận chìm khi thuỷ triều lên. Lầu 2 và 3 là salle royal mà trần nhà được kiến thiết rất đẹp, nếu lên được đến trên cùng thì thấy được cảnh rất đẹp của sông Tage. Tour de Belém là biểu tượng quan trọng của Lisbonne và cả Portugal vì nơi đây nhắc nhở một thời vàng son dĩ vãng xa xưa. Vì cũng đã muộn nên Sao Khuê không thể vào viếng viện bảo tàng Etnologia hay Palais d’Ajuda của hoàng gia nghe nói giống Palais Caserne ở Naples và Orient ở Madrid, nhưng mà thôi, chả cần, chỉ cần viếng điện Louvre ở Pháp là đã đủ để biết đời sống vương giả của các ông hoàng bà chúa Âu châu lắm rồi. Khu Belém cũng có bảo tàng viện Macao trưng bày về Macao, một thuộc địa của Portugal. - Lên xe qua cầu mau đi. Cu Út của Sao Khuê muốn qua cầu để xem Tượng Chúa Cristo Rei xây trên đồi cao từa tưạ giống Thánh Giá ở Rio De Janero (một trong bẩy kỳ quan của thế giới). Sau một hồi leo tới xuống lui những con đường thật dốc nhưng nhỏ tẹo tèo teo vì tuy thấy Thánh Giá đó nhưng tìm được đường vào không dễ dù có GPS và gần chục cái miệng để hỏi thăm. Lên được đến nơi thì lại cũng đóng cửa rồi nhưng có lẽ đây là nơi cao nhất thành phố.Tượng Chúa cao tơí 28 mét dựng bởi Francisco Franco từ năm 1949 đến 1959 mới xong. Đường về vừa đói vừa mệt vì phải chờ trả tiền cầu nhưng nhờ có bếp, nấu được cơm nên được ‘xực phàn’ cơm Việt nam và khỏi lần mò đi tìm restaurant lúc trời tối thui. Sáng hôm sau, tà tà đi bộ … đi chút xíu là ra con đường chính của Lisbonne, Avenue Da Liberdade với một công viên rộng đẹp xanh mướt mầu xanh của một lọai thông có tàn rất lớn mà đi dưới đó mình không nhìn thấy mặt trời. Loại thông đặc biệt này Sao Khuê mới thấy lần đầu và thấy nhiều ở Lisbonne. Đại lộ rộng thênh thang với nhiều cửa hàng lộng lẫy bên lề đường, ngăn cách hai chiều xe là công viên chạy dài thật rộng ngợp bóng thông gìa. Tha hồ mà window shopping. Cuối đại lộ là khu thương mại đông đúc nhộn nhịp Baixa với tòa nhà của Khải hoàn môn và một quảng trường lớn rộng với 250 chuông đồng hồ chắc để nhắc dân Portugais mau mau tiến lên theo kịp thế giới văn minh. Trưa rồi, ghé vào ăn buffet Tàu Gino. Cái chaine buffet Gino có mặt khắp mọi nơi trên những quãng đường mà Sao Khuê đi qua dù là Portugal hay Espagne và tiệm nào cũng bằng ấy món y chang nhau . Ghét nhất là cho ăn mà không cho uống, đã vậy tiền nước thì đắt ghê, 1 chai nhỏ xiú gía 1 Euro nhưng sau này khôn ra, gọi chai lớn uống chung. Ăn xong tính leo Elevador de S. Justa cho biết mùi nhưng tới 40 euros mỗi người
nên chỉ leo phần miễn phí mà ra con đường khác rồi tà tà đi ra biển dưới trưa nắng gắt, vừa đi vừa shopping, rồi lại từ biển trở về, quẹo theo đường dốc mà lên Thánh đường- La Sé. Khát thấy mồ, yêu cầu tài vụ chi tiền uống nước, ăn kem. Cô bạn của Sao Khuê tên là Lựu biệt danh là ‘Lựu đạn’ giữ hầu bao. Giao tiền cho Lựu thì bảo đảm không mất, không hao hụt đã đành mà lại còn chi phí rất ít vì nàng kẹo ơi là kẹo! Đứng chờ xe bus lên cổ thành, mấy mợ đàn bà sà vào shop sắm đồ lưu niệm: - Xe đến rồi, ra mau, Lựu đạn đâu mua vé! Lựu lên trước mua vé xe, ông xã Sao Khuê còn kẹt ở dưới, quái lạ, lúc nãy vắng hoe mà sao bây giờ đông thế này. Chưa kịp kiếm chỗ thì thấy những người ngồi trên xe hét ầm ĩ rồi chỉ trỏ rồi om sòm, khi chàng leo lên xe được thì mới hay là ăn cắp đã tính móc túi chàng và mặc cho dân bản xứ la hét, bọn ăn cắp có lẽ theo dõi dân du lịch từ hồi ở nhà thờ ra nên chúng kéo ra cả bọn định để phân tán mỏng đoàn du lịch mà móc túi. Quí vị ơi, đi chơi thì thích thật nhưng hầu bao thì phải thủ cho kỹ, giấy tờ với tiền bạc thì Sao Khuê được bà bạn quí là Khanh (tên nàng là Khanh nhưng Sao Khuê cứ gọi yêu là Ái Khanh của Trẫm) may cho hai cái túi để cài vào trong quần, chưa kể là ngày đi Prague Sao Khuê đã ghé Paris mua 2 cái, rồi lại còn may thêm 3 cái để phát cho dâu và con. Lần trước dấu vào quần lót mặc nóng ơi là nóng nên lần này Sao Khuê may cái túi vào sợi thung lớn mà mặc vào người, tuy vậy ôm giấy tờ của hai người vì cái người họ Lơ tên Đãng, bọn móc tuí trông mặt mà bắt hình dung hay nắn túi chàng lắm cơ, chàng ta còn bị sờ nắn dài dài sau này và bị cả đoàn trêu là Thích Được Sờ… Cổ thành hay khu Alfama là lâu đài vua ngự từ thời đại ‘mauve’ (trung cổ - moyen âge) nằm trên đồi cao nhưng xe bus cũng leo lên gần tới nơi dù đường đi rất hẹp, lót đá gồ ghề quanh co khúc khuỷu, chưa kể trên đường còn gài mìn, đó là những cây cột kim loại nhô cao khỏi mặt đường nhưng khi xe bus đi qua thì tự động chui xuống; hay thật, chắc xe bus phải có code thì mìn mới chịu cho qua? Trước cổ thành Castelo de São Jorge có nhiều nhà bán quà lưu niệm, nhưng phải mua vé vào xem rước đã. Có nhiều thắng cảnh ở Âu Châu mà người Âu Châu không phải trả tiền còn khách du lịch trên 65 thì trả một nửa. Trừ những bức tường thành bao quanh và một số súng cà nông còn tồn tại, những dinh thự đã bị phá hủy nên nơi này chỉ là một di tích của một thời xưa huy hoàng. Đầu gối đau nên Sao Khuê không thể leo lên thành cao mà ngắm ra xa, đành chỉ đi quanh quẩn bên dưới nhưng đây là khu vục cao của Lisbonne nên nhìn xa cũng thấy được cảnh bên dưới. Trên đường đi trở ra thấy được chú công xanh đang xoè cánh đi kiếm và gọi bồ. Con công đẹp thế mà tiếng kêu thì the thé khó nghe, vang xa thật to. Ghé mua chút quà cho ái Khanh chứ nhỉ. Bàn tơí tính lui là đi cách nào về, cuối cùng những kẻ tò mò và… hà tiện đi lần theo đường đá nhỏ lồi lõm mà trở ra đường lớn. Mò mãi cũng lết tới đường lớn trở về. Con đường thật đẹp với những vân đá cẩm thạch hình mosaique nhiều mầu nhiều kiểu, theo những tàn lá thông mát mắt nhưng mà mệt quá mất đi thôi, phải nghỉ mấy chặng mới về đến nhà bằng cách đi tắt, băng qua jardin botanique. Mà này, quí vị có nhớ ai đã ‘làm’ ra chữ quốc ngữ không nhỉ? Xin mời quí vị đọc tài liệu lấy từ internet để thấy Sao Khuê là người nói có sách mách có chứng và lý do tại sao Sao Khuê lại dẫn quí vị qua Portugal chơi : Tờ MISSI (do các cha dòng Tên người Pháp điều khiển) nói về công trình khai sinh chữ Quốc ngữ với tựa đề: "Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ". Tiếp đến, tờ MISSI viết: "... Khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên ‘La tinh- Bồ - Việt Nam’và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Alexandre de Rhodes đã giải phóng nước Việt Nam. "... Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn xử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý như người Tàu.
"... Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre de Rhodes Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ. "... Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Đắc Lộ khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, cha Đắc Lộ là người đưa công trình chế biến chữ Quốc ngữ đến chỗ kết thúc vĩnh viễn và thành công, ngay từ năm 1651, là năm mà cuốn tự điển Việt-Bồ-La chào đời. Đây cũng là năm sinh chính thức của chữ Quốc ngữ. Và cuộc khai sinh diễn ra tại Roma, nơi nhà in Vatican. Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình. "... Đã từ lâu đời, người Việt Nam viết bằng chữ Tàu, hoặc bằng chữ Nôm, do họ sáng chế ra. Nhưng đa số người Việt Nam không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì theo lời cha Đắc Lộ, Tàu có đến 80 ngàn chữ viết khác nhau. Các nhà truyền giáo đầu tiên khi đến Việt Nam, đã bắt đầu dùng mẫu tự La Tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Khi cha Đắc Lộ đến Việt Nam, đã có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La Tinh rồi. Vì thế, có thể nói rằng, công trình sáng tạo ra chữ Quốc ngữ trước tiên là một công trình chung của các nhà thừa sai tại Việt Nam. Nhưng khi chính thức in ra công trình khảo cứu chữ viết tiếng Việt của mình, là cùng lúc, cha Đắc Lộ đã khai sinh ra chữ viết này, ban đầu được các nhà truyền giáo sử dụng, sau đó, được toàn thể dân Việt Nam dùng. Cha Đắc Lộ sinh tại Avignon, miền nam nước Pháp. Ông gia nhập dòng Tên tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển. Tuy nhiên, cùng với đà tiến này, Giáo hội Công giáo cũng gặp sức kháng cự vũ bão của chính quyền các dân tộc được rao giảng Tin Mừng. Vì thế, bên cạnh nhiệt tâm truyền giáo, còn phải kể ước muốn được đổ máu đào minh chứng cho Chúa Jesus của các vị thừa sai tiên khởi. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia) ), tổ tiên sang tị nạn dưới bóng Giáo Hoàng vì thời ấy Avignon là đất của Giáo Hoàng, nên tên ông là Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ). Người Việt gọi Alexandre de Rhodes là Giáo sĩ Đắc Lộ. Cha Alexandre de Rhodes đã xin và được Bề Trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản. Ngày 4 tháng 4 1619, ông lên đường vào tuổi 26, cùng với kiến thức sâu rộng về thiên văn học và toán học. Cha Alexandre là một người cường tráng, vui vẻ và lạc quan, luôn nhìn khía cạnh tích cực của vấn đề. Ông thích nghi nhanh chóng với mọi môi trường sống và cư xử giản dị trong giao tế với người khác.Đầu tiên, cha Alexandre de Rhodes cập bến tại Goa, đợi chờ cơ hội thuận tiện đặt chân lên đất Nhật Bản. Nhưng tình hình bách hại Kitô Giáo dữ dội tại đây đã khiến các Bề Trên buộc lòng chỉ định ông đi Trung Quốc. Ông lên tàu đi Ma Cao, ở đó ông đã ghi lại những nhận xét về người Trung Hoa: "Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng tôi vẽ. Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ còn là chấm nhỏ trong vũ trụ Trái Đất bao la. Trái lại, nơi bản đồ trái đất hình vuông do họ vẽ, Trung Quốc nằm chính giữa, đúng như tên gọi (Trung Quốc-nước ở giữa). Sau đó, họ vẽ biển nằm bên dưới Trung Quốc, trong đó rải rác mấy đảo nhỏ, và họ đề tên: Châu Âu, Châu Phi và Nhật Bản..." Đầu năm 1625, cha Alexandre cùng với bốn cha dòng Tên khác và một tín hữu Nhật Bản, cập bến Hội An, gần Đà Nẵng. Ông bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Thầy dạy tiếng Việt cho ông là một cậu bé khoảng 10, 12 tuổi. Ông viết: "Chỉ trong vòng 3 tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức gì về ngôn ngữ Châu Âu, thế mà, cũng trong vòng 3 tuần lễ này, cậu đã có thể hiểu được tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc, học viết tiếng Latin và đã có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành thày giảng giúp việc các cha truyền giáo và là một dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của thày và nơi Vương quốc Lào láng giềng."
Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha Alexandre de Rhodes, nhưng cuộc đời truyền giáo của ông ở đây rất bấp bênh và trôi nổi. Trong vòng 20 năm, ông bị trục xuất đến sáu lần. Nhưng sau cả sáu lần ấy, ông đều tìm cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép. Ông đến truyền giáo ở Đàng Trong vào năm 1625 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên và ở Đàng Ngoài vào năm 1626 dưới thời chúa Trịnh Tráng. Thời gian cha Alexandre de Rhodes giảng đạo tại Việt Nam cũng là thời kỳ các cha thừa sai dòng Tên hoạt động rất hăng say và hữu hiệu. Riêng cha Alexandre de Rhodes, ông đã truyền đạo từ Nam ra Bắc. Ông kể lại công cuộc truyền giáo tại Bắc Phần: "Khi chúng tôi vừa đến kinh đô Bắc Kỳ, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một nhà thờ thật đẹp. Dân chúng tuôn đến nghe tôi giảng đạo đông đến nỗi, tôi phải giảng đến 4 hoặc 6 lần trong một ngày. Chị vua và 17 người thân trong gia đình vua xin lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Nhiều tướng lãnh và binh sĩ cũng xin theo đạo. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là có các vị sư cũng đã đạo Công giáo. Tất cả đều dễ dàng chấp nhận khi tôi giải thích cho họ hiểu giáo lý đạo Công giáo rất phù hợp với lý trí và lương tâm con người. Các tín hữu Công giáo Việt Nam có Đức Tin vững chắc đến độ, không gì có thể rút Đức Tin ra khỏi lòng họ. Nhiều người phải đi bộ suốt 15 ngày đường để được xưng tội hoặc tham dự thánh lễ. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi không thể chu toàn cách tốt đẹp mọi công tác truyền đạo này, nếu không có trợ giúp tuyệt vời của các thầy giảng. Vì nhận thấy mình là linh mục duy nhất giữa một cánh đồng truyền đạo bao la, nên tôi chọn trong số các tín hữu, những thanh niên không lập gia đình và có lòng đạo đức sâu xa cũng như có nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, để giúp tôi. Những người này công khai thề hứa sẽ dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo hội, sẽ không lập gia đình và sẽ vâng lời các cha thừa sai đến Việt Nam truyền đạo. Hiện tại có tất cả 100 thày giảng đang được thụ huấn trong chủng viện và được các tín hữu trang trải mọi phí tổn." Năm 1645, ông bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Khi trở lại châu Âu, Alexandre de Rhodes vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu, đã xin Tòa Thánh gửi các giám mục truyền giáo đến Á Châu, để các ngài có thể truyền chức linh mục cho các thày giảng bản xứ. Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 ở Ispahan, Ba Tư, 15 năm sau lần cuối cùng bị trục xuất khỏi Việt Nam. Quan điểm hiện nay cho rằng các giáo sĩ vừa đi truyền đạo vừa làm gián điệp. Nếu nói rằng các nhà truyền đạo là gián điệp thời xưa thì hơi gay gắt. Nhưng trong khi vua chúa Pháp còn mê mải bởi các trận chiến tranh giành đất, giành người hay vì đam mê tửu sắc, cản trở bởi quần thần trong triều đình, hay lo hưởng thụ, thì Giáo Hoàng đã gởi riêng các giáo sĩ đi khắp nơi để truyền giáo trên thế giới. Chính vì các giáo sĩ đi đó đi đây, biết cảnh biết người, tiếp xúc nhiều, có khả năng phán đoán và nhận xét một cách khoa học, được giáo dân tôn trọng kính nể, họ là những nguồn tin tức sống động và đáng tin cậy, và trên thực chất họ là những người đi khai phá. Mãi cho đến thế kỷ thứ 16, theo lịch sử chánh thức của triều đình Việt Nam (Khâm Định Việt Sử) thì từ năm 1533 đời vua Lê Trang Tông có chiếu chỉ cấm đạo Công Giáo ở Việt Nam. Vào năm 1651, giáo sĩ Đắc Lộ cho in cuốn Từ Điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó. Có thể coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày qua đời của cha Alexandre de Rhodes, nguyệt san MISSI, do các cha Dòng Tên người Pháp điều khiển, đã dành trọn số tháng 5 để tưởng niệm và ca tụng Cha Đắc Lộ, một nhà giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng. Bản thân Alexandre de Rhodes đã viết như sau
"Khi tôi vừa đến Nam Kỳ và nghe người dân bản xứ nói, đặc biệt là phụ nữ, tôi có cảm tưởng mình đang nghe chim hót líu lo, và tôi đâm ra ngã lòng, vì nghĩ rằng, có lẽ không bao giờ mình học nói được một ngôn ngữ như thế. Thêm vào đó, tôi thấy hai cha Emmanuel Fernandez và Buzomi, khi giảng, phải có người thông dịch lại. Chỉ có cha Francois Pina là hiểu và nói được tiếng Việt, nên các bài giảng của cha Pina thường đem lại nhiều lợi ích hơn là của hai cha Fernandez và Buzomi. Do đó tôi tự ép buộc mình phải dồn mọi khả năng để học cho được tiếng Việt. Mỗi ngày tôi chăm chỉ học tiếng Việt y như ngày xưa tôi học môn thần học ở Roma. Và nhờ ơn Chúa giúp, chỉ trong vòng 4 tháng, tôi học biết đủ tiếng Việt để có thể giải tội và sau 6 tháng, tôi có thể giảng được bằng tiếng Việt. Kết quả các bài giảng bằng tiếng Việt lợi ích nhiều hơn các bài giảng phải có người thông dịch lại." Nguyệt san MISSI đã ca ngợi vai trò của Alexandre de Rhodes hơi quá, vì chính họ cũng viết rõ là trước de Rhodes đã có một số nhà truyền giáo ghi lại tiếng Việt bằng chữ cái La tinh, nhưng tiếp theo đó lại tôn vinh de Rhodes là người khai sinh ra chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên, De Rhodes rõ ràng đã có công lớn trong việc hệ thống hóa việc ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái La tinh một cách đầy đủ. Nhờ cuốn từ điển Việt-Bồ-La của ông, chữ Quốc ngữ mới bắt đầu phổ biến trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đặt nền móng cho việc sử dụng rộng rãi sau này. Ngoài cuốn Tự Điển Việt-Bồ-La Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum đã được Kho Tàng trữ của Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha scan và đưa lên mạng Internet, còn có nguyên bộ các tác phẩm khác trong ấn bản đầu tiên ở thập niên 1650 mà Giáo sĩ Đắc-Lộ viết bằng tiếng Latin và tiếng Pháp có thể tìm thấy tại Thư viện Maurits Sabbe của Đại học Công giáo tại Louvain (Université catholique de Louvain) tại Bỉ. Ngoài ra, có thêm một số ấn bản hoặc tái ấn bản cũng được tìm ra trong cơ sở tài liệu Porbase của Liên hiệp các thư viện. Phần trên đây chỉ là sưu tầm trên mạng, có thể có điều không chính xác, xin quí vị tuỳ nghi thẩm định, riêng Sao Khuê phải đổ xăng cho mấy cái bao tử đã. Sau khi đi siêu thị mua thức ăn, trái cây, ăn tối và ngủ đêm, sáng hôm sau 10-6-2008 phái đoàn của Sao Khuê rời Portugal để… trở về Espagne, tiếp tục cuộc hành trình ‘Đi tìm sự thật’…Tuy Portugal không đô hộ chúng ta như người Pháp nhưng giữa Việt nam và Bồ đào Nha cũng có nhiều “duyên”. Quí vị, nếu để ý sẽ thấy chữ viết Việt và Bồ có nhiều dấu ngã. Portugal tuy là một nước nhỏ nhưng cũng có nhiều cảnh đẹp lắm xứng đáng để đi thăm không phải một mà nhiều lần quí vị ạ. Sao Khuê
Miến Điện: Sơ Lược Sao Khuê Myanmar còn gọi là Burma có tổng diện tích 678.50 cây số vuông, là nước lớn nhất Đông Nam Á. Myanmar có bờ biển dài 1.930 km dọc theo Vịnh Bengal và Biển Andaman, có biên giới dài nhất với Tây Tạng, Vân Nam của Trung Quốc, giáp với Lào và Thái Lan ở phía đông nam. "Miến Điện" là tên gọi người Trung Quốc đặt cho Myanmar, có nghĩa là vùng đất xa tắp, xa vời, xa tít tắp. Năm 1989, hội đồng quân sự đổi tên tiếng Anh từ Burma thành Myanmar. Nhiều nhóm người Myanma tiếp tục sử dụng tên "Burma" vì họ không chấp nhận chính quyền quân sự. Một vài chính phủ phương tây, chẳng hạn Hoa Kỳ, Úc, Ireland và Anh tiếp tục xử dụng tên "Burma", trong khi Liên minh châu Âu xử dụng cả hai. Ngôn ngữ Myanmar, tiếng mẹ đẻ của người Bamar là ngôn ngữ chính thức của Myanmar. Myanmar rất coi trọng việc giáo dục. Ở làng, các giáo sĩ dạy trẻ nhỏ trong các ngôi chùa. Sao Khuê đến thăm ngôi chùa ở Mandalay, trời rất nóng, vị sư quạt tay liên tiếp và mấy trẻ nằm bò trên sàn ê a, y như các hình vẽ ông đồ dạy học ngày xưa ở Việt Nam. Khi lớn lên các học sinh, sinh viên sẽ theo học các trường trung học, cao đẳng, đại học nhà nước. Myanmar có 135 dân tộc khác nhau. Người Bamar chiếm khoảng 68% dân số, 10% là người Shan. Myanma có bốn ngôn ngữ chính: Hán-Tạng, Nam Á, Tai-Kadai và Ấn-Âu. Theo Thống kê UNESCO, tỷ lệ biết đọc biết viết chính thức của năm 2000 là 89,9%. Một em bé thuộc cộng đồng thiểu số Padaung, một trong nhiều dân tộc thiểu số tạo nên dân số Myanma. • Vào khoảng trước những năm 800, người Bamar (người Miến Điện) bắt đầu di cư tới châu thổ Ayeyarwady. Tới năm 849, vương quốc đã thành lập xung quanh trung tâm Pagan (Bagan bây giờ) trở nên hùng mạnh. • Thập niên 1100, nhiều vùng lớn thuộc lục địa Đông Nam Á đã thuộc quyền kiểm soát của vương quốc Pagan, thường được gọi là Đế chế Miến Điện thứ nhất với kinh đô tại Mandalay. • Tới cuối thập niên 1200, Hốt Tất Liệt đã thống lĩnh quân Mông Cổ xâm lược Vương quốc Pagan, nhưng tới năm 1364 người Miến Điện đã lập lại vương quốc của họ tại Ava, • Những người Miến Điện chạy trốn khỏi Ava thành lập Vương quốc Toungoo năm 1531 tại Toungoo, dưới quyền Tabinshwehti, người đã tái thống nhất Miến Điện và lập ra Đế chế Miến Điện thứ hai. • Alaungpaya thành lập nên Triều đại Konbaung và Đế chế Miến Điện thứ ba vào khoảng
• Nhà Thanh (Trung Quốc) đã bốn lần xâm lược nước này trong khoảng thời gian từ 1766 đến 1769 nhưng không lần nào thành công. • Trong các cuộc chiến tranh Anh-Miến (1823-26, 1852-53 và 1885-87), Miến Điện mất một số lãnh thổ vào tay người Anh và trở thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh. Ngày 1 tháng 4 năm 1937, Miến Điện trở thành một thuộc điạ riêng biệt, tách ra khỏi Ấn Độ. Trong thập niên 1940, ba mươi chiến hữu được huấn luyện quân sự tại Nhật Bản do Aung San lãnh đạo đã lập nên Quân đội Miến Điện độc lập. • Trong Thế chiến thứ hai Miến Điện trở thành một mặt trận chính tại Mặt trận Đông Nam Á. • Năm 1947, Aung San trở thành Phó chủ tịch Uỷ ban hành pháp Miến Điện, một chính phủ chuyển tiếp. Tháng 7 năm 1947, các đối thủ chính trị đã ám sát Aung San và nhiều thành viên chính phủ khác. • Ngày 4 tháng 1 năm 1948, quốc gia này trở thành một nước cộng hòa độc lập, với cái tên Liên bang Myanma, với Sao Shwe Thaik là tổng thống đầu tiên và U Nu là thủ tướng. Lá cờ của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ được thể hiện bởi một chú 'gà chọi', một biểu tượng của tự do • Năm 1974, Myanma lấy quốc hiệu mới là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Myanma. Cùng năm này, đám tang của U Thant dẫn tới một cuộc biểu tình chống chính phủ đẫm máu. • Năm 1988, quân đội Myanma đã dùng vũ lực đàn áp các cuộc biểu tình. • Năm 1990, bầu cử tự do được tổ chức, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, đảng của bà Aung San Suu Kyi, thắng 392 trong tổng số 485 ghế, nhưng các kết quả của cuộc bầu cử đã bị SLORC huỷ bỏ và quân đội từ chối giao lại quyền lực. Aung San Suu Kyi được quốc tế công nhận là một nhà hoạt động vì dân chủ tại Myanmar, đoạt Giải Nobel Hòa bình năm 1991. Bà đã nhiều lần bị quản thúc tại gia. • Quân đội đã di chuyển thủ đô từ Yangoon tới một địa điểm gần Pyinmana, đặt tên chính thức cho nó là Naypyidaw, có nghĩa "vùng đất của những ông vua". • Năm 2010, quốc hiệu của Myanma đổi thành Cộng hòa Liên bang Myanma (tiếng Myanma: ပြညထ် ောာ ာ ငစ််ုာ် သမ္မတ ပာမ္္ာ်နမ္္ာ္ောာ ာ နင ာ င််ု ေထ်ေံ တ ာ်, tiếng Anh: Republic of the Union of Myanmar. Do sự độc tài của chính quyền quân đội, Miến Điện bị cấm vận nhiều năm, thành một trong những nước nghèo, kém phát triển. Hiện nay, Mỹ và Châu Âu đã mềm mỏng hơn. Mỹ sẽ từng bước dỡ bỏ cấm vận và cải thiện quan hệ nếu chính quyền Myanmar thể hiện những tiến bộ dân chủ . Thein Sein tiếp kiến TT Hoa Kỳ Barack Obama tại Yangon, 19 tháng 11 2012 • Đầu tháng 2/2011, Quốc Hội Myanma đã bầu một cựu tướng lãnh làm thủ tướng và ông Thein Sein làm tổng thống dân sự đầu tiên sau gần 50 năm cầm quyền của quân đội. Kinh tế Myanmar là một trong những nước nghèo nhất thế giới do bị kiểm soát chặt chẽ. Myanmar bị liệt vào hạng nước kém phát triển nhất năm 1987. Tuy nhiên, thời thuộc địa Anh, Miến Điện
là một trong những nước giàu có nhất vùng Đông Nam Á. Đây là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và là nước cung cấp dầu khí thông qua Công ty Dầu khí Miến Điện. Myanmar cũng là nước sản xuất thuốc phiện lớn thứ hai thế giới, chiếm 8% tổng lượng sản xuất toàn cầu và là nguồn cung cấp các làm ra chất ma tuý, gồm cả amphetamine. Văn hoá Phật giáo và Bamar là hai nền văn hóa chính. Phật giáo Tiểu Thừa được coi là quốc giáo. Trong các làng Myanmar cổ truyền, chùa là trung tâm của đời sống văn hóa. Các nhà sư được sùng kính và người dân luôn quỳ trước mặt để tỏ lòng tôn trọng họ. Các chú bé phải trải qua lễ nhập tu được gọi là shinbyu và vào chùa tu trong một khoảng thời gian ngắn. Với các thiếu nữ thì lễ xỏ lỗ tai cũng quan trọng như hôn lễ và được tổ chức cùng lúc với lễ xuất gia của anh hay em trai. Giáo dục ở Myanmar theo hệ thống giáo dục của Anh Quốc. Một em bé thuộc cộng đồng thiểu số Padaung, một trong nhiều dân tộc thiểu số tạo nên dân số Myanma Một phụ nữ Kayan Y phục Người Myanmar, nam nữ quanh năm mặc váy, gọi là longyi. Nam mặc longyi kẻ ca rô sẫm còn nữ mặc vải hoa nhiều màu. Longyi của nữ có dây buộc, Longyi giới nam chỉ là 1 miếng vải quấn quanh người dễ tuột nên thỉnh thoảng họ phải gỡ ra, quấn lại. Các thanh niên trẻ và khá giả mới mặc quần tây. Người Myanmar, cả nam lẫn nữ chỉ xỏ dép không mấy khi đi giày. Tài liệu lấy trên mạng Sao Khuê
Miến Điện: Yangon Sao Khuê Rời Maldives, Sao Khuê sang Miến Điện, muốn vậy Sao Khuê phải lấy thuỷ phi cơ từ hotel Conrad ra đảo Males. Males là đảo chính của nước Maldives, từ đây mới có máy bay sang Singapore để đến Bangkok rồi từ Bangkok mới có máy bay qua Miến Điện . Cậu Út của Sao Khuê thích chơi sang mà không muốn tốn tiền nhiều nên bầy đặt đi vòng vo tam quốc để lấy điểm (points) và đổi điểm để ngồi business class có chỗ nằm ngủ khi đi đường dài… Dĩ nhiên Miến Điện chẳng phải là xứ Tây hay xứ Mỹ mà quí vị có thể thuê xe tự lái đi lang thang được nên trước khi đến đây quí vị phải book tour. Sao Khuê vào internet tìm ra một tour do VN tổ chức, đặt ở Hà Nội, mail qua mail lại, giá 2000 USA cho một tuần gồm hotel 5 sao, ăn uống, xe, guide, vé vào cửa nếu cần và máy bay nội địa khi di chuyển từ tỉnh nọ sang tỉnh kia, bốn tỉnh cả thẩy. Giá đắt vì tour chỉ có bốn người nhưng cũng để quí vị thấy là bên Miến Điện không rẻ như ở Thailand. Đặt cọc mỗi người 100 US xong rồi thì nghĩ sao cu Út xù. Út sợ công ty du lịch bên VN đem con bỏ chợ, trả hết rồi đến nơi không ai đón, thà mất 400 US hơn mất 8000 US. Sau đó qua trung gian một nhân viên người Canadian trong nhà bank, gia đình Sao Khuê đến M Đ (M Đ viết tắt cho chữ Miến Điện) rồi theo tour Exotissimo của Miến mà đi thăm M Đ. Nói chung tour Exotissimo rất đàng hoàng nhưng cũng đắt tương tự. Họ lo cho chúng ta chu đáo, cho địa chỉ, số điện thoại của công ty ở từng tỉnh, địa chỉ liên lạc khi khẩn cấp, tỉnh nào họ cũng có đại diện cả. Tuỳ theo số ngày quí vị lưu lại M Đ mà lấy tour. Ở nhiều ngày, đi nhiều nơi, nhiều tỉnh, tốn nhiều tiền. Với sáu đêm, Sao Khuê chỉ đi có bốn nơi chính là Yangon, Bagan, Mandalay và Inle theo hướng dẫn du lịch trên internet. Qua M Đ, quí cũng nên nhớ tuân theo một số qui định nếu không muốn bị quản chế giống như bà Aung San Su Kyi: • Không được dùng chân để chỉ. • Không được sờ đầu, sờ áo sư hay làm rộn trong chùa. • Không được hôn nhau. • Không được dùng tay để gọi (ngoắc tay) • Không được cho tiền ăn mày hay trẻ em mà hãy tặng tiền cho cơ quan hay hội từ thiện. Với diện tích gần 700.000 cây số vương, 135 chủng tộc, Myanmar còn gọi là Burma, là một nước lớn giáp Trung Hoa , Lào, Ấn độ nhưng nghèo và kém phát triển do tình hình chính trị không bao giờ ổn định. Hiện nay Miến Điện vẫn do quân đội điều khiển. Thế giới chú ý đến Miến Điện sau khi bà Aung San Sui Kyi từ Anh về bị giam lỏng: Chính quyền quân đội đưa ra lệnh sẽ không cho phép bà về lại quê hương Myanmar lần nữa một khi bà rời khỏi đây. Bà đã chọn ở lại đất nước để đấu tranh cho dân chủ, chấp nhận phải vĩnh viễn xa chồng bên nước Anh. Cuộc đời bà được mô tả trong cuốn phim The Lady, rất nổi tiếng năm 2011… Gia đình Sao Khuê tới phi trường Yangon vào xế trưa. Nắng chói chang. Phi cảng có kiến trúc tiêu biểu của xứ Chùa Tháp: mái theo hình mái chùa, thếp vàng óng ánh dưới ánh mặt trời. Trời đất quỷ thần ơi, đang sống cái nơi có bán vé lên… cung trăng mà sang đây thì quí vị có cảm giác mình đang là diễn viên phim khoa học giả tưởng, đi trở ngược thời gian cỡ trăm năm. Nơi đây chả có tí máy móc nào cả ngoài máy bay, còn mọi việc do người làm hết, bốc vác và di chuyển hành lý bằng xe cút kít, tiếc là Sao Khuê hồi hộp vì sợ vướng phải những điều lệ của mấy ông quân đội nên chả dám chụp hình cho quí vị xem (thời điểm này, 2013 Miến Điện vẫn còn do chính phủ quân đội lèo lái). Xe của công ty có đại diện vào tận trong để đón, mỗi người được
phát nước chai và khăn mới mát lạnh để lau mặt trong suốt hành trình, dĩ nhiên là xe van còn mới và có máy lạnh. Từ phi trường, xe chạy vào thành phố Yangoon. Cảm tưởng của Sao Khuê là trở lại Cần Thơ hồi đó… Điểm đặc biệt đập ngay vào mắt du khách là má vàng. Từ trẻ con, dù là trai hay gái đến các cô gái, các bà đều được trang điểm bằng hai gò má quệt phấn vàng. Phấn đây là bột được mài ra từ những khúc cây thanaka bán khắp nơi trong thành phố. Những cành, rễ, gỗ của cây Thanaka khi mài trên đá mài với nước cho ra một loại bột mịn mầu vàng nhạt, khi thoa lên mặt giống như đánh phấn. Khi thoa nhiều để lại vệt vàng nhạt trên má. Người Miến Điện tin rằng bột thanaka sẽ cho làn da mịn màng trong sáng nhất là không bị mụn lúc dậy thì nên dù con trai cũng được mẹ chăm sóc, thoa thanaka cho. Thoạt nhìn thấy lần đầu những người này ở Yangoon, Sao Khuê cứ tưởng là họ …vẽ bùa vì trông có vẻ giống… mọi, sau đó sang Mandalay, được bà guide giải thích rõ ràng, Sao Khuê mới hiểu ra và bắt bà guide dẫn đi mua thanaka để làm đẹp vì quả thật tuy không có nước da trắng trẻo nhưng người Miến Điện ngăm ngăm đen có làn da mịn màng, nhất là rất- rất- rất ít người có mụn. Cu Út của Sao Khuê mừng quá tưởng vớ được cơ hội … làm giầu, ai dè hai năm sau ngày du lịch Miến Điện, Sao Khuê lướt mạng tìm thêm tài liệu đã thấy bột, kem… Thanaka được bán trên ebay và Amazon đầy ra rồi, cỡ 10 đồng thôi, khỏi tốn tiền đi Miến Điện. Rẻ rề, mại dô, mại dô bà con ơi… Dân Miến Điện thích nguyên liệu thiên nhiên nên họ mua những khúc cây Thanaka bán đầy chợ, mỗi ngày họ mài trên đá mài và thoa nước đó lên mặt, người nào bận lắm hay lười mới mua kem hay bột Thanaka bán sẵn, dĩ nhiên nhà sản xuất phải bỏ chất bảo quản vào để giữ được lâu hay cho thêm salicylique acid để tăng tác dụng trị mụn trứng cá. Cây thanaka muốn xử dụng được phải có ít nhất 35 tuổi và loại tốt nhất mọc ở miền trung Miến Điện. Có nhiều loại cây cho bột Thanaka nhưng chủ yếu là Thanaka và cây limonia acidissima…
Nào, chúng ta đi thăm Miến Điện, xứ sờ của Phật giáo Tiểu Thừa, sau khi thoa Thanaka để đỡ bắt nắng. Khởi đầu là Yangoon nhé. Yangon hay Ngưỡng Quang (tiếng Myanma: ရနက် နု မ် ြိိ ိ ိိ ို trước đây gọi là Rangoon là thành phố lớn nhất Miến Điện với dân số 4.082.000 (2005). Thành phố nằm ở ngã ba sông Yangon và sông Bago, cách Vịnh Martaban 30 km. Yangon có nhiều tòa nhà thời thuộc địa nhất Đông Á hiện nay. Các văn phòng chính phủ ở trong các tòa nhà được xây thời thuộc địa như Tòa án Tối cao Myanmar, tòa thị chính, chợ Bogyoke và bệnh việc đa khoa... Yangon là kết hợp của hai từ: Yan (những kẻ thù) và koun (chạy thoát). Yangon, từ thế kỷ thứ 6 có tên là Dagon, là một ngôi làng đánh cá nhỏ gần ngôi đại tự nổi tiếng Shwedagon. Năm 1755, vua Alaungpaya đổi tên thành Yangon. Người Anh chiếm Yangon trong cuộc Chiến Tranh AnhMiến lần thứ Nhất (1824-26) và toàn bộ vùng Hạ Miến Điện (phía Nam). Năm 1852 trong Chiến Tranh Anh-Miến lần thứ Hai, Anh chiếm thêm vùng Thượng Miến Điện. Trong chiến Tranh Anh-Miến lần thứ Ba, Miến Điện nằm trong tay thực dân Anh cho đến năm 1948 mới được độc lập. Như những thành phố lớn khác, Yangon có nhiều chùa nhưng vĩ đại nhất là chùa Vàng tức Shwedagon, sau đó là chùa Sule. Sule Pagoda. Vừa vào thành phố, chúng tôi ghé thăm chùa Sule. Chùa nằm ngay trung tâm thành phố, đối diện với toà thị chính, không xa nhà thờ Thiên Chúa của tỉnh nên giữ vị trí chiến lược quan trọng trong các cuộc tranh chấp chính trị năm 1988 và 2007. Chùa Sule, theo huyền thoại, được xây từ 2500, trước cả chùa Vàng, có thờ xá lợi là một sợi tóc Phật (theo huyền thoại thì chính Đức Phật đã tặng hai sợi tóc cho hai anh em một thương gia). Chùa Sule được xếp vào di sản của tỉnh Yangoon. Tượng Phật hiện diện khắp nơi và nhiều vô số kể: tranh trên tường, tượng trên ban thờ ở trong điện, ở ngoài hành lang, dưới gốc đa và người đi lễ chùa thì chăm chú dội nước tắm cho Phật và thành khẩn nguyện cầu. Chaukhtatgyi là tượng Phật nằm nghiêng nổi tiếng Myanmar ở Yangoon nằm nghiêng theo thế sư tử, chân trái trên chân phải, thế nằm an tịnh không vọng tưởng. Bàn chân có những ô vuông khắc những bánh xe Pháp hay chữ Vạn.
. Miến Điện: Yangoon (tiếp theo) Người hướng dẫn đề nghị về khách sạn nhận phòng rồi sẽ đi tiếp. Sau khi lấy phòng trong một khách sạn có kiến trúc bên ngoài và phòng ốc theo Âu Châu cổ điển, gia đình Sao Khuê lại theo guide ra xe đi thăm chùa Vàng, ngôi chùa đẹp, nguy nga và linh thiêng nhất Miến Điện. ** Chùa Shewdagon nằm trên đồi Singuttara được mang danh là chùa Vàng vì được bọc với 60 tấn vàng và trang trí với hàng ngàn viên kim cương, hồng ngọc và được tin là ngôi chùa linh thiêng nhất Miến Điện. Từ chân đồi có 4 lối lên chùa. Mỗi lối có một cặp sư tử thần (chinthe) canh gác. Hai hành lang dẫn vào chùa làm thành hình chữ thập mà Chùa là tâm điểm chữ thập. Tháp vàng trung tâm cao tới 99 mét bao quanh bởi 1000 tháp và lại còn có 64 tháp nhỏ khác. Toà tháp khổng lồ có ba phần chính: đáy tháp, thân tháp và đỉnh tháp. Tháp bắt đầu xây từ thế kỷ 6 đến thế kỷ X, cao khoảng 20m, sau được liên tục xây thêm rồi được dát vàng từ thời hoàng hậu Shin sawbu và bởi các tín đồ lên chùa lễ Phật. Tất cả thiện nam tín nữ vào chùa đều phải đi chân đất và không được ăn mặc cũn cỡn, đùa giỡn. Đế tháp bằng gạch, dát vàng. Trên đế tháp là khoảng sân mà chỉ có sư và nam giới được phép đi vào. Tiếp theo là phần hình chuông của tháp. Trên phần hình chuông là phần mũ tháp. Trên phần mũ tháp là phần giả các cánh sen. Trên phần giả các cánh sen là phần có hình dáng hoa chuối, rồi trên nữa là phần
hình vương miện. Phần hình vương miện còn gọi là lọng (hti) được nạm 5448 viên kim cương và 2317 viên hồng ngọc. Trên cùng là cánh hình cờ và ở vị trí cao nhất là búp kim cương gắn một viên kim cương 76 carat (15 g). Người Myanmar thường đi vòng quanh tháp theo chiều quay của kim đồng hồ. Trong chùa có 7 bồn nước tương ứng với 7 hành tinh và với 7 ngày trong tuần. Đây là nơi dân Miến tới tưới nước tắm cho tượng Phật vào ngày sinh nhật của mình. (internet) Quí vị nên thăm chùa Vàng ban chiều, vì khi đêm đến sẽ thấy ánh sáng xanh từ các ô cửa và khi ra về sẽ thấy chùa Vàng lộng lẫy chiếu sáng trong đêm. Tương truyền đền Singuttara có ba xá lợi của ba vị Phật ra đời trước Phật Thích Ca. Khi Phật Thích Ca thành đạo ở Ấn Độ, có hai anh em nhà kia từ Miến Điện qua Ấn, được Phật cho tám sợi tóc đem về thờ, đi nửa đường thì bị cướp một nửa. Dù vậy khi về tới Yangon thì hai anh em vẫn được tiếp rước trọng thể. Người ta xây một ngọn tháp cao 100 mét trên đồi để tôn trí bốn sợi tóc Phật. Sau nhiều cuộc chiến tranh và động đất, đền vẫn lộng lẫy vì triều vua nào cũng trùng tu ngọn tháp. Hiện nay đứng cách xa đồi Singuttara 15 cây số vào ban đêm hay ngày vẫn có thể thấy ngọn tháp chính lấp lánh ánh sáng vàng. Một câu chuyện truyền tụng khác về ngọn đồi thiêng là quả chuông nặng 30 tấn. Năm 1608 một người Bồ Đào Nha đánh cắp quả chuông nhưng trên đường tẩu tán thì quả chuông rơi xuống sông Bago và mất tăm. Đến năm 1779 nhà vua cho đúc một quả chuông khác nhưng 40 năm sau lại bị lính Anh đánh cắp. Trên đường chở qua Calcutta (Ấn Độ), quả chuông thứ hai này rơi xuống biển nhưng may mắn tìm lại được. Hiện quả chuông vẫn còn trong đặt ở góc hướng tây bắc của chùa Shwedagon. Tất cả những câu chuyện như thế càng khiến ngôi chùa trên ngọn đồi càng thiêng liêng, người Miến Điện hãnh diện với ngôi chùa, du khách nào tới họ cũng giới thiệu. ** Chùa Botataung ở sát sông Yangon nơi có tôn trí tóc Phật và cho người ngoài vào xem. Người đến chùa nghèo nàn, trước cổng là một khu chợ bán trái cây để cúng tấp nập. Tóc Phật được tôn trí trong một căn phòng sáng rực ánh sáng của vàng ròng, bên ngoài có cửa kính và một khe hở ngang tầm mắt để nhìn vào. Trong một ngôi tháp khác có răng của Phật. Khi vào thăm một ngôi chùa, Sao Khuê không nhớ rõ là chùa nào, tình cờ Sao Khuê được chứng kiến lễ xuất gia của hai em bé trai. Hai em này chắc là thuộc gia đình giầu có và có thế lực nên mặt mũi sáng sủa, được ăn mặc rất đẹp, đội nón, mang vòng hoa và được cõng từ ngoài vào tận chính điện để làm lễ. Nét mặt hiền lành vui vẻ, ngây thơ, được thoa son phấn, dĩ nhiên không phải là má hồng mà là má vàng như đại đa số những người Miến khác. Trên trán cũng được quệt một vệt tròn màu vàng lấy từ bột mài ra từ khúc cây thanaka. Các em được ăn mặc đẹp, rực rỡ như hoàng tử lấy từ tích xuất gia của thái tử Siddhartha, đắc đạo và trở thành Phật Thích Ca. Sau khoá lễ hai em sẽ được đưa thẳng vào phía sau, cách ly với gia đình trong thời gian khá dài để học Phật pháp với các tu sĩ. Xuất gia (Shinbyu) là bổn phận của tất cả con trai Miến Điện theo Phật giáo Theravada dưới 20 tuổi. Lo cho con xuất gia là bổn phận của cha mẹ, nếu cha mẹ nghèo hoặc trẻ mồ côi không lo nổi thì cũng được gia đình hay nhà chùa giúp đỡ. Xã hội Miến Điện cho rằng đây là giai đoạn quan trọng để học làm người, nếu trẻ có căn tu sẽ trở thành tu sĩ là những người được xã hội kính trọng, trẻ nào qua một lần chưa thấm Phật Pháp nhiệm mầu, đau bịnh hay vì lý do nào đó chưa hoàn tất khoá tu hoặc còn lưỡng lự nửa muốn tu nửa không thì có thể trở lại học, tu tiếp, tối đa là ba lần trước năm 20 tuổi. Sao Khuê may mắn vào chùa đúng lúc có lễ quy y của hai bé trai, chắc con nhà giầu trông khôi ngô dĩnh ngộ. Lễ quy y xong thì hai em được dẫn thẳng vào hậu liêu và sống tại đây một thời gian. Sáng hôm sau trên đường ra phi trường để bay sang Bagan. Sao Khuê lại gặp đám rước khác, cũng là lễ xuất gia nhưng đi bằng xe ngựa và gõ chiêng trống rất là vui.
** Chùa Kyaiktiyo: Ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Yangon này rất kỳ diệu. Chùa ngự trên một hòn đá lớn nằm chênh vênh trên một mỏm đá, mà nếu dùng được các tính toán vật lý để giải thích vì sao hòn đá không rơi thì nó… đã rơi lâu rồi! Tương truyền rằng đức Phật đã trao một sợi tóc cho một nhà tu, nhà tu giắt sợi tóc Phật lên đầu mình và chỉ đồng ý trao cho vua Miến Điện với điều kiện sợi tóc phải được thờ trong ngôi chùa trên một hòn đá có hình dạng giống đầu mình. Nhà vua (vốn có phép thuật) đã nhấc hòn đá từ đáy biển lên, đặt nó lên một mỏm đá, sau đó xây chùa trên đá để đón sợi tóc Phật. Các tín đồ Phật tử qua nhiều thế hệ “thi nhau” dát vàng lá quanh hòn đá đã khiến nó óng ánh rực rỡ như khối vàng khổng lồ. (trích trên mạng vì Sao Khue không đến nơi này) Khi sang đến Bagan, trời rất nóng (tháng 3) nên Sao Khuê chỉ ra ngoài một lát lúc sáng sớm hay xế chiều, thì giờ còn lại chui vào phòng nằm máy lạnh, thấy cũng uổng tiền. Như Nam VN, Miến Điện có hai mùa mưa, nắng. Mùa mưa rất sình lầy nên khi du lịch quí vị nên chọn mùa nắng và lúc mát, nhưng lúc này thì đắt đấy nhé. Tài xế và ông guide ở Yangoon có vẻ lè phè vì nóng. Quên thưa với quí vị là dân Miến Điện không mặc quần mà chỉ quấn váy, đàn ông cũng như đàn bà. Váy là miếng vải rộng may cho dính hai bên với nhau, rất giản dị. Chỉ sỏ chân vào và sau đó quấn, xoắn lại thành nút ở ngang thắt lung, gài lại chứ chẳng có dây thung nên váy rất dễ tuột (chả hiểu có ai bị tuột váy giữa đường chưa) nên lâu lâu họ cứ tỉnh bơ mà quấn lại. Váy quí bà thì được may cẩn thận, sát người hơn, có cúc cài đàng hoàng. Không ai đi giày, mọi người đều lẹp xẹp đôi dép, nghèo hay giầu. Đây là bức hình ông thủ tướng Thien Sein chụp với tổng thống Hoa Kỳ Obama, ông Thien Sein mang dép trông rất là thoải mái. *Sao Khuê và hai phụ nữ Miến gốc Kayan và hai người Miến mặc váy. * Chợ ở Yangoon. * SK viếng MD năm 2013 , đến 2025 -2026 mới sửa lại lần nữa bài viết này. Xin quý đọc tiếp về Bagan. Miến Điện 4: Bagan Sao Khuê
MD có tên là xứ Chùa Tháp vì chưa xứ nào mà lại nhiều chùa như MD. Nơi nhiều chùa nhất là Bagan. Quí vị tưởng tượng nổi không, mười ngàn ngôi chùa to có nhỏ có. Gọi là Chùa thi cũng không đúng lắm vì Chùa lớn giống như đền đài còn chùa nhỏ giống như những ngôi tháp nhỏ. Bagan có nhiều tháp nhỏ, theo guide giải thích là do người dân xây lên dâng Phật để cảm tạ khi cầu nguyện điều gì. Tháp nhiều đến nỗi từ trên máy bay nhìn xuống một vùng bao la chỉ có tháp và tháp, không thấy ruộng vườn, nhà ở, ít mầu xanh. Những ngôi tháp phần lớn xây bằng gạch nung nên mầu gạch, theo hình vuông, hình bát giác, vững chãi kiên cố, đặc biệt có những ô cửa cho thoáng (?) Trừ vài con đường lớn trải nhựa còn thì toàn là đường đất đỏ. Đường vào chùa lớn được lát gạch, hai bên là những cửa hàng bán quà lưu niệm. Khách sạn Sao Khuê ngụ là Hotel Tharabar gồm nhiều nhà nhỏ trong khu vườn rật rộng, coi như một xóm nhỏ. Ngay cạnh khách sạn có nhà hàng và đặc biệt có bến xe ngựa nhưng nhìn mặt họ không thiện cảm nên Sao Khuê không dám thuê xe đi chơi vòng vòng, hơn nữa trời rất nóng. Chiều, hãng du lịch cho đi xe ngựa vòng vòng quanh làng đây nè. Nhà ở lưa thưa trong …cánh đồng toàn những tháp chùa cho ta cảm tưởng đang ở trong một làng nhỏ. Ngoài một số nhà khang trang, dù nhà tranh, còn thì luộm thuộm, đôi khi chỉ là cái chòi con nghèo nàn. Nét mặt người dân, không thảnh thơi thoải mái chịu đựng như dân quê Ấn Độ, mà thoáng nét nghi ngờ như dân miền nam VN sau 1975, có lẽ sợ hãi do chế độ quân phiệt kiềm chế. Bagan là kinh đô xứ Miến Điện từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13. Khu “Bagan cổ” có diện tích khoảng 40 cây số vuông, hiện nay còn 2.230 chùa, tháp, bằng một phần năm số đền đài chùa tháp nguyên thủy. Theo sử, vị vua đầu tiên có công xây chùa và phát triển đất nước là vua Anawratha (1044-1077). Vua cho xây cụm chùa tháp trên diện tích mô phỏng cấu trúc mạn-đà-la, ở bốn góc có bốn chùa lớn, giữa trung tâm mạn-đà-la là đại tự Shwesandaw. Hai vị vua nối ngôi tiếp tục xây thêm chùa là Kyanzittha (1084-1112) and Narapatizithu (11701211). Thế kỷ 12 là Thời Hoàng Kim của Chùa Tháp Bagan, biến Bagan thành nơi tu học của tăng chúng tứ phương cho đến ngày nay. Năm 1287, quân Mông cổ xâm lăng, tàn phá đền đài, vua Narapatizithu phải lánh nạn, Bagan từ ấy tàn tạ, không còn là kinh đô chính trị, nhưng vẫn là kinh đô.
Bagan - Miền đất Phật * ( trích trên mạng) Thành phố cổ Bagan là cố đô xưa kia của Burma hàng ngàn năm về trước. Mang một nét đặc trưng rất riêng, rất Myanmar, không pha tạp. Bagan nằm bên sông Ayeyarwady, nơi tập trung dày đặc những ngôi chùa, đền và bảo tháp. Tại Bagan có 5 ngôi đền, chùa không nên bỏ qua khi đến nơi này là: • Ananda Phaya, Dhamma Yangyi, Sulamani Pahto, • Thatbyinnyu Pahto và đặc biệt là chùa vàng • Shwezigon ( Chùa mang tên chùa vàng vì được dát nhiều vàng). Do,động đất tháng 8-2026 ? ngôi chùa này bị sụp đổ hoàn toàn. • Htilo Mininlo: ngôi đền bề thế và tinh xảo được xây dựng bởi vua Zeya Theinkha. Vua cha của Theinkha có 5 người con và ông phải chọn ra người kế vị. Trong ý muốn của vua cha, Theinkha là người xứng đáng nhất. Nhưng để công bằng, ông đã chọn lựa người kế ngôi theo truyền thống của hoàng tộc. Đó là sử dụng cây dù trắng để chọn lựa người xứng đáng. Cây dù sẽ được đặt giữa các hoàng tử và cây dù nghiêng về phía ai, người đó sẽ được chọn. Cây dù đã chọn Theinkha và ông đã lên ngôi với sự tích như thế. Theinkha đã xây dựng nên ngôi đền này và "Htilo Mininlo" nghĩa là đức vua được lựa chọn bởi chiếc dù trắng và vua cha. • Dhamma Yangyi: là ngôi đền lớn nhất Bagan hình khối kim tự tháp. Đặc biệt đền không có chópnhư những ngôi đền khác. Do vua Narathu (Kalagya Min) cho xây dựng năm 1167. Sau khi giết chính vua cha của mình, Narathu chiếm ngai vàng và cho xây dựng bằng gạch đỏ đất nung không hề có mạch vữa. Tương truyền Narathu tự mình giám sát việc xây dựng và những người thợ xây sẽ bị hành quyết nếu một cái kim có thể lọt giữa hai lớp gạch. Sau khi xây xong, ông cho chặt hết tay của nô lệ để đảm bảo giữ bí mật kỹ thuật xây ngôi đền. Trong ngôi đền ông cho đặt hai bức tượng: một là cha và một là anh trai của ông. Cả hai đều bị ông ám sát để đoạt ngôi. Còn có một bức tượng người phụ nữ nằm sau bức vách, đó là vợ của ông, người cũng bị ông giết chết. Tương truyền rằng ngôi đền xây mà không hoàn thành được do những nhân quả mà Narathu gây ra, đó cũng giải thích vì sao nó không có cái chóp như những ngôi đền khác. (bên Trung Quốc cũng có những tháp do gạch khít khao đặt lên nhau như Kim tự tháp ở Hy Lạp) • Sulamani Phaya: được vua Narapatisithu xây dựng năm 1183. Sulamani được trang trí rất đẹp ở các bức tường phía bên ngoài ngoài đền. Trên tường, trên trần phía bên trong ngôi đền là nhữngbức tranh rất tinh xảo được chạm vào gạch.
• Ananda Phaya: có 4 tượng Phật lớn bằng vàng ở 4 hướng. Đức Phật ở 4 hướng là những Đức Phật đã đạt đến cõi Niết bàn: • Phía đông: Konagamana (Phật Câu Na Hàm) • Phía tây: Gotama (Phật Thích Ca Mâu Ni) • Phía nam: Kassapa (Phật Ca Diếp) • Phía bắc: Kakusandha (Phật Câu Lâu Tôn) • Thatbyinnyu Pahto là ngôi đền cao nhất ở vùng đất đầy gió bụi này. • Chùa vàng Shwedagon là một biểu tượng của đất Phật Bagan. Kiến trúc giống như chùa vàng Shwesandaw ở Yangon nhưng thanh tĩnh hơn. Miến Điện - Bagan 2 Sao Khuê 5. Đền Ananda Tôn giả Ananda là em họ và là một trong mười đệ tử lớn của Đức Phật ở Ngài nổi tiếng có dung mạo đẹp. Ngài được tôn là đa văn đệ nhất do ngài nghe và nhớ gần như toàn bộ những lời giảng của Đức Phật. Ngài có công lớn trong việc ghi lại và kết tập kinh điển của Phật giáo để ngày nay các Phật tử được tu học theo. Đền Ananda được xây dựng từ năm 1105 dưới thời trị vì của vua Kyanzittha triều đại Pagan (1084-1113). Đây là một tuyệt tác về kiến trúc chùa tháp và là một ngôi chùa đẹp nhất ở Bagan, hầu như vẫn được giữ gìn nguyên bản đến ngày nay. Theo truyền thuyết, việc xây dựng ngôi chùa này đã kết thúc trong bi kịch. Tám tu sĩ tiếp cận nhà vua Kyanzittha và đưa ra một mô tả đồ họa của ngôi chùa trong dãy Himalaya, nơi họ đã ngồi thiền định. Nhà vua hài lòng và yêu cầu các nhà sư xây dựng một ngôi chùa ở giữa vùng đồng bằng Bagan. Sau khi các nhà sư hoàn thành việc xây dựng, để giữ lại tính độc đáo của chùa cũng như đảm bảo rằng một cấu trúc tương tự sẽ không được xây dựng ở bất cứ nơi nào khác, nhà vua đã ra lệnh giết những kiến trúc sư (nhà sư) này.
Tường thành bao quanh khuôn viên chùa có hàng ngàn hoa văn khắc chạm. Trong chùa có nhiều điện thờ lớn nhỏ. Vô số hình tượng chạm trên tường ngoài, tường trong rất sắc sảo. Ngôi điện chính có đáy vuông, mỗi bề dài 53 mét, phía trên có hai tầng (sân thượng) nâng một ngôi tháp màu vàng cao 51 mét. Ở bốn góc của mỗi tầng đều có sư tử đá đứng gác. Một hành lang dài dẫn vào trong có bốn cửa theo đúng bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Ngoài đền trang trí 1.500 hình tượng. Qua khỏi con đường đi vào đền là hành lang hẹp bao quanh đền. Đi theo hành lang này sẽ thấy 80 ô hình bán nguyệt nhiều kích cỡ khác nhau đục sâu vào tường, trong mỗi ô đều có tượng mô tả các sự kiện quan trọng của cuộc đời Đức Phật, những ô cao này quá, phải dùng thang leo lên mới thấy. Hành lang đi ngang bốn cửa chính, mỗi cửa đều có tượng Phật đứng, cao 9.5 mét mạ vàng. Trong bốn pho tượng này chỉ có hai tượng hướng bắc và nam là có từ thời xây chùa, hai tượng kia mới làm sau này vì bị hư hại trong một lần hỏa hoạn. Cả hai bức tượng nguyên thủy – hướng cửa bắc và nam – rất dễ nhận biết vì tay Phật đang bắt ấn thuyết pháp (để trước ngực). Tượng phía Tây tay Phật bắt ấn vô úy (lòng bàn tay phải ngửa ra trước ngực). Bốn Đức Phật dựng ở bốn hướng là những Đức Phật đã đạt được cõi Niết bàn. • Phía đông: Konagamana (Phật Câu Na Hàm) Phía tây: Gotama (Phật Thích Ca Mâu Ni) • Phía nam: Kassapa (Phật Ca Diếp). • Phía bắc: Kakusandha (Phật Câu Lâu Tôn. Những khuôn mặt tượng biểu lộ khác nhau khi chiêm bái ở những vị trí khác nhau. Bên cạnh đó, chùa Ananda còn có những tác phẩm nghệ thuật, những bức phù điêu tinh xảo tráng lệ đến kinh ngạc. Những tác phẩm được khắc trên đá, vẽ trên tường, trần, mái của chùa này mô tả cuộc đời của Đức Phật từ lúc sinh ra, lớn lên, đắc đạo và lên cõi niết bàn. Theo một hành lang có khắc hai dấu chân Phật trên đá, mỗi bàn chân chạm khắc tỉ mỉ 108 tướng tốt nhưng do người ta sờ mó quá nhiều nên dấu vết chỉ còn lờ mờ.
6. Từ chùa A Nan qua chùa lớn Thatbyinnyu kề bên chỉ năm phút đi bộ, nhưng mỗi chùa một vẻ. Nói chung các chùa lớn đều có tường thành bao quanh, có cổng vào nhìn ra chính hướng, ở giữa là điện chính, trên điện có tháp cao thường là hình chuông. Chùa và tháp nhỏ thì được xây ngay sát lối đi, gần gũi với con người như nhà cửa bình thường. 7. Chùa Shwezigon nổi tiếng có tháp cao bằng vàng. Ngôi chùa này do vua Anawratha (1044- 1077) khởi công nhưng đến năm 1102 mới xong, tuy đã ngàn năm nhưng thường được trùng tu nên khang trang như mới. Lối vào là một hành lang dài trên trăm thước, phía trên có tháp trắng theo hình vương miện chồng lên nhau. Bên ngoài có tường gạch bao quanh, bên trong tường thành là các khu nhà nối mái vây quanh tháp chính ở giữa. Cổng và hành lang dài dẫn vào chùa Shwezigon Ngôi tháp chính bằng vàng ở giữa sân chùa hình chuông cao 31 mét, đáy hình vuông. Bốn hướng chính xung quanh tháp có bốn ngồi đền thờ nguy nga, riêng bên trong tháp vàng thờ nhiều xá lợi Phật gồm xương cổ, trán và răng của Phật. Ngôi chùa không nguy nga như đại tự Golden Palace ở Bangkok. Trước khi Phật giáo vào Miến Điện, dân chúng thờ các vị thần Nat tương tự như thần làng, thổ địa hay nói chung là thần linh như ở Việt Nam. Khi vua đem Phật giáo Nguyên Thủy vào Miến Điện, ông cấm dân chúng thờ các vị thần Nat nhưng dân vẫn lén lút thờ thần linh dưới lòng đất, và ngấm ngầm chống đối lịnh vua. Vì vậy vua cho xây chùa Shwezigon thật nguy nga, và cho cất một ngôi điện bên trong khuôn viên chùa để thờ thần Nat. Nhờ vậy Phật giáo không bị chống đối và dần dà trở thành tôn giáo chính. Ngày nay phần lớn người Miến Điện theo đạo Phật nhưng họ vẫn thờ thần Nat trong nhiều chùa (cũng tương tự như Việt Nam thờ cúng cả thổ địa trong chùa vậy). Ngôi tháp lớn trong thời gian tu sửa nên Sao Khuê không vào thăm được. Trái với nhà ở, tháp được chăm nom kỹ lưỡng. Dân chúng vào cầu xin van vái và cúng tiền. Từ trong ra ngoài, dọc theo hành lang và bờ tường tháp đều được chạm trổ tỉ mỉ. Shwezigon là ngôi chùa vàng đầu tiên được xây dựng tại Myanmar đồng thời cũng là kiểu mẫu cho các ngôi chùa sau này. Đây là ngôi chùa vàng lớn thứ hai tại Myanmar. 8. Chùa Shwethalyaung dài 55m và cao 16m. Trong chùa có tượng Phật nằm, lớn thứ hai thế giới được xây dựng từ thế kỷ thứ 9, được tạc rất công phu và giống như thật. Đây là tượng Phật linh thiêng của Myanmar. 9. Có một ngôi tháp mà du khách nào cũng bị dẫn đến chỉ để xem mặt trời lặn là Đền Shwesandaw (Bagan). Nghe nói leo lên cao có thể ngắm cả vùng đất Bagan với hàng nghìn ngôi đền, tháp lớn nhỏ, chìm dần vào bóng chiều tà thật huyền ảo nhưng khi
Sao Khuê đến, vừa mệt vừa sắp tối nên đã không leo lên. Nghĩ cũng tiếc. Chiều hôm trước khi rời Bagan là chiều đáng nhớ. Theo con đường đất đỏ xe chở ra bờ sông. Nhiều du khách và dân cũng ra sông. Bến sông đã có nhiều người ra hóng mát hay bán hàng lưu niệm. Nhiều trẻ em chèo kéo mua đồ đủ loại, từ cái áo tới nữ trang giả, quạt, khăn… Máy chạy, thuyền ra giữa sông rồi tắt máy, mặc cho thuyền trôi. Nhìn vào bờ Sao Khuê lại thấy chùa to, chùa nhỏ xen nhau. Có vài bãi tắm và dân chúng đang bì bõm lội thoải mái sau một ngày trời nắng nóng. Theo nước thuyền bơi, theo sóng thuyền trôi… Gần xa có khoảng năm bẩy con thuyền của du khách khác cũng lững lờ trôi và thỉnh thoảng có đò dọc chở dân hay bạn hàng di chuyển…
Nước đục lờ nhưng chiều xuống rất đẹp và nên thơ. Mặt trời đỏ ối từ trên cao rơi từ từ xuống mặt nước. Du khách gối đầu bên mạn thuyền hay tựa mình trên ghế, lắng lòng, nghe tiếng vỗ nhè nhẹ của nước vào mạn thuyền và dõi mắt theo vừng ô rơi xuống rơi rơi xuống. Bóng vàng lồng lộng in xuống nước rồi vỡ ra, lan ra từng con sóng nhỏ …” ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca, trái đất còn riêng ta ( Văn Cao) . Tuyệt đẹp! Hình do Sao Khuê chụp con dâu khi ngồi trên thuyền dạo trên sông ngắm mặt trời lặn. .. Chiều xuống trên dòng sông Bagan Nhấp nhô, sóng đua nước lan dần Giọt nắng ửng hồng loang trong nước Sóng… nước… hợp tan đã bao lần… Mặt trời, mới thấy đó, trên cao, đã chìm vào nước và biến mất! Cái nắng gay gắt của ngày đã nhường chỗ cho màn đêm đang kéo tới. Chào Bagan, mai ta lên đường tới Mandalay. Sao Khuê (chuyến du lịch 2013)
Miến Điện: Mandalay Sao Khuê Mandalay city from the hill Rời Bagan, chúng tôi bay đến Mandalay. Xe công ty du lịch đón tại phi trường với người tài xế mặc Âu phục và bà guide thật dễ thương, rành tiếng Anh lại biết nhiều để giải thích cho những tò mò của Sao Khuê. Bà cho biết gia đình bà vẫn sống cùng gia đình anh trai. Nhờ thông thạo tiếng Anh nên anh em bà đều làm guide, thu nhập khá. Ngoài tiền lương còn có tiền thưởng nên họ mua chung được hẳn một căn nhà. Có vẻ bà rất hãnh diện đã có một căn nhà dù vẫn phải ở chung với anh. Chị dâu bà ở nhà chăm sóc nhà cửa và con cái. Là cố đô một thời rực rỡ của triều đại Konboung thuộc đế chế Myanmar thứ ba, Mandalay là thành phố lớn thứ hai của Miến Điện, hiện đại tân tiến nhưng có lẽ chưa được bằng tình Cần Thơ. Trừ vài đường phố chính được tráng nhựa mà lề đường chỉ cao hơn lòng đường có chú xíu. Những con đường khác chỉ là đường đất. Là cố đô của Miến Điện nên nơi đây tập trung rất nhiều đền, chùa rất đẹp. Đền Mahamuni là biểu tượng của Mandalay, được xây dựng từ thế kỷ 18. Ở đây có tượng Phật cao 4m, nặng 6,5 tấn và được dát một lớp vàng dày tới 15cm – do hàng năm các tín đồ Phật giáo vẫn tới đây cúng lễ và tiếp tục dát thêm vàng lên tượng đồng. Mandalay Hill là ngọn đồi cao nhất thành phố. Theo truyền thuyết, người dân Miến tin rằng Đức Phật đã có lần đặt chân đến ngọn đồi thiêng này và người đã tiên đoán 2400 năm sau nơi đây sẽ là thành phố lớn.
Giữa thế kỷ 19, năm 1857 vua Mindon Min dựng nên một kinh thành mới ngay dưới chân ngọn đồi Mandalay Hill vào năm 1857 mang tên Mandalay, thành phố lớn thứ hai của Miến Điện sau Yangoon. Mindon Min lên ngôi vua lúc ông đã 45 tuổi, ông trị vì Miến Điện trong suốt 25 năm từ năm 1858 đến 1883. Ông có đến bốn hoàng hậu và bốn mươi chín thứ-phi, bốn mươi hoàng tử và hơn sáu mươi công chúa. Vua Mindon rất tôn sùng đạo Phật. Ông đã có công rất lớn khi biến thành phố Mandalay thành “một trang kinh” khổng lồ của Phật Giáo Miến Điện và cả thế giới. Trong tác phẩm “Con đường mây trắng” do nhà văn Nguyễn Tường Bách dịch một tác phẩm của Anagarika Govinda có một chương tựa là “Nhà tiên tri trên núi Mandalay,” nói về một nhân vật ẩn tu tạm gọi là Mr. U Khanti. Khi đế quốc Anh chiếm đóng Miến Điện, khu vực Mandalay Hill bị bỏ hoang phế, không người lui tới, giặc giã cướp bóc đầy dẫy nơi đây. Bỗng một ngày người ta thấy có một người lạ mặt không ngại sự hiểm nguy đến tu. Ông bỏ công lao tâm sức trùng tu lại công trình Kuthodaw Pagoda của vua Mindon Min, lúc đó đã bị hư hỏng trầm trọng. U Khanti cho tu sửa, bảo trì kho tàng “729 trang kinh trên bia đá” của Kuthodaw và cho in thêm các bộ kinh điển Phật Giáo Miến Điện phổ biến khắp nơi. Người ta cho rằng ông chính là “người tái sinh” của vua Mindon Min. Nhà vua trở lại thế gian để hoàn tất công trình mà kiếp trước ông chưa hoàn tất. Vua Mindon Min mất năm 1878, thọ 70 tuổi, rất được người dân Miến Điện kính trọng. Sao Khuê đến thăm tu viện gần giờ cơm trưa. Phòng ăn rộng với những mẹt khoai, bột nấu cà ri và những mẹt đường không được che đậy nên khá nhiều ruồi đang hạ cánh. Từ trai phòng các từ sinh ôm bình bát xếp hàng trước phòng ăn rất đông nhưng rất trật tự. Sao Khuê được dẫn đến bàn viện trưởng để cúng dường. Ngài ngừng ăn và đọc kinh chúc phúc. Mùi cà ri gà thơm phức. Các sư Nam tông (tiểu thừa) không ăn chay, chỉ dùng cơm trước giờ ngọ, giữa trưa thôi. Giờ thọ trai buổi trưa tại tu viện Mandalay. (Hình: ATNT Tours & Travel) Ở Miến Điện có tượng Phật nằm lớn thứ hai thế giới giữ tại chùa Shwethalyaung nhưng Sao Khuê không có dịp đến thăm. Hầu hết tượng Phật ở Miến đều bằng sứ rồi vẽ mặt, hiếm khi có tượng gỗ hay tượng đồng. Ngày nay Việt Nam đang đua nhau tạo, dựng những tượng Phật cao, lớn, lạ nhất thế giới. Buổi chiều, phái đoàn đến thăm cầu gỗ U Bein. Dài 1.2 km, U Bein là cầu bằng gỗ tếch dài nhất thế giới. Khi ánh nắng dịu nhẹ, du khách cùng dân địa phương tấp nập qua lại trên cầu. Sao Khuê không có thì giờ và can đảm để đi rồi về qua cầu gần 3 km nên mua vài món quà lưu niệm ở đây. Đó là những chiếc ví tay hay vòng .
tay vòng cổ làm bằng những hạt dưa nhuộm đen rất độc đáo… Nóng quá, về nghỉ. Ngày mai mình bay đến Inle nhé. Sao Khuê (du lịch năm 2013) Miến Điện - Inle Lake (Shan) Sao Khuê ng r i ch y
theo con đường nhỏ song song với hồ. Trên bãi, những con thuyền neo bến tạo nên bức tranh tuyệt đẹp. Con đường nên thơ, rợp bóng cây xanh và đôi khi còn có những rặng tre rì rào. Khu resort nằm trong khoảng đất trống, ngay chân núi ở cuối hồ. Những nhà ở đây đều là những căn nhà sàn dù có khi không trực tiếp dựng trên nước. Mỗi gia đình được căn “biệt thự sàn” riêng, là một căn phòng rộng có giường rộng và hai nhà tắm một ở ngài sân có tường vây quanh có vòi sen, một ở trong nhà có bồn tắm và vòi sen. Giường đã dăng mùng sẵn. Chúng tôi sẽ ở lại đây 3 đêm. Trời còn sớm nên tôi rảo bộ chung quanh căn nhà. Phía sau có một gian nhà với vài cô thôn nữ đang ngồi xe sợi dệt vải. Sợi ở đây lấy từ những ngó sen nên lụa dệt ra rất mềm nhưng cũng rất đắt. Đây không phải là nhà dệt lụa, chỉ là nhà biểu diễn để cho du khách biết sinh hoạt của dân sống trên hồ. Nhà hàng ăn chung với khu tiếp tân. Bàn ăn đã được xếp trên sàn và đèn đã sáng. Trời đất ơi, những con thiêu thân, không biết bao nhiêu mà kể, bao quanh lấy bóng đèn và chúng cũng không ngần ngại bao quanh lấy du khách, khiến cho khung cảnh thiên đường ở đây lại ở dưới mức trần gian một mức. Lúc nào cũng bị những con thiêu thân quấy rối, cả ngày lẫn đêm nhất là ban đêm. Mặc cho cửa phòng đã đóng kín mít, mặc cho giường đã được dăng mùng nhưng vẫn đầy con thiêu thân. Mỗi phòng đều có cái đèn dầu nhỏ để soi muỗi và thiêu những con thiêu thân nào nhanh chân theo người chui vào mùng. Nhiều khi đang đêm tôi phải dậy soi thiêu thân, nghĩa là dí bóng đèn dầu vào con thiêu thân cho nó bị thiêu giống như tôi lên lầu soi muỗi cho con những ngày sau 30 tháng 4 năm 75. Ở Inle, xung quanh là nước cho nên thiêu thân sinh sôi nảy nở vô tội vạ, nhiều ơi là nhiều… Hôm sau, sau khi ăn sáng với bánh mì nóng giòn làm hàng ngày tại chỗ, ngon hơn cả bánh mì baguette Paris, chúng tôi xuống thuyền dạo quanh hồ. Theo tài liệu, hồ Inle rộng chừng 11km, trải dài 22km từ Bắc xuống Nam và nằm ở độ cao 875 mét so với mực. Hồ Inle nằm trong tiểu bang San và là hồ nước ngọt lớn thứ hai quốc gia với diện tích 116 kilômét. Hồ Inle nổi tiếng với những cảnh thiên nhiên thơ mộng. Ngoài những căn nhà nổi, có khi hai tầng bằng gạch còn có cả những khu vườn nổi trồng rau, với dàn mướp, dàn bầu…
Hồ Inle có ngôi chùa vàng, có vườn nổi, có trường học và dân chúng đông đúc. Nhà ở là nhà sàn được dựng lên san sát trong “khu đô thị” nhiều đường ngang dọc có cả bảng tên mang số 1,2,3… như thành phố Edmonton bên Canada nên ít sợ lạc, ví dụ số chẵn là đường ngang, sổ lẻ là đường dọc….Tôi liên tưởng tới hồ rộng mênh mông khác có tên Mạn Đà Sơn Trang của Vương phu nhân, mẹ Vương Ngọc Yến trong truyện “Thiên Long bát bộ” của Kim Dung chuyên trồng hoa trà và tưới bằng xác người mà người dân quanh đó không thể đến thăm hòn đảo trồng hoa trà nếu không có phép của Vương phu nhân. Muốn tới đó phải chèo thuyền, quẹo tới, quẹo lui, quẹo ngang, quẹo dọc, quẹo lại, quẹo đi… tính theo quẻ bát quái gì đó nên dễ lạc. Người nào chẳng may tình cờ lạc đến đó thì sẽ bị giết chết làm phân bón cho hoa. Anh chàng Đoàn Dự xém bị giết, sau đặc ân được giữ lại chăm sóc hoa trà… Ở Miến Điện thì khác. Hồ Inle rất nên thơ, mộc mạc để thăm viếng, để nghỉ ngơi, an dưỡng… Ngoài khu nhà ở là khu đánh cá. Trên mặt nước mênh mông đây đó những con thuyền của “ anh Trương Chi” nôm cá. Vẫn quấn một cái váy, khoác một cái áo, họ đứng một chân trên chiếc thuyền con. Chân kia xoắn lấy mái chèo để lái thuyền và hai tay quăng lưới hay úp nôm. Cũng có người không theo lối cổ truyền khó khăn này thì một chân đứng, một tay chèo và tay chân còn lại úp nôm. Sao Khuê xuống thuyền, dạo một vòng nhỏ trên hồ, sau đó thuyền cập bến vào chùa. Chùa Hpaung Daw U pagoda cất sát hồ. Ngay chỗ bước lên có một tảng vàng khổng lồ. Đó là tảng đá mà hằng ngày khách thập
phương đến mua giấy vàng để dát lên. Giấy vàng là những tờ giấy bản trên đó đã quét 1 lớp vàng mỏng. Người ta yêu cầu mua loại giấy vàng đắt tiền là loại được quét lớp vàng tốt và dày. Dán giấy vàng lên tượng, miết cho vàng dính vào tượng và gỡ bỏ giấy bản. Lâu ngày lớp vàng đã dày lên tới 15 cm , không biết bao nhiêu là vàng. Hình như xứ Phật Miến Điện không có ăn trộm, ăn cắp. Còn giữ nét “thơ ngây”, quê mùa, hoang sơ, đặc biệt, cổ kính, Miến Điện như cô gái quê xinh đẹp hãy còn xuân, trong trắng xuân chưa lấm bụi trần, lòng cô tĩnh lặng như chùa tháp, đem lại bình yên khách viếng thăm… nên càng ngày Miến Điện càng nhiều du khách. Có dịp quý vị nên ghé thăm nhé. Đáng tiếc là trận động đất vĩ đại tháng 3 năm 2025 đã phá hủy nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở Yangoon và Bagan. Sao Khuê 2026 Ghi chú : Sau gần 15 năm thăm viếng Myanmar (2013) , bài viết dở dang mới được hoàn thành theo tài liệu và hình ảnh trên mạng. Xin đa tạ các tác giả. Ngày Tháng Rong Chơi..... Sao Khuê Bạn sẽ làm gì nếu tình cờ bạn có 4, 5 ngày nghỉ trước mặt? Đã hết mùa hè nắng vàng rực rỡ để đi tắm... hồ... mà 4,5 ngày không đủ dài để leo lên máy bay đi tắm biển. Thôi thì ta về ta tắm ao ta. Ao ta ở đây không phải là quê nhà Việt Nam xa lắc xa lơ đó mà ao ta của Sao Khuê là xứ Canada đất lạnh tình nồng. Mời quí vị cùng Sao Khuê lên đường đi thăm một tiểu bang láng giềng của Québec: tiểu bang Nouveau Brunswich (NB), xứ này cũng nói tiếng Pháp như Québec vậy hay nói đúng ra là hai thứ tiếng, vừa tiếng Anh vừa tiếng Pháp. Nouveau Brunswich có gì mà đi thăm ấy hả? Uả thế bạn chưa nghe nóí đến nơi nào có thủy triều lớn nhất thế giới à? Bộ bạn tưởng Canada không có cái gì hạng nhất hết cả sao? Ít ra cũng có hai cái vĩ đại, cái thứ nhất, bạn đoán ra ngay: thác Niagara ở gần Toronto; còn cái thứ hai đứng hạng nhất thế giới cơ đấy nhé: bãi biển Fundy với mực nước thủy triều lớn nhất thế giới, ở tỉnh Wolfville, thủy triều ở đây tới 50 feet tức là 16 mét lận. Bình thường, khi đi tắm biển, chúng ta chỉ thấy nước triều dâng lên 1 mét, cao lắm là vài ba mét, vậy mà ở đây tới 16 mét, cao bằng tòa nhà 4 tầng cơ đấy nhé, ghê chưa? Bạn tò mò lắm rồi phải không? Sao Khuê cũng vậy thôi, cũng mới biết cái hiện tượng lạ ấy gần đây khi cần tìm một chỗ để đi chơi. Rời Montréal từ 9 giờ sáng, ấy đi chơi thì chả cần vội vàng lắm nhưng quan trọng là phải tính toán sao cho hợp với dự báo thơì tiết: hai ngày đầu nắng, ngày thứ ba mưa, ngày kế tiếp nắng rồi sau đó thì âm u, có thể mưa...thế cho nên dù không còn trẻ như năm cũ, hai tài xế cũng phải gồng mình lên, lái từ sáng đến chiều, dĩ nhiên trên đường đi hễ thấy chỗ nào đèm đẹp là ghé vào ngắm sơ sơ chứ! Phái đoàn tới địa đầu của NB thì trời vừa tối. Tìm chỗ nghỉ ngơi rồi mai đi tiếp. Bạn nào còn dẻo dai thì nên đi sớm để có thể đến thẳng Fundy, tốt hơn. Tại sao tốt, chờ một tí Sao Khuê sẽ giải thích. Bây giờ trong lúc chờ bác tài đưa mình tới Fundy thì Sao Khuê vào internet, đọc giùm các bạn ít tài liệu nhé.
Như quí vị biết thủy triều là hiện tượng mực nước (sông, biển, hồ) lên xuống trong ngày. Mực nước sông chúng mình quen gọi là con nước hay nước ròng và thủy triều chúng mình dành cho mực nước biển. Nước thủy triều được coi như tiếng đập của con tim của đại dương theo tiếng gọi của mặt trăng, mặt trời và nhịp quay của quả địa cầu. Nước triều di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác như lượn sóng dài. Mặt trời tuy có sức hút 180 lần mạnh hơn mặt trăng nhưng vì trăng ở gần trái đất hơn nên sức hút của mặt trăng trên trái đất lại mạnh gấp hai lần mặt trời. Sức hút của mặt trăng khiến chất lỏng trên mặt đất (là nước) và chính trái đất cũng xích lại gần mặt trăng. Nước (của đại dương) phiá bán cầu gần mặt trăng dâng cao lên trước, kế đó trái đất cũng xích lại gần mặt trăng làm cho nước ở phía bán cầu đối diện lại bị xa mặt đất, kết quả là khi trái đất bị mặt trăng hút, trái đất xích lại gần mặt trăng và nước tại hai đầu đều dâng cao lên như hai khối bướu tức là lúc nước triều lên là lên cả hai đầu đối diện cùng một lúc (hình 1). Trái đất về phần nó cũng quay quanh mình, khi quay như vậy thì bướu nước xẹp đi, đó là lúc nước triều xuống. Mặt trời, dĩ nhiên cũng hút trái đất. Khi nào Trời, Trăng và Đất nằm thẳng hàng (lúc trăng mới nhú hay trăng tròn), khi đó lực hút cộng hưởng nên mạnh nhất, thủy triều lúc này cao nhất gọi là "thủy triều mùa xuân". Khi Trăng và Trời thẳng góc với đất là lúc thủy triều thấp nhất. Mặt trăng khi quay quanh trái đất không theo vòng tròn mà theo hình bầu dục, lúc nào trăng gần đất nhất thì sức hút tăng lên từ 30% đến 48%, lúc đó mực nước triều rất là khác biệt nhau (lên rất cao và xuống rất thấp). Trái đất mất 24 giờ để quay hết một vòng. Mặt trăng mất 28 ngày để quay hết một vòng quanh trái đất. Mỗi 24 giờ Đất quay được 13 độ ngược chiều kim đồng hồ với Trăng nên Trăng và Đất sau 24 giờ 50 phút mới trở lại vị trí đầu tiên. Bãi Fundy như một vũng nước biển từ Đại tây Dưong đổ vào nằm giữa hai tiểu bang New Brunswich (NB) và Nova Scotia. Bãi dài 270 km. Bãi Fundy hình như cái phễu, ngoài lớn (100km) trong hẹp dần ; đáy khi vào đến Chignectobay lại xẻ làm hai. Nhánh trái( phiá NB) ngày càng cạn, lại chia làm hai là Shepodybay và Cumberland bassin. Shepody thâu hẹp lại nữa rồi lại chia hai, bắt vào hai con sông Memramrock và Petitcodiac. Hopewell rocks nằm tại chỗ giao nhau của hai con sông, rộng chỉ chừng 2.5 km. Luồng thủy triều từ Ấn Độ Dương chảy qua Cape of Good Hope thuộc Nam Phi khi đến Fundy lại cộng hưởng với luồng nước đến từ vịnh Maine, rồi tuôn vào Hopewell làm cho nước triều ở đây lên đến 14 mét thay vì 1 mét như ở những chỗ khác. Mỗi ngày có 100 tỷ tấn nước biển tràn vào rồi lại kéo ra (bằng với lưu lượng tất cả nước sông trên thế giới) và phải mất 13 giờ để nước chạy từ đầu ghềnh đến cuối bãi. Mỗi ngày chúng ta có thể thấy hai lần nước lên thật cao và hai lần nước xuống thật thấp, vị chi nước từ thấp nhất lên đến cao nhất phải mất 6 giờ 13 phút. Tại sao nước triều lại rất cao ở đây? Quí vị hãy nhìn nước trong bồn tắm ở nhà chúng ta: bình thường nước đi từ đầu nọ tới đầu kia của bồn chỉ mất có vài giây đồng hồ, nhưng nếu quí vị dùng tay đẩy mạnh, tạo một con
sóng thì con sóng này di chuyển từ từ đầu nọ đến đầu kia của bồn tắm ngày càng lên cao và lâu hơn; đó là lý do người ta còn gọi Fundy là cái bồn tắm vĩ đại. Chúng ta cũng có thể so sánh với cái xích đu ở công viên. Ta chỉ cần đẩy nhẹ một cái thôi là cái đu có một cháu bé ngồi trên bay tuốt lên cao; đu bay lên cao rồi hạ xuống ví như nước biển được xô tràn vào bãi rồi xô ra; sức nước khởi đầu tuy nhỏ (như sức đẩy của tay ta) nhưng do cấu tạo đặc biệt của bãi và sự cộng hưởng sức mạnh của hai luồng nước khiến cho nước biển tràn vào rất nhiều và bị xô lên rất cao (như cái đu). Muốn thấy mức cao nhất thì mời quí vị đến vùng Halls Harbour, Parrsboro, Advocate bên Nova scotia hay Alma, St Martin bên NB (NewsBrunswich), nhưng thường nhiều người thích đến Hope Well Cape thuộc NB, vì nơi này khi nước triều rút xuống chúng ta có thể đi dạo trên bãi đất cát mà trầm trồ những hang động, những rặng núi đá cao thấp nhiều hình dạng dị kỳ được trạm trổ bởi sự xâm thực của nước biển. Nước triều lên ăn mòn đá khiến những núi đá tại đây có dạng như những bình hoa để ngược, miệng bình cắm xuống đất, cổ bình thắt lại do nước đập vào ngày này qua ngày khác và đáy bình nhô lên cao khỏi mặt nước khi nước triều lên. Bạn là người rất tò mò như Sao Khuê thì nên theo dõi ở internet hay gọi điện thoại để biết giờ giấc nước lên xuống ( thay đổi theo mùa) rồi thu xếp đến lúc cao nhất ( hay thấp nhất) để thấy được hai mực nước khác nhau này nhưng nếu không đủ thì giờ thì nên đến vào lúc nước rút ra để trở nên thấp để ngắm được kỳ quan đáy biển. Eo ôi, ghê lắm, quí vị sẽ hết hồn vì nếu quí vị ham dạo chơi rồi trở lên không kịp thì chắc chắn quí vị sẽ bị cuốn theo chiều nước trừ phi có mang theo phao hay bơi giỏi. Tuy vậy quí vị cứ yên chí mà đi dạo vì có nhân viên kêu réo quí vị khi nước lên miễn là đừng có...chui vào xó xỉnh nào mà tâm tình lén lút. Người ta khuyên là nên ở lại đây 6 giờ để xem cho đủ lúc nước cao nhất và thấp nhất cơ, có thấy như vậy mới thấm thiá sự biến thiên của vạn vật.. nước kia nay đã cạn dòng, chỗ nhô núi nhọn chỗ thòng cành cây (như Nguyễn Công Trứ đã nói là sông kia rày đã nên đồng, chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai). Không những nước cao mà còn mạnh, nhiều người còn chơi thả bè (Rafting) hay cho thuyền trượt nước (jet board) nữa. Nào đến Hope Well Cape rồi, mời quí vị xuống (trăm nghe không bằng mắt thấy). Phải đi một quãng hơi xa xa, nhưng mà quí vị cứ đi bộ cho khoẻ chân, chả cần mua vé đi shuttle (3 $) trừ trường hợp quí vị lười hay muốn đi cho nhanh vì trước sau mình cũng phải xuống một cầu thang rõ dài mới tới..đáy biển cơ mà. Đáy biển ? Chứ còn gì nữa, nhưng là đáy gần bờ. Đây là một bãi đất cát ( vừa đất vừa cát) trải dài, rộng chừng vài chục mét, có nơi đến 5 km, có rất nhiều núi đá với hình thù khác nhau nối tiếp rất ư là đẹp. Ai mà chưa xem là...mất nửa cuộc đời! Giống cái gì ấy à, chắc là giống...Vịnh Hạ Long? Những đồi núi (chưa cao lắm để gọi là nuí) đá trải dài theo bờ (dài tới 1.5 km), chỉ có vài cái mới chịu dấn thân ra xa, chứ nếu chúng chịu xếp dài ra biển thì đẹp chết thôi. Sao Khuê tưởng tượng là khi nước lên vừa phải, mình được lội nước, len lỏi giữa những đồi nuí đá này hẳn là thú vị lắm. Nước biển không xanh mà lại đục ngầu phù sa như sông Hồng vì ngày xưa có một con lươn khổng lồ nằm chật cả bãi. Glooscap ( Thượng Đế của thổ dân Indiens) mới sai Tôm Hùm đi đuổi Lươn. Trận chiến giữa hai con vật làm cho nước biển trở nên đục ngầu cho tới ngày nay. Không phải chỉ có núi đá trùng trùng điệp điệp đâu nhé, nếu chịu khó lặn lội quí vị còn thấy nhưng hang động sần sùi do nước biển bào mòn, rồi còn nữa nè, quí vị còn nhớ bầy ngỗng trắng và nhiều bầy chim khác dù phải bay hàng mấy ngàn cây số, hàng năm vẫn trở về Canada không phải chỉ vì Canada đất lành chim đậu mà vì Canada có những vùng như bãi Fundy, nước triều xuống đem lại nhiều thức ăn cho loài chim này. Ăn
no nê, ăn thả cửa như mình ăn buffet vậy. Chưa hết đâu, cửa bãi ( gọi là miệng, mouth of the bay) là nơi bãi đổ ra Địa Trung Hải, nơi vịnh Maine là một vùng biển rất đặc biệt, gọi là Fundy Aquarium ecozones là nơi sinh sống rất thích hợp cho cá voi (có tới 8 loại cá voi sống tại đây), cá heo, chim hải âu v..v..Bạn cũng đừng quên rằng Maine là nơi nuôi tôm hùm. Nếu bạn ghiền món này nhớ đi vào mùa hè để mua rồi luộc ăn tại chỗ, thịt ngọt hết sảy. Nhớ đừng tham mà mua con to quá; hồi xưa xửa xừa xưa, người ta chỉ dành tôm hùm cho nô lệ ăn thôi và cho ăn những con rõ to đến nỗi nô lệ phản đối, đòi chỉ phải ăn tôm hùm một tuần 3 lần! nhưng sau này người ta mới thấy những con tôm hùm to vừa phải, từ 0.5kg đến 1 kg thì ngon hết sảy; chả cần xào gừng hành chi cả, cứ bỏ vào nồi luộc chín ăn với sauce mayonnaise cũng quên cả cholestérol!!!... Sao Khuê đi muộn nên hết mùa tôm hùm... mà thôi trở lên trên để còn đi chơi chỗ khác. Ai còn tò mò thì mời vào thăm " centre d"interpretation exposition multimédia" tìm hiểu thêm. Quí vị có biết Prince Edwards Island không? Đảo này có thành phố nổi tiếng thường dùng làm nơi tổ chức hội nghị quốc tế là Charlottetown. Prince Edward Island nối với Nouveau Brunswich bằng cây cầu bắc qua biển dài tới dài tới 12.9 km tên là cầu Confédération. Bạn cũng cần đi cho biết đó biết đây, ở nhà với vợ biết ngày nào hư...dù có tốn tiền lệ phí qua cầu (40$). Nhờ cây cầu này mà sự đi lại giữa NB, Nova Scotia và PEI ( Prince Edward island) được mau chóng hơn nhiều. Cây cầu này được nhà nước Canada giao cho một công ty tư vẽ kiểu, xây cất từ năm 1987 đến năm 1997 thì xong. Hiện cầu vẫn do công ty Strait Crossing bridge limites chiụ trách nhiệm bảo trì, thâu lệ phí qua cầu ( để thanh toán tiền xây cầu) đến năm 2032 thì giao về nhà nước. Quí vị muốn tiết kiệm có thể chờ đến 2032 khi đó chắc toll free. Cầu có hai đường xe chạy mỗi bên và hai bên thành cầu đều xây kín mít, không cho người ta...nhẩy xuống biển; ngồi trong xe nhìn ra chỉ thấy ciment là ciment, chạy thẳng một lèo, đi đến nơi về đến chốn so với cây cầu cũng băng qua biển tên là Chesapeake Bay Bridge - Tunel thuộc vịnh Chesapeake, tiểu bang Virginia bên Hoa Kỳ thì...ư.. thua xa.( Cây cầu bên Hoa kỳ này có hẳn một đường dài tới 4.3 miles cho người ta đi dạo chơi, câu cá, chụp hình. Chiều dài toàn bộ tới 37 km và là cây cầu dài nhất và đẹp nhất thế giới, đứng hàng thứ bẩy trong những kỳ quan kiến trúc của thời đại tân tiến. Cây cầu này có một, hai đọan là tunel để lấy chỗ cho tầu bè qua lại nên mới có tên là Chesapeake Bay bridge-tunel). Trở lại Prince Edward Island (PE), phía nam đảo được coi là trung tâm thành phố, vui vẻ náo nhiệt nhưng phong cảnh phía bắc đẹp hơn nhiều. Bãi biển ở phía Bắc còn đầy những nét hoang sơ với nhưng đồi cát làm Sao Khuê nhớ lại Bãi Thái Hoà. Quí vị ngạc nhiên lắm hả. Ở Vũng Tầu có "Trung tâm xây dựng nông thôn" với những cán bộ mặc toàn bà ba đen quí vị nhớ rồi chứ; trung tâm nằm bên trái đường xe chạy từ Sàigòn ra, trước khi vào thị xã. Trong trung tâm có một bãi tắm rất đặc biệt, dành cho tổng thống phủ và cán bộ. Bãi tắm được che bởi những đồi cát ; đồi nọ nối đồi kia hoàn toàn thiên nhiên còn nguyên nét hoang vu rất đẹp. Gian nhà nghỉ mát, thay quần áo và tắm nước ngọt ở đây mang tên là..."Điện Thái Hoà" làm toan bằng tre trúc trong rừng. Trên một ngọn đồi ngay sát biển có dựng nhà thủy tạ và có một khoảng trống rộng lát ciment cho trực thăng lên xuống. Bãi tắm này đặc biệt ở chỗ có một phần dài chừng 20 mét hình nấc thang nghiã là thay vì lài lài xuống dần thì bãi biển lại như những bậc thang. Có chừng chục bực thang hay hơn để xuống biển. Lúc Sao Khuê đến đó là buổi sáng, nước triều xuống nên trông thấy những bậc thang này,đến chiều khi nước triều lên thì không nhìn thấy nấc thang nưã; điều đó có nghiã là những người bơi dở chỉ biết quều quào mấy cái như Sao Khuê sẽ hết hồn khi lội ở đây vì đang lội dần xuống nước, hết 1 nấc thang - độ 2 mét rộng - thay vì phải lài lài tụt xuống thì tại đây tụt cái rụp xuống nấc thang thứ hai... Đang bằng phẳng nay tụt hẳn xuống thì hết hồn là cái chắc, hết hồn thì dễ chết đuối lắm..... Rời PE để trở về. Có rất nhiều người qua lại cây cầu Confédération nên phải xếp hàng để trả tiền cầu. Trời bắt đầu mưa. Xe chạy theo xa lộ 11(tức 134), đôi khi được ngắm sương mờ trên biển thật là nên thơ huyền ảo.Về đến Bathurst thì đã chiều. Vùng này nằm trong Baie de Chaleur. Chắc quí vị cũng biết là miền Bắc Canada có luồng nước nóng (gulf stream) chảy qua. Gulf stream là "dòng sông" nước nóng nằm trong lòng biển Đại Tây
Dương, bắt nguồn từ vịnh Mexique, qua eo biển Florida, chạy đến Newfounland rồi qua Âu Châu. Luồng nước nóng này tràn vào vịnh nằm giữa Gaspésie và Nouveau Brunswich nên vịnh này có tên là Baie de Chaleur. Nước biển ở đây tuy nằm ở Bắc Canada nhưng lại là nước nóng có thể tắm được, chỉ tội biển mà êm nước hồ, chẳng có tí sóng nào hết trơn nên tắm không thích lắm ( trong khi đó California tuy nằm tít dưới phía Nam nhưng chảy qua đây là luồng nước lạnh khiến Cali rất ít bãi biển tắm được ).... Hôm trước hụt được ngủ ở khách sạn ocean view nên hôm nay phải hỏi thăm cho được khách sạn nào nên thơ. Trơì không phụ lòng người nên hỏi thăm ra được dãy nhà gồm 15 căn condo (như chalets) trông ngay ra biển. Nhà có 2 phòng ngủ riêng biệt, rất tiện cho một gia đình có hai con vì phòng thứ hai có hai giường đơn. Phòng ăn (có đủ nồi niêu xoong chảo v..v..) và phòng khách trông ra biển. Trời đã tạnh mưa nên vừa ăn cơm vừa ngắm biển, mèn ơi, đẹp ơi là đẹp. Ăn xong là lúc mặt trời lặn. Ngắm trong nhà chưa đủ, bèn mặc manteau ra hiên, ai dè mọi người ra hết, cửa tự động khóa, hết đường vào!!!!! chạy vội lên văn phòng, may quá nhân viên còn ở đây ( 8 giờ tối thì họ về nhà, khi đó e phải gọi 911). Hú hồn nên sáng hôm sau lúc xem mặt trời mọc ( xem hoài mà không chán) thì nhớ thủ chìa khóa trong tuí. Ăn sáng xong đi dạo bờ biển. Bãi biển này không tắm được nhưng dài và có rất nhiều đá cuội đủ màu rất đẹp. Nhìn sang bên kia bờ là Gaspésie, chắc là tỉnh Bonnaventure mà mấy năm trước Sao Khuê có ở lại một đêm. Ban đêm, bên nớ nhìn qua bên ni, bên nào cũng đẹp nhờ đèn chiếu lấp lánh xa xa.... Nhưng mục tiêu chuyến đi lần này của Sao Khuê là thăm cho được Parc Du Bic mà mấy năm trước khi đi Gaspésie về, chạy nhanh quá, lỡ bộ đi luôn, chỉ thoáng nhìn thấy nuí non trùng trùng điệp điệp trên nước giông giống như Vịnh Hạ Long nên hẹn sẽ có ngày quay lại để đến tận nơi mà nhìn cho tận mắt mới chịu cơ. Parc Du Bic là một thắng cảnh của Québec, nằm giữa đường đi từ Montréal đến Gaspésie, cách Rimouski 10 km. Từ đông sang tây, parc đo được 14.1 km, có nhiều đảo, nhiều gò...tạo thành một cảnh tượng thiên nhiên tuyệt đẹp với nhiều huyền thọai chẳng hạn như...ngày xưa, thuở tạo thiên lập điạ, Thượng Đế sai một vị thần xuống trần để tạo nuí non bằng những viên sỏi từ trên Trời; khi đến Bic, trơì đã chiều tối, vị thần rũ áo thì những viên sỏi nhỏ còn sót trong áo rơi ra vung vãi đó đây tạo thành một vùng có nhiều núi nhỏ, cồn nhỏ mà Champlain khi đi ngang đây đặt tên là Pic vì có nhiều chỏm núi. Bic còn là chữ viết tắt của "Ici Câche le Bulletin" vì có một hòn đảo chứa kho tàng của một tên cướp biển mà bản đồ dấu ở Bic. Kho tàng này vẫn còn tại Anse de L'orignal, xém chút đã có người lấy được. Muốn tìm thấy kho tàng này thì quí vị phải có quyển sách "Le petit Albert" và cây nến bằng mỡ trừu. Cái người xém tìm thấy kho tàng kể lại là lúc ông ta, với ngọn nến đốt cháy,đọc lên câu thần chú trong sách chỉ thì một tiếng nổ lớn vang lên, mặt đất rung chuyển, các cây thông nghiêng ngửa như những người say rồi từ dưới đất chuồi lên một cái rương lớn, trên nắp có vòng sắt khổng lồ mà khi lấy được vòng sắt này thì tất cả các điều mơ ước sẽ được thực hiện. Ông ta chạy vội đi tìm dụng cụ để gỡ cái vòng sắt nhưng khi trở lại thì cái rương lại đã biến mất không dấu vết! Từ NB trở về, Sao Khuê chạy ngang thành phố trù phú Rimouski nằm bên bờ biển. Thật sự thì Sao Khuê không biết gọi nơi này là biển hay là sông. Đó là chỗ sông St Laurent chảy ra biển nhưng nơi đây rất rộng, nước lại mặn tuy chưa thực sự là Đại tây Dương. Nôn nóng đến Du Bic nên chạy thẳng một lèo. Đây rồi! nhưng đâu là chỗ vào nhỉ. Ghé vào hỏi thăm: ngôi làng nhỏ mang tên Village du Bic được mệnh danh là "Suisse Du Québec" nằm trên đồi cao, theo đường 132 nhìn ra "biển". Đừng chạy quá nhanh nhé...Quí vị thấy dẫy nhà ngói đỏ to lớn nổi bật lên giữa mầu xanh của cây cối. Đó là nơi để bạn mua vé và vào thăm. Đi dạo
vòng vòng thì 3.50 đồng một ngày,16.95 đồng một năm. Vào đó rồi quí vị có thể mướn xe đạp chạy loanh quanh vì xe hơi chỉ chạy được môt khúc thì hết đường đi. Quí vị có thể camping và còn biết bao trò khác... Nội ngắm cảnh không đã đủ hết ngày vì đường quanh co trong rừng có bao nhiêu là belvedère để ngắm cảnh. Tạm thời thì mời quí vị mua vé ra khơi. Không có tầu lớn mà chỉ có kayak cho 2 người chèo hay zodiac tức tầu phao chở được 12 người, mỗi ngày có hai chuyến. Chuyến cuối cùng đã rời bến nên Sao Khuê và các bạn quyết định ngủ lại một đêm, trưa mai ra khơi. Vì không tham khảo kỹ trước nên không biết chỗ nào có hotel vừa đẹp (nhìn ra biển), vừa sạch, vừa đủ tiện nghi,vừa rẻ (ê! cấm cười). Hội nghị quyết định: trở lại Rimouski, tìm cho được hotel nào au bord de mer... Từ hôm đi đến nay thì...phú quí đi lên, càng ngày chỗ ở càng đẹp mà. Hóa ra ở đời có công tìm kiếm có ngày kiếm ra. Sao trên đời lại có những người dễ thương đến thế, xin Trời phù hộ cho những người tốt bụng - đó là một nhân viên hay chủ của một hotel bên cạnh đường đi đã mách phái đoàn là quẹo sang trái chỗ nhà băng, đi sâu vào trong sẽ có hotel như ý muốn, nghiã là 3 V ( vừa sát gần biển, vừa sạch, vừa rẻ). Hotel nằm ngay bên bờ biển nhưng ở Rimouski, nước biển khi xuống thấp thì bãi bùn hiện ra chả đẹp tí nào, tuy vậy mùi mặn mặn của biển cũng đã lắm, lại thêm khi mặt trời lặn cũng đáng đồng tiền, rồi lại dạo trên con đường lập riêng cho người đi bộ dọc theo bờ biển, vừa đi vừa ngắm cảnh nữa chứ. Sáng hôm sau trời...mưa và lạnh. Ba bà (Sao Khuê và hai bà bạn) bàn tới bàn lui: - Hôm qua météo báo là sáng mưa nhưng trưa có nắng! - Mây xám xịt lê thê thế kia mà nắng gì nổi, hay là xin trả vé? - Thử gọi phone xem sao.... - Nhân viên bảo là không có quyền giải quyết, yêu cầu gọi số khác..... - Cái số quái quỷ này, gọi mãi mà cứ occupé... - Đến giờ rồi. Hay thôi chúng mình cứ đến đó, nếu mưa thì chịu mất tiền vé (40 đồng một người) nhưng mà trời cũng có vẻ tạnh rồi đó. - Úi chao đi chơi gì mà..khổ quá thế này, vừa mưa vừa lạnh... Ai đã gây trời sương gió, xin làm ơn tạnh mưa một lần... Bãi xuống tầu gần sân golf nên mượn chỗ này ngắm cảnh. Tuyệt đẹp!...Ôi vừa thoáng nghe em xin cầu, Trời mây tan tạnh gió... Nhờ nắng tươi lên, nhờ gió êm êm, em dám leo lên thuyền... thuyền rời xa dần bến... Kinh thấy mồ! cái zodiac nhỏ xíu, 12 người ngồi tuy rộng rãi nhưng mà chả có gì là vững chãi hết. Sao Khuê...hối hận đã xúi dại các bạn leo lên tầu dù áo phao đầy người! Mặt nước êm như ru. Nắng tươi rực rỡ như chưa hề có gịot mưa nào sáng nay. Lạ thật! Hải trình dài đâu 3 tiếng. Trước hết mình đi thăm hải cẩu.. Nhiều lắm, to có nhỏ có nằm có, bơi có, đầy cả ghềnh đá. Kế tiếp mình đi tận ra nơi xa nhất, đó là hải đăng. Hải đăng xây trên đảo Bicquette từ năm 1859, đến nay có 4 người giữ hải đăng. Hai người đầu chết vì thuyền của họ bị thủng rồi chìm trong nước đá và họ bị chết đuối. Người thứ ba tên là Fortier, khi mùa đông đến, sống một mình trên đảo ông ta rất chán nản và buồn rầu tuy ông ta có mang theo một con chó làm bạn. Vài tuần sau càng buồn hơn. Một ngày nọ, ông Fortier thấy có nhiều tiếng động và tiếng gió hú từ tháp canh. Tự trấn an là không cò gì phải sợ nhưng tiếng hú ngày càng nhiều khiến ông càng lúc càng sợ, cuối cùng ông quyết định rời đảo bằng cách vượt bộ trên băng với con chó nhỏ!! Nhiều lần ông thấy như băng tuyết gẫy răng rắc dưới chân và sau đó ông bị lạc đường, để mặc cho con chó lôi đi. Cuối cùng ông cũng tới được làng St Fabien, nửa sống nửa chết....Từ đó không bao giờ người ta cử người giữ hải đăng vào mùa đông nữa, ai dại dột đi biển lúc này nếu có đi lạc thì ráng chịu!
tiếp tục đường 98 đi ớ Zodiac đi vòng vòng qua nhiều đảo nhỏ, có một đảo rất lớn nhưng không đến gần vì là đảo của..tư nhân !!!..rồi cuối cùng phái đoàn cũng trở về bình an vô sự và rất thích thú, hít đầy hai lá phổi không khí trong lành của biển cả, nhìn mãn con mắt cảnh đẹp của biển khơi... Bây giờ có quyền chạy một lèo về Brossard, ghé ăn cơm Tầu... trước khi về nhà rồi ngủ ngon, lần sau mời quí vị đi tiếp... Bye bye!... Sao Khuê Niagara Sao Khuê Niagara bắt nguồn từ thổ ngữ Iroquoian, “Onguiaahra”, xuất hiện chính thức trên bản đồ từ 1641.Thông thường người ta chấp nhận nghĩa chính là thẳng “The Strait”, dòng nước thẳng chảy từ Lakes Erie qua Lake Ontario. Cũng có nghĩa khác là “Thundering Waters” vì dòng thác đổ mạnh như sấm chớp… Có những khu vực mang tên Niagara là: Niagara On The Lake Với dân số 15.400 vào năm 2011, Nigara On The Lake là một thành phố nằm về phía nam của tỉnh bang Ontario trên giao điểm của hai con sông Niagara River và hồ Ontario. Đây là thành phố duy nhất của Canada mà thị trưởng được mang chức Lord Mayor (là chức thị trưởng chỉ dành cho các thành phố của United Kingdom). Thành phố mang tên là Butlersburg vào khoảng 1781, tên của tướng John Butlersburg, sau đó đổi thành West Niagara rồi Newark (có nghĩa là cái cổ), đến 1798 thì thành Niagara on The Lake. Niagara On The Lake là thành phố rất đẹp, cả thành phố ví như một công viên to mà mùa xuân và mùa hè rực rỡ hoa các loại trước cửa các ngôi nhà. Thành phố có nhiều thắng cảnh như Fort George, Navy Hall, Butlers, Barracks, St Mark’s Church, công viên, sân golf... Từ tháng 4 đến tháng 11thành phố thường tổ chức nhiều lễ hội, quan trọng là hội của các hãng làm rượu nho đông đá, một đặc sản nổi tiếng của Canada, Ice wine. Ice wine làm từ những trái nho chín và được giữ lại cho đông lạnh trong mùa đông. Chỉ những trái nho ngon lành mới không rụng và vì nước (water) trong trái nho bị đông trước khi ép nên nước ép nho đông lạnh không chứa nước thường (water) nên đậm đặc hơn, ngon hơn, ngọt hơn, dĩ nhiên cũng đắt hơn, thường bán dưới dạng những chai cao, ốm và dùng như rượu tráng miệng mà người sành điệu không thể không nếm qua hoặc mua về làm quà sau khi du lịch Niagara. t i thác Niagara.
Muốn đến đây, du khách từ Queen Elizabeth way (xa lộ 98) nhớ bắt sang đường 87 thay vì Niagara Fall City Nằm phía tây của Niagara River, Niagara Falls city là một thành phố thuộc tỉnh bang Ontario, Canada, dân số khỏang 82.997 vào năm 2011. Niagara River chảy qua hai thành phố Niagara Falls của Canada và Niagara Falls thuộc hạt Niagara của tiểu bang New York của Mỹ. Cả hai thành phố cùng mang tên Niagara Falls, tên của thác Niagara, một thắng cảnh của thế giới. Niagara Falls city của bang New York có khoảng 50. 000 dân, lúc đầu mang tên là village of La Salle là tên nhà thám hiểm người Pháp đã dựng nên làng, sau đó trở thành Town of Niagara từ 1927, cách Buffalo 27km, diện tích 44 km vuông, dọc theo Niagara falls và Niagara Gorge, chủ yếu phát triển về du lịch, có 19 triệu du khách mỗi năm. Từ con đường rộng lớn cho bộ hành, một đoạn trên Niagara Parkway, dọc theo dòng sông cho người ngắm cảnh từ phía Canada, du khách chỉ cần vài bước chân qua cầu Rainbow Bridge là đã qua tới Mỹ, tiểu bang New York. Niagara Parkway được coi là Ontario scenic Highway, bắt đầu từ Fort Erie. Tận cùng ở Fort Gorge, còn gọi là Niagara Boulevard hay Niagara Road. Theo con đường này quẹo trái du khách sẽ đến chùa Cham Shan Temple (Ten Thousands Buddas) có 7 tầng tháp nằm trên 3 hectas đất, có cung cách Korea ( 905-371-2679, địa chỉ 303 River road Niagara falls Ont L2E 3E8) khá đồ sộ và trang nghiêm thường bị du khách bỏ qua vì ít được nhắc tới trong quảng cáo du lịch. Du khách muốn mua sắm thì đừng quên Fashion Outlet of Niagara ở số 2098 Military Road. Năm 1856 thành phố Niagara City mang tên Town of Clifton. Năm 1881 đổi thành Niagara Falls; năm 1882 hội đồng quản hạt Drummondville đặt tên là The village of Niagara Falls và từ 1904 cả làng và thành phố hợp nhất thành City of Niagara Falls. Thành phố, như vậy chạy dài theo thác Niagara và Niagara Gorge thuộc Niagara Rivers cách thủ phủ Toronto của tỉnh bang Ontario 130km, có diện tích là 1800km2. Niagara Falls như vậy thuộc Niagara Falls City. Niagara River là con sông chảy từ hồ Erie tới hồ Ontario, hình thành một phần biên giới Mỹ-Canada, dài 58 km.
Niagara Falls Trên con sông chảy từ Lake Enrie vào Lake Ontario, sông Niagara Rivers có ba thác nước vĩ đại từ lớn đến nhỏ là Horseshoe Falls, the American Falls and the Bridal Veil Falls. American Falls hoàn toàn nằm bên nước Mỹ cách Horseshoe Falls bởi Goat Island. Thác nhỏ nhất Bridal Veil Falls cũng nằm bên nước Mỹ cách American falls bởi Luna Island. Horseshoes Falls là thác lớn nhất và mạnh nhất Bắc Mỹ thuộc về Canada, với chiều cao 57m, rộng 790m, cách New York 27km và cách Toronto 121 km; nằm giữa hai thành phố cùng tên Niagara Falls thuộc Ontario, and Niagara Falls thuộc New York mà vào năm 1941, Niagara Falls Bridge Commission hoàn tất cây cầu Rainbow Bridge, cho khách bộ hành và cả xe cộ qua lại giữa hai nước Canada và Mỹ. Muốn xem Panoramas, xin Google “Niagara Falls 360 aerial Panorama” (cho Sao Khuê nói nhỏ một câu là hồi nào tới giờ Sao Khuê đâu có biết vụ này, nay nhờ Google tìm tài liệu hầu quý vị, tình cờ khám phá ra, hoá ra ở hiền gặp lành thật đấy). Còn tại sao lại Rainbow Brigde ư, quý vị nhìn hình thì thấy ngay cầu vồng! www.airpano.com/360Degree-VirtualTour.php?3D=Niagara-Falls-USA...
Niagara Falls thành lập từ khi băng hà tan rã thời cuối cùng Wisconsin, thành Đại hồ Great lake , không những rất cao mà còn rất rộng, rất mạnh, với lưu lượng =110.000m3/phút. Riêng Horseshoe, trong mùa nước lớn lưu lượng đôi khi lên tới 6400m3/giây! Vì sức nước rất mạnh, nước bắn tung toé nên du khách cần mang áo mưa khi đến gần thác nước. Ngoài vẻ đẹp hùng vĩ mang đến hàng triệu du khách mỗi năm, Niagara Falls còn là nguồn thuỷ điện rất lớn, từ thế kỷ 19 đưa đến sự phát triển mọi ngành của Canada và Mỹ. Nơi ngắm thác nước có hành lang rộng cho du khách đi dạo , nằm trong Niagara Parkways. Những con đường hướng về đây có nhiều hotels, casinos, nhà hát, cửa hàng, quán ăn ngày đêm chớp đèn sáng và ồn ào đông đúc vui vẻ như ngày hội nên được quảng cáo là nơi dành cho tuần trăng mật hay còn hơn thế là thủ đô trăng mật của thế giới “Honeymoon Capital of the World”. Muốn hiểu tại sao có danh hiệu này, xin mời quí khách quá bộ lên tháp quay Skylon (Skylon Observationtower). Tháp được xây từ tháng 05-1964 và mở cửa ngày 6 -10-1965, cao trên mặt nước Niagara River 236 m, còn từ mặt đất lên thì cao 160m, nặng 21772 800kg nhưng chỉ mất có 52 giây là một trong ba thang máy mang quý khách lên tới đỉnh.
Rất nhiều du khách chưa có dịp lên đây vì còn mải ngắm kỳ quan của thế giới: thác nước Niagara nhất là thác Horseshoe
Ban đêm, dưới dàn đèn mầu, sắc của nước thay đổi, khi xanh khi tím, khi lại hoà lẫn nhiều mầu khiến người ngoạn cảnh không biết đâu là mầu thực của nước, ngay cả đâu là nước ...thỉnh thoảng lại có pháo bông đủ mầu đủ sắc khiến người ta quên hết thực tại ta bà, đắm chìm trong mầu sắc huy hoàng ngoạn mục ... Mùa Giáng Sinh, dù tiết trời rất lạnh, quãng đường dẫn ra thác cũng được trang trí rất đẹp với đủ các hình thù ... Tối giao thừa, 31 tháng 12, nhiều người đổ về đây chờ “count down”, đón mừng năm mới trong hân hoan với pháo bông rợp trời... Vào Nơi Gió Cát tức Ai Cập Huyền Bí Sao Khuê Rời thủ đô Athène, Hy Lạp vào mùa hỗn loạn (19 tháng 5 năm 2010 - hỗn loạn vì từ gần 1 tháng nay dân Hy Lạp đình công rồi tổng đình công : làm ít, nghỉ nhiều, tiêu xài nhiều nên phải vay nợ tứ tung đưa đến lạm phát khiến cho đồng Euro xuống giá thê thảm nhưng dân chúng vẫn đình công đòi tăng lương!...) Sao Khuê và phái
đoàn du ngoạn đến Caire, thủ đô Ai Cập vào chiều ngày 19 tháng 5 năm 2010. Thật là hú hồn vì nếu đi trễ một ngày thôi thì sẽ bị vướng vào vụ tổng đình công lần thứ hai của Hy Lạp, lúc đó làm sao có thể thăm Ai cập huyền bí được... Chưa đến nơi mà cậu con trai dặn đi dặn lại ....là 'mom' không được hỏi han ai hay làm gì mà không cho con biết v.v.. cũng chỉ vì nghe đồn cái xứ này là tổ sư kỳ thị đàn bà, lôi thôi là họ dám thưa mình ra tòa để đòi bồi thường thêm vào đó vừa mới lên máy bay rời Athène bởi Egypt-air (đi hãng máy bay khác e họ ...đục cho bể đầu) là hành khách đã được phát ngay một cẩm nang 'Egypt Treasures' mầu đỏ với hàng chữ 'Welcome to Egypt' mà tờ thứ nhất là để khai với quan thuế, và mặt sau tờ bìa thì đầy hứa hẹn : * Phi trường Cairo sẽ cung cấp cho bạn những dịch vụ đi và đến với những phòng đợi hạng nhất và hạng thường. * Nguyên tắc của phi cảng Cairo là giản dị khiến bạn không thể quên được ...... Nhưng sau đó là những dặn dò : - Egypte thường thì rất an toàn và thân thiện nhưng dù sao bạn nên cẩn thận đề phòng đừng phô trương khiến ai đó chú ý đến nữ trang, bóp bạc, máy ảnh của bạn và đừng có lang thang một mình trong sa mạc. Hãy giữ gìn cẩn thận giấy tờ và luôn giữ trong người địa chỉ những nơi để liên lạc khi cần đến. Người Ai Cập thường hiếu khách, sẵn lòng giúp bạn khi được hỏi thăm... Nhưng coi chừng nè : - Quan hệ giữa nam - nữ không giản dị, lộn xộn có thể bị phạt, chớ có vớ vẩn ôm hôn nhau thắm thiết như Tây như Mỹ ..... Nói chung chung, vắn tắt thì Ai cập rất đông du khách vì đây là nước lưu giữ được nền văn minh cổ xưa và rực rỡ nhất của nhân loại . Nằm ở đông bắc châu Phi , bên lưu vực sông Nil, cổ Ai cập được thành lập từ 3200 năm trước công nguyên (3200 Bc) bởi pharaon Menes, người đã cho xây thành Memphis làm kinh đô. Tổng cộng có 30 triều đại mà từ 3200 Bc đến năm1078 Bc là Tân vương triều (nouvel Empire = New Empire bắt đầu từ triều đại 18 tức 1543 Bc đến triều đại 20 tức năm 1078 Bc ) gồm 20 triều đại được coi là quan trọng nhất. Ai Cập bị sụp đổ cuối vương triều 30, năm 343 Bc dưới sức tấn công của người Ba Tư, vị pharaon cuối cùng là Nectanebo II phải thoái vị, khi này Ai cập đã cho đào kinh Suez để nối liền Biển Đỏ (mer rouge) với biển Địa Trung hải , nhưng Ai cập suy thoái dần, lần lượt bị Hy Lạp và La Mã, Byzantine rồi lại Ba Tư cai trị. Ốc đảo Ai cập màu xanh trên nền cát vàng của sa mạc Đến thế kỷ thứ 7, người Ả rập Hồi giáo đã đưa đạo Hồi và tiếng Ả rập tới Ai Cập. Những quan cai trị Hồi giáo do Khalip chỉ định nắm quyền cai trị Ai cập trong 3 thế kỷ ; tiếp đó là thời đại tự chủ với những Thống đốc cha truyền con nối. Từ năm 868 có 3 triều rất hùng mạnh là Fatimid (Ai cập trải dài từ Maroc đến Syrie), Ayyubit (thắng được liên quân các nước tây Âu) , Mamluk (thắng được Mông Cổ và các nước tây Âu ). Từ năm 1517 Ai Cập bị lệ thuộc đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ kỳ, đến năm 1869 lại cùng lúc chịu sự kiểm soát của Anh, Pháp do gánh nợ gây ra bởi kinh đào Suez. Ai Cập giành lại độc lập từ người Anh năm 1922 nhưng Anh vẫn giữ quyền kiểm soát, tình hình chính trị không ổn định mãi đến 18 tháng 6 năm 1953 nước Cộng hòa Ai Cập được thành lập do tướng Muhammad Naguib làm tổng thống, sau đó bị Gamal Abdel Nasser đảo chánh và nắm quyền tổng thống năm 1954. Nasser quốc hữu hóa kinh đào Suez gây ra cuộc khủng khỏang Suez năm 1956. Từ 1958-1961 Nasser xây dựng liên minh với Syria thành Cộng hoà Ả rập thống nhất. Năm 1967, sau chiến tranh 6 ngày, Ai cập mất bán đảo Sinai vào tay Israel. Nasser chết và Anwar Sadat kế vị. Chiến
tranh tháng 10, Ai cập cùng Syria bất ngờ đánh vào Israel nhưng lại bị cả Hoa Kỳ lẫn Liên Xô can thiệp đưa đến thỏa thuận ngừng bắn, Sadat bị ám sát năm 1981, từ đó đến nay tổng thống Ai cập là Hosni Mubarak. Dù là một nước nhỏ nhưng Ai cập rất đông du khách. Người ta đến để chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc độc đáo, đồ sộ có từ ngàn xưa mà còn lưu lại dấu tích đến ngày nay. Người ta vẫn gọi là Ai cập huyền bí vì đến bây giờ người ta vẫn chưa làm sao giải thích được người Cổ Ai Cập lại có thể dựng nên những đền đài, những kim tự tháp vĩ đại với nhưng tảng đá to lớn nặng nề xếp khít trên nhau, những tượng nhân sư (phrinx) khổng lồ tạc từ núi đá, những hầm mộ với những điêu khắc tinh vi, tỉ mỉ viết lại trang sử oai hùng huyền bí của ngàn xưa .... Sông Nil Máy bay rời biển và vào đất liền.Từ trên máy bay nhìn xuống chỉ thấy chập chùng những đồi núi đá nối tiếp nhau trải dài qua khỏi tầm mắt... Phi cơ xuống thấp hơn, vẫn chỉ thấy núi đá và núi đá sau đó là sa mạc với cát vàng tiếp sau đó là vùng có người ở, nhà cửa cây cối trải dài hai bên một dải sông xanh : con sông Nil, mạch máu của Ai cập. Người ta bảo Ai cập là tặng phẩm của sông Nil, Ai Cập sở dĩ tồn tại được là nhờ sông Nil, không có sông Nil thì khẳng định không có Ai Cập và không có nền văn minh rực rỡ ngàn xưa mà ngàn sau cũng khó mà có được như thế. Thật vậy, giữa vùng sa mạc mênh mông xuất hiện con sông Nil mà hai bên bờ sông là một ốc đảo rộng lớn : Ai cập. Ốc đảo này chỉ dám men theo con sông, chỗ hẹp chừng 700m , chỗ rộng nhất là vùng châu thổ sông Nil từ đông sang tây đo được 240km.(Trong sa mạc mênh mông đó cũng xuất hiện vài ốc đảo khác nữa ....) Được coi là con sông dài nhất trên thế giới với chiều dài 6600 km, sông Nil có hai nguồn : một từ Burundi và một từ Rwanda. Từ Burundi ở độ cao 1134 m, hai con sông nhỏ Kagera và Tanzani hợp lại thành sông Luvironza chảy vào hồ Victoria, tại đây nó mang tên là Nil Victoria, sau đó chảy qua hồ Kyoga tới hồ Albert (cùng với sông Samliki do 2 sông Edouard và George hợp lại mà thành) ,
tại đây người ta gọi nó là Nil Albert , tiếp tục chảy qua biên giới Soudanaise thì mang tên mới là Nil Blanc. Tại Khartoum , thủ đô của Soudan, Nil Blanc hợp với Nil Bleu đến từ Éthiopie thành ra sông Nil chảy qua sa mạc Nubie và Haute- Egypte , tạo thành một loạt 6 thác nước. Từ thác thứ 2 là địa phận của Ai cập,ở đây hình thành một dải lụa xanh giữa hai sa mạc mênh mông: đó là Ai Cập và sông Nil. Khi đến Caire, sông Nil chia làm hai nhánh tạo thành một vùng châu thổ dài 200 km trước khi đổ ra biển Địa Trung Hải ở Alexandra. Sông Nil như vậy chẩy qua 10 quốc gia : Rwanda, Burundi, Coya, Taranie, Kenya, Ouganda, Ethiopie, Erythrée, Soudan và Égypte. Dọc theo sông Nil có nhiều thác, kể từ thác thứ 2 về sau thuộc về Ai cập.Thời thượng cổ sông Nil giữ nhiệm vụ chủ yếu về di chuyển, kinh tế, xã hội, trồng tỉa, nông nghiệp, tôn giáo của Ai cập. Phù sa của sông Nil đã nuôi sống Ai cập từ ngàn xưa. Trước kia người ta không hiểu vì sao nước không dâng lên sau khi tuyết tan mà đợi đến tháng 6 nước sông Nil mới dâng mang phù sa đổ tràn ngập ruộng đồng nhưng sau khi dò ra nguồn gốc của sông Nil, ngươì ta thấy rằng những con sông gốc của sông Nil đã được đổ đầy cặn bã cũng như nước mưa nhiệt đới ở Éthiopie và hồ Victoria để đến hẹn hàng năm, vào tháng 6, nước sông Nil dâng lên, mầu xanh lá cây của nước ở Nil Blanc thành ra mầu đỏ vì chứa đầy phù sa đen tạo thành những trận lụt tràn vào để bón cho ruộng đồng. Người ta bắt đầu gieo hạt và đến cuối năm hay đầu năm sau là thu gặt. Ngày nay dọc theo sông Nil người Ai cập đã xây nhiều con đập mà quan trọng nhất là đập Assouan xây vào năm 1970. Để xây con đập này người ta phải dời chỗ nhiều di tích cổ nhất là đền Abou Simbel đã bị chìm hẳn trong lòng hồ Nasser. Nhờ đập này dân Ai cập có nhiều điện để xử dụng nhưng ngược lại họ dần dần mất đi nguồn phù sa thiên nhiên, nước bị giữ lại trong hồ, khi bay hơi chỉ còn là muối khiến ngày nay họ đã phải dùng phân bón hoá học vừa đắt vừa ô nhiễm! Nếu Ai câp là tặng phẩm của sông Nil thì ngược lại Thượng Đế đã tặng sông Nil cho dân Ai cập nên một trong những nhiệm vụ chính yếu của các pharaons là phải bảo vệ tặng vật linh thiêng này, dần dần người ta hợp nhất Thuợng đế là nước sông Nil, nước sông Nil là Thượng đế nên quan điểm của người Ai cập về vũ trụ được diễn tả qua sự di chuyển con thuyền của thần Mặt Trời : Mặt Trời đi lên bầu trời vào ban mai, tối đến đi thuyền vào nước ngầm dưới mặt đất để sáng sau lại hiện ra ở phương Đông. Những pho tượng của những 'mục sư' khi tế lễ cho thấy họ cũng rước tượng thần linh xuống thuyền mà làm lễ. Vì phương tiện để di chuyển là sông Nil nên trong những ngôi mộ lúc nào cũng có những con thuyền khi thì thu nhỏ khi thì lớn bằng thuyền thật để cho người chết- nay đã bước sang một đời sống khác - vĩnh cửu - đi lại. Thuyền thường làm bằng gỗ cèdre lấy từ Liban.... Luxor Rời Athène lúc 14.30h ngày 19 tháng 5, Sao Khuê tới Cairo vào 16.30h , vội vàng làm visa nhập cảnh và lấy vé máy bay để bay tiếp đến Luxor vào lúc 19.15h . Phi trường Cairo sạch và đẹp và do ...hết vé bình dân , 8 người được hân hạnh ngồi vào vé hạng nhất.. . Khi xuống khỏi máy bay ở Luxor lúc 20.15 h sau 1 giờ bay, Sao Khuê thấy có một xe 'van'và một xe bus chờ để chở người từ máy bay vào phòng đợi ( ở Grece và Egypte luôn luôn có xe bus để chở người từ phi cơ vào phòng đợi chứ phi cơ không đậu sát phòng đợi như Canada ) ; quen thói, cả lũ 8 người leo lên xe bus, tài xế vội vàng đóng cửa chở có 8 người và xe van chỉ có tài xế thì chạy theo họ tống ! đúng là VIP nhà quê...! Theo đúng hợp đồng với Memphis tour, xe đến đón và chở thẳng về khách sạn. Trên đường từ phi trường về khách sạn, Sao Khuê thấy có nhiều người tà tà đi bộ hóng
gió, họ đi ra hướng bờ sông, thường mặc bộ áo dài trùm kín người, đen hay trắng. Thành phố có vẻ yên tĩnh, nhiều người đi bộ hơn là đi xe. Người guide cho biết là dân số Luxor chỉ có chừng 4-500 ngàn so với Cairo là 22 triệu ! Luxor chính là thủ đô Thèbes ngày xưa của Ai cập. Thèbes là thành phố của thần Amon-Ra. Luxor là đất của thần Amon, có vợ là thần Goddess Mut, con là thần Khonsu tức thần mặt trăng. Amon sau đó được cho liên kết với thần mặt Trời là thần Ra làm thành vua của các vị thần, Amon-Ra được thờ ở Karnak. Montuhotep II đã thống nhất Ai cập - Thượng Ai cập và Hạ Ai cập - thành lập 30 triều đại đế vương mà Luxor là thủ đô cực thịnh vào triều đại 18-20 (trước kỷ nguyên viết tắt la bc). Luxor qui tụ nhiều dân tứ xứ như dân Babylonians, Mitanni, Hittites... Sử chép là hoàng tử của Hittites cũng đã lấy bà vợ góa của vua Tutankhamon làm vợ. Là thành phố nằm hai bên sông Nil nên người ta chia ra đông và tây Luxor ( West và East bank ). Di tích lịch sử ở East bank có : Luxor Temple • Luxor International Airport • Karnak Temple • Luxor Museum • Mummification Museum • Winter Palace Hotel Còn ở West bank thì có : • Valley of the Kings • Valley of the Queens • Medinet Habu (memorial temple of Ramesses III) • The Ramesseum (memorial temple of Ramesses II) • Deir el-Medina (workers' village) • Tombs of the Nobles • Deir el-Bahri (Mortuary Temple of Hatshepsut, etc.) • Malkata (palace of Amenophis III) • Colossi of Memnon (memorial temple of Amenophis III) Khách sạn Shératon nằm ngay bên sông Nil, từ cửa sổ nhìn ra thật là mát mắt, cảnh bên sông rất nên thơ, mộc mạc y như cảnh miền Hậu giang, hàng cây chà là lá rủ đong đưa y hệt như những cây dừa quê nhà... Nhớ sao là nhớ Việt Nam yêu ơi ! nhưng mà phải lấy phòng, đi ngủ để mai sớm còn đi chơi. Theo chương trình đã thỏa thuận với Memphis tour , sáng sớm xe đến đón 8 người. Cô hướng dẫn viên có vẻ là gốc người Ả Rập, tròn quay vơi cái mặt miếng bầu và khăn trùm kín đầu. Cô đeo cặp mắt kiếng to tổ chảng, đến lúc cô dở mắt kiếng mới thấy đôi mắt trong xanh và to như đèn ô tô. Đại đa số người Ả rập đều có cặp mắt xanh, to nhưng vì phần lòng đen hơi nhỏ, thiếu mất nét hiền dịu thơ ngây mà thành to thô lố! Vì la cà ở Hy Lạp, Luxor chỉ được giành có 1 ngày 2 đêm nên phần thăm viếng có hơi vội vã : trong 1 ngày ! Đúng là
..cưỡi phản lực xem hoa, nhưng mà ai ơi, nóng lắm, có cho ở thêm cũng chẳng ham nên ra về không hẹn ngày trở lại! Xe van chở 8 hành khách cùng 1 người guide chạy qua những con đường nhỏ như nhưng con đường ở miền tây VN ngày nào. Cành dừa cùng những cành hoa phượng đỏ đẹp tuyệt vời ... Xe băng qua vài công viên, qua cầu rồi đi vào vùng sa mạc đến thăm Valley of the King và Valley of the Queens, đền nữ hoàng Hatsheput, Colossi of Menon, memorial temple of Amenophis III, Karnak temple. Thăm 3 hầm mộ nhà vua rồi qua thăm 3 hầm mộ bà hoàng. Trời nắng chang chang.. Các hầm mộ được xây trong núi đá vôi. Qua cái cửa đi vào như cái cổng tò vò là cầu thang dài đưa người ta xuống ..mộ! Vào trong rồi đi theo hành lang dài , hai bên hành lang có điêu khắc màu, nổi bật là mầu xanh , qua 5000 năm vẫn còn tồn tại dù đã nhạt nhòa với thời gian. Gần cuối đường hầm thường có những phòng nhỏ trước khi đến mộ, nhiều nơi trên trần cũng điêu khắc hình vẽ và chữ viết , nhờ vậy ngươì ta dò ra lịch sử của Ai cập ngày xưa.... Sơ lược lịch sử Ai Cập : - Từ 7000- 3000 bc : thời kỳ tiền sử - Từ 3000 bc : Vua Narmer thống nhất thuợng Ai Cập ( Từ Assouan đến Caire) và hạ Ai cập (châu thổ sông Nil- Alexandra), thành lập quốc gia, có triều chính , niên lịch, chữ viết, cho xây mồ bằng gạch ở sa mạc Abydos. - Từ 2670- 1550 bc : Cổ Ai cập và các thời kỳ giao tiếp. - Từ 1550 – 1075 bc : Tân vương triều ( gồm các triều đại 18-19-20 ) * Vương triều 18 : - Ahmosis tức Aménophis I là con của Hapou, kiến trúc sư của vương triều đã thống nhất được đất nước sau 'chiến tranh giành độc lập', lên làm vua 25 năm sau đó truyền ngôi cho con là Amenhotep Ier. - Không người thừa kế, ngôi vua truyền cho Thoumosis I rồi Thoumosis II, ông vua này lấy người em gái cùng cha khác mẹ là Hatchepsout, khi chết đi truyền ngôi cho con là Thoumosis III còn rất nhỏ nên bị bà dì cũng là má lớn Hatchepsout giành quyền. Bà tự xưng làm vua : pharaon nữ Hatchepsout mãi sau ngôi vua mới trở lại Thoumosìs III, rồi truyền cho con là Amenhotep II , thời kỳ này ít chiến tranh. Kế nghiệp là Amenhotep III còn gọi là Aménophis III rồi Amenhotep IV hay Aménophis IV tức là nhà vua cách mạng phản tôn giáo Akhénaton. Nhà vua này chỉ có con gái với bà vợ chính nên ngôi vua về tay con rể là Toutankhamoun (thực ra Toutankhamoun cũng là con trai vua Akhénaton với bà vợ thứ nhưng do cưới được cô công chúa thứ 3, con hoàng hậu, tức người chị cùng cha khác mẹ thuộc dòng chính nên được đưa lên làm vua) nhưng quyền hành thực sự ở tay Ay,giám đốc hoàng cung và đại tướng Morembeb. * Vương triều thứ 19 Pharaon Toutankhamoun chết năm 19 tuổi, không có con nối dõi nên Ay ( có thể là cha của Néfertiti, vợ của Akhénaton ) không phải là người hoàng tộc lên làm vua. Từ đây ngôi vua không còn trong tay hoàng tộc nữa. Ay không có người nối dõi, ngôi vua truyền cho Paramsès tức Ramses I, sau đó truyền cho con là Ramsès II. Ramsès II là người oai hùng nhất trong lịch sử Ai cập, người cho xây nhiều công trình vĩ đại nhất như đền Abou Simbel, Rameseum, Pi-Ramsès v...v... và là người trong 15 năm chiến đấu chống Hitities với chiến thắng nổi tiếng Qadesh sau đó lại mưu cầu hoà bình bằng cách cưới con vua Hitities. Ramsès II nhường ngôi cho con trai thứ 13 (với người vợ thứ) là vua Méremptah khởi đầu cho vương triều 20 * Vương triều thứ 20 Gồm các pharaons Ramsès III, Iv, ...cho dến Ramsès XI - Từ 1075 bc – 650 bc : thời kỳ suy thoái
- Từ 664 bc .... : thời kỳ bị đô hộ Các pharaons, các ông hoàng bà chúa... khi chết đi đều được ướp xác rồi để vào những hầm mộ. Hầm mộ Pharaons nằm ở Valley of the Kings Valley of the kings Trong hầm mộ Sáng sớm đoàn được đưa đến Valley of the Kings, thăm tượng trưng 3 hầm mộ, sau đó đến Valley of the Queen , thăm 3 hầm mộ nữa.Trời thì nóng nên guide nói, guide nghe, Sao Khuê nghe câu nọ lọt câu kia nhưng mà sợ gì, về mở Google với ra thư viện là có hết. Khi chưa đến nơi thì nhìn vào internet chả hiểu gì nhưng đi qua rồi, về nhìn lại , chu mẹc ơi, Sao Khuê say mê đọc sách và vào net( để kể cho quí vị đây) vì hấp dẫn quá. Đây là vùng thung lũng trong sa mạc nằm phía west bank (bờ tây sông Nil), được thành lập từ Tân Vương triều - New Kingdom ( 18-20 dynasty hay thế kỷ 16-11 BC, thời hoàng kim nhất trong các triều đại), Valley of the Kings được khám phá từ cuối thế kỷ thứ 18 sau JC và mới đây người ta tìm thấy hầm mộ của Toutankhamom, nơi đây được công nhận là di sản cửa thế giới từ năm 1979.Trong tập Welcome to Egypte , người ta có nói đến Toutankhamom. Với lý lịch lờ mờ vì người ta chưa xác định được ngài là con của vua Amenophis III hay IV ( tức Akhénaton ). Lên ngôi lúc còn rất trẻ, mới có 9 tuổi, với tên hiệu là Tout Ankh Aton có nghĩa là ' hình ảnh sinh tiền của Thượng Đế Aton , sau đó ngài trở lại đa thần , thờ thần Amon nên mang tên Toutankhamon.... Dở ngược trang sử, sau khi lên làm vua, các pharaons cho người đi tìm nơi để làm hầm mộ. Người Ai cập tin rằng hầm mộ là nơi sống vĩnh cửu sau khi rời cuộc sống thế gian. Hầm mộ thường được đào trong những núi đá vôi ở nơi xa xôi hẻo lánh trong sa mạc để ..khỏi bị làm phiền, dễ đào và dễ khắc chữ, khắc hình tượng lên đó v.v... Người Ai Cập tin 'sống gửi thác về', cuộc sống sau khi chết đi mới là cuộc sống trường tồn vĩnh cửu nên việc xây hầm mộ thực hiện ngay khi nhà vua mới lên ngôi. Họ cho đào trong những núi đá vôi những con đường đi xuống sâu thật dài, hai bên hành lang này có nhiều phòng nhỏ chứa những vật dụng khi còn sinh
tiền, trên trần và dọc theo hành lang có điêu khắc nhiều hình vẽ, chữ viết Cổ Ai cập, kể lại đời sống của người nằm trong mộ. Trong Valley of the Kings có 63 hầm mộ của vua Thoutmosis I, vuaThumose I (hai ngôi mộ đầu tiên trong Valley of the Kings ) và các pharaons Ramesses và các vị giòng dõi quí tộc vua chúa. Hầm mộ của pharaon Toutankhamom, là hầm mộ được ghi số 62 ở Valley of the Kings được Howard Carter , người Mỹ, tìm ra tháng 11 năm 1922. Người Ai cập tin rằng Toutankhamom là con của vua Aménophis IV (tức Akhenaton, vị pharaon bị coi là người tà giáo vì đã chối bỏ thần Amon mà thờ thần Aton) với người vợ thứ biệt danh là 'Young ladie' để phân biệt với Elder lady có lẽ là Nefertiti nằm trong hầm mộ. Có giả thuyết cho là Young lady là em của nhà vua Akhenaton nhưng cũng có giả thuyết khác theo đó Young lady là con gái thứ 3 của Akhénaton với Néfertiti.Vợ chính của Akhenaton, Néfertiti là người rất đẹp và có ảnh hưởng rất lớn với nhà vua. Họ có 6 con gái mà không có con trai nên khi Akhenaton qua đời ngôi vua truyền cho con gái lớn, chị cả của Toutankhamoun khác với lệ thường. Theo tài liệu chưa được chính xác lắm thì nhờ cưới được công chúa thứ ba,Toutankhamom được đưa lên ngôi lúc 9 tuổi sau khi người chị cả, bà hoàng Ânkh-Khéperourê đột nhiên biến mất (?) nhưng ngài cũng chỉ trị vì đến năm 19-20 tuổi thì mất (sau này khi khám nghiệm xác ướp thì người ta nghi ngờ là nhà vua đã bị đập bể sọ nhưng tháng 2 năm 2010 với phương tiện tối tân hơn người ta lại kết luận nhà vua chết do bị nhiễm trùng và bị chứng sốt rét ) . Vì vua còn quá trẻ nên quyền hành ở cả trong tay của Ay, trưởng lâu đài hoàng cung và đại tướng Horembeb. Vợ vua, theo suy đoán là em cùng cha khác mẹ với Toutankhamon và là con gái thứ ba của Néfertiti với Akhenaton, được tôn là Ankhésenpaamon (người ta lại cũng cho rằng bà này đã lấy chính cha
ruột của mình-Akhenaton- trước khi lấy em ruột của minh – Toutankhamoun - có lẽ vì cùng dòng máu lấy nhau nên họ không có con: trong hầm mộ nhà vua người ta tìm thấy mộ một đứa trẻ chết khi vừa sinh ra và một bào thai 6,7 tháng. Sau khi lên ngôi, Toutankhamoum cho khôi phục lại những đền đài thờ thần Amon và cho xây ở đông Thèbes một lâu đài mới nên chưa có thì giờ xây hầm mộ cho chính mình. Khi chết đi ở tuổi 19-20 ( 1338 bc), nhà vua không có người thừa kế và người ta nghi rằng Ay đã lên làm vua và lấy luôn vợ của vua nhưng lại cũng có truyền thuyết cho rằng bà hoàng đã khẩn cầu vua Hittite gả cho bà một hoàng tử để bà giữ ngôi vua, tuy vậy vị hoàng tử này chưa bao giờ tới Ai Cập cả! Sau 70 ngày Ay đã đưa xác ướp của nhà vua đến ngôi nhà vĩnh cửu với những vật dụng hàng ngày, mặt nạ (bằng vàng nặng 30 kg ), tượng bằng ngà, bằng đá .. và cả các đồ chơi của nhà vua khi còn bé. Có tổng cộng 171 vật đủ loại đã được tìm thấy và hiện được trưng bầy ờ viện bảo tàng ở Caire. Ay- mà người ta cũng đoán là cha của Nefertiti, nhạc mẫu của Toutankhamon, tức là ông của vợ của Toutankhamon- không những thừa hưởng ngôi vua, vợ vua (?) mà còn thừa hưởng cả ngôi mộ dự trù giành cho vua Toutakhamom!!!! Trong mộ của vua Toutankhamom, người ta thấy nhiều bức họa khắc trên tường trên trần rất đẹp, mầu sắc còn đậm sau hơn 3000 năm, kể lại đời sống của vua, vua và bà vợ cưng, đồ chơi ngày còn bé và một mặt nạ vàng y nặng 35 ký...nay trưng bầy ở viện bảo tàng Cairo.Khi khai quật người ta còn tìm thấy tại đây xác hai bé gái chết yểu trong bụng mẹ.
Oai hùng nhất trong lịch sử là pharaon Ramsès II, vị vua của uy quyền, của xây dựng, của sáng tạo và của chiến thắng. Đây là vị vua thứ 3 triều đại 19 , ông trị vì 67 năm , thọ 90 tuổi , có rất nhiều vợ và có khoảng từ 100-200 người con. Ông cho xây nhiều đền đài, hầm mộ vĩ đại ở Luxor, Karnak, Nubia. Bà vợ chính Nefertati được ông xây hầm mộ ở Nubia. Ông nổi danh trong chiến trận Qadesh với Hittites. Trận chiến bắt đầu từ năm thứ 5 sau khi lên ngôi, kéo dài 15 năm và sau cùng được giảng hoà bằng hôn nhân của pharaon với con gái vua Hittite III, sự tích được ghi lại trên bàn bằng bạc bởi vua Hittites. Xác ướp Ramsès II khởi đầu được để ở ngôi mộ số 7 ở Valleys of the Kings, sau vài triều đại được dời đến mộ của vua cha, được tìm ra năm 1871 và hiện được trưng bầy ở bảo tàng viện Le Caire. Sau hàng mấy ngàn năm xác ướp còn nguyên vẹn nhưng chỉ sau vài chục năm trưng bầy, năm 1976 xác ướp bị mốc nên được chở bằng phi cơ sang Pháp để chữa trị và tu sửa với thông hành mang tên Ramsès II, nghề nghiệp : vua Ai cập! Các nhà khoa học bèn lợi dụng cơ hội để moi ra thêm nhiều chi tiết khác: nhà vua cao khỏang 1.73 mét, tóc xoắn muối tiêu, chừng 80 tuổi, bị thấp khớp, sưng răng, lưng còng.... Ramsès II cho xây nhiều đền đài , có cái đào sâu trong núi đá, nổi tiếng là đền d'Abou Simbel phía bắc Assouan với 4 tượng vua cao đến 20 mét ở chỗ cửa vào. Ramesseum, chỗ thờ Ramsès II ở phiá đông Thèbes (Luxuor) còn ngôi mộ thì cách đó vài km trong Valley of the Kings.
Những pharaons được coi như giáo chủ lớn nhất nhà nước hay là vua. Các pharaons thờ thần Amon là vua của những vì vua, đóng đô ở Thèbes nhưng đến đời Akhenaton (bị coi là người theo tà giáo) thì cho phá huỷ tượng Amon và thờ thần Aton tượng trưng bằng điã tròn như mặt trời. Khi Toutankhamon được đưa lên ngôi, ngài trở lại với thần Amon và đền thờ thần Aton lại bị phá hủy. Người ta kết tội Akhenaton đã cai trị không theo Maât (sans Maât) mà theo quỷ sứ vì đã mắc căn bệnh 'maladie de l'Egypte'. Maât chính là thần nữ của Công Bằng, Sự thật và sự Hòa điệu ( la Justice, la Vérité, l'Harmonie). Thần nữ có mang trên đầu một cái lông con trĩ,và pharaon dâng lên Thượng đế bức tượng nhỏ của Maât đặt trong lòng bàn tay, chứng tỏ ông vua sẽ cai trị như là Maât mà không lạm dụng quyền thế. Nữ pharaons Chúng ta ít biết đết các pharaons mà biết đến Ai cập nhờ nữ hoàng Cléopâtre. Ít ai quên được hình ảnh đẹp tuyệt vời của Cléopâtre do Elizbeth Taylor thủ vai, mặc áo giáp vàng ngồi trên ngai vàng uy nghi trên chiếc xe khổng lồ tiến vào thành Rome trong phim Cléopâtre mấy chục năm về trước. Cléopâtre cũng nổi danh nhờ câu nói bất hủ ' nếu cái mũi của Cléopâtre ngắn đi một chút thì cục diện thế giới đã thay đổi'. Là pharaon cuối cùng (Cléopâtre VII ), bà có tổ tiên gốc Hy Lạp. Từ năm 332 bc, Alexandre le Grand thắng Ai cập, lập toàn quyền Ptolémée trị vì Ai cập như những pharaons trước đó. Sinh năm 69 bc, Cléopâtre lấy người anh cả và lên ngôi vào l9 tuổi . Người anh muốn giành ngôi nên Cléopâtre cầu cứu César là vua La mã lúc đó đến Ai cập để thu góp tiền bạc. Cléopâtre thực sự giữ ngôi năm 21 tuổi chấp nhận lấy César, lúc đó đã 54 tuổi và họ có một người con trai là Césarion. César phải trở về Rome, Cléopâtre đi theo nhưng không được trọng vọng. Khi César mất bà phải chạy sang Alexandrie và phải chọn lựa giữa Octave hay Marc- Antoine để làm chỗ dựa. Octave là cháu của César, sau này là hoàng đế La Mã. Ông không thích bà hoàng có lối sống đông phương này nên Cléopâtre tìm cách bám lấy Antoine, thống đốc các tiểu bang miền đông (La Mã khi này theo tam đầu chế) : Năm 41bc , Cléopâtre đi Tarse, ghé thăm Antoine. Cléopâte cần chỗ dựa để bảo vệ ngai vàng còn Antoine thì cần vàng với lúa mì của Egypte. Sự kết hợp mang tính cách chính trị này cũng đem lại cho đôi tình nhân những giờ phút nồng cháy, nàng mới có 28 và chàng 42 tuổi. Chàng theo nàng về Alexandrie và dần dần bị người đẹp nhiều mánh khóe chinh phục. Antoine nhường cho nàng và các con nhiều phần đất phía tây của đế quốc La Mã, cho xây một đền thờ ở Alexandrie, lơi là chú ý đến Rome. Năm 31bc,
La Mã đem quân đánh Ai cập, Octave thắng trận thủy chiến ở Actium. Antoine chết và Cléopâtre tự tử chết theo ở tuổi 39 bằng một con rắn độc. Từ đó Ai cập thành thuộc địa của La mã. Cléopâtre không phải là nữ hoàng duy nhất của Ai cập và hơn nữa Cléopâtre chỉ là bà hoàng chỉ cai trị dân qua sự trợ giúp của ông chồng, Ai cập còn có một bà hoàng lẫy lừng hơn xuất hiện sau đời vua thứ hai vương triều thứ 18 , đó là Hatchepsout. Là con gái duy nhất của pharaon Thoumosis I, bà đáng lẽ là ngươì kế thừa ngai vàng nếu như Ai Cập không phân biệt nam nữ nên để có được quyền hành bà phải lấy người anh cùng cha khác mẹ. Chồng bà lên ngôi là Thoumosis II nhưng chết trẻ mà bà cũng lại chỉ sinh con gái với nhà vua này, quyền thừa kế sang tay con trai của nhà vua và bà vợ thứ là Thoumosis III, hãy còn nhỏ. Thay vì buông màn chấp chính, năm 1490 bc, bà tự xưng làm vua , tuyên bố: Chính ta là Thượng đế, ta quyết định tất cả mọi việc và không một mệnh lệnh nào của ta lại không được thi hành'. Chính thức cai trị từ năm 20 tuổi , sau này bà biến mất, có lẽ do bị ám sát và người kế vị tìm mọi cách xoá nhoà tên tuổi, nhưng không xoá đền của bà dựng mang tên là Deir et Bahari ở tả ngạn sông Nil ở Thèbes. Hầm mộ giành cho bà trống không và người ta không tìm thấy xác ướp của bà mà chỉ thấy những mẩu tượng bằng đá của bà dưới hình hài đàn ông, bộ râu tượng trưng cho nhà vua với nét mặt xinh tươi...
Một pharaon nữ nữa là chị cả vua Toutankhamoun, bà hoàng Ânkh-Khéperone cũng chỉ lên ngôi được thời gian rất ngắn thì mất tích, sau đó thì Ay và Horembeb đưa Toutankhamoun lên ngôi vua lúc 9 tuổi! Hoàng hậu Trong Valley of the Queens nằm ở West bank (tây sông Nil) cũng thuộc Luxor ( xưa là Thèbes, thủ đô của Egypte) người ta đã tìm ra 75-80 hầm mộ của các hoàng hậu thuộc các triều đại 18, 19 và 20 bao gồm cả hầm mộ của Khaemweses , hoàng tử con vua Ramesses II số 44). Hầm mộ số 52 là của hoàng hậu Titi, bà được điêu khắc như những phụ nữ Ai cập thời đó cùng vơí các Thần ( thượng đế) Thoth, Isis, Nephthys, phòng kế bên khắc hình con bò để vinh dự 'lao động vinh quang' của chú bò và 1 phòng nữa điêu khắc hình các thượng đế. Hầm mộ số 55 có khắc hình Amenhikhopeshef (chết vào khoảng 9 tuổi) cùng với cha là Ramesses II và các thần Thoth, Ptah vv.. Ở đây cũng có mộ một trẻ sinh non vì mẹ cậu bị sẩy thai khi cậu mất (tôi nghiệp bà mẹ, mất hai đứa con cùng một lúc) . Nefertari Hầm mộ số 66 thuộc về hoàng hậu Nefertari một ngôi mộ được coi là đẹp nhất, lớn nhất trong Valley of the Queens do Ramesses II lập cho bà. Với rất nhiều trang trí lộng lẫy, nơi đây được gọi là Place of the Beauty vì hoàng hậu được coi là người đẹp nhất trong các bà hoàng hậu của vua.Trang trí và điêu khắc trên tường, trên trần mô tả lại những huyền thọai gặp gỡ của nhà vua, hoàng hậu với thần tiên, thú (monstres - người Ai cập thờ thú vật , đầu thú mình người ) và con đường đi vào vĩnh cửu, những hình họa của hoàng hậu tuyệt đẹp với những trang phục dài, hai chiếc lông điểu dài, vương miện bằng vàng. Bà còn có rất nhiều đồ trang sức bằng vàng. Phòng kế bên là nơi bà thờ phượng xác ướp của Osiris. Kế cầu thang là cảnh bà dâng sữa cho thần Hathor. Vua Ramses II ( vị vua anh hùng nhất của Ai cập) có 4 bà vợ nhưng Nefertari được gọi là 'bà vợ vĩ đại nhất' của nhà vua, được vua yêu thương nhất, tình yêu này thể hiện qua những dòng chữ để lại : My love is unique. No one can rival her. For she is the most beautiful woman alive just by passingshe stolen away my heart.Vua cũng lập cho bà một đền thờ nổi tiếng Abu Simbel gần Colossal monument. Họ lấy nhau khi nàng
13 và chàng 15 tuổi, có với nhau 4 con trai và ít nhất 2 con gái nhưng Ramesses II lại truyền ngôi cho con trai thứ 13 và khi Nefertari chết đi , con gái bà là Meritamen được lập làm hoàng hậu ( lấy cha ruột) . Người ta đoán là có đến 3 pharaons đã lấy chính con gái mình làm vợ là pharaon Amnénophis III, pharaon Akhénaton và pharaon Ramsès II. Trong hầm mộ Nefertari người ta thấy cảnh 1 con chim với đầu của bà hoàng (hình vẽ này tượng trưng cho linh hồn của bà) . Hình Ba-bird đang đứng trên thang có dạng nấm mồ. 'Ba' biểu hiệu cho thượng đế, bà hoàng quỳ gối trước linh hồn chính mình, hai tay đặt trên cặp sư tử, mà giữa chúng là 'điã' mặt trời. Hai con sư tử tượng trưng cho 'ngày hôm qua' và 'ngày mai' hay quá khứ và tương lai. Con chim tượng trưng cho con phượng hoàng, biểu hiệu cho linh hồn của thần Ra, cũng là biểu hiệu của Osiris. Osiris cũng là thần của sự Chết hay thần của đời sống sau này (after-life) hay thần của sự tái sinh ( tượng trưng là làn da mầu xanh lá cây). Đền thờ Rời các hầm mộ, phái đoàn đi thăm các đền thờ El-Dir-bahari, Hatshepsut và Alabaster factory.... Dùng cơm trưa xong, phái đoàn đi thăm đền Karnak và đền Luxor. Đền Luxor cách đền Karnak khoảng 3 km về hướng nam, đầu tiên do nữ hoàng Hatshepsut xây ngôi nhà nguyện để thờ thần Amon-R, thần Maât, thần Chons, sau đó Amnehotep III tiếp tục và Ramsès II hoàn tất. Đây là ngôi đền rất rộng lớn, nặng nề nhưng lại kết hợp hài hoà. Sau khi đi qua sân rộng mênh mông, chúng ta nhìn thất hai toà tháp trụ hình chữ nhật to lớn cao 65 mét lớn bằng 2 cái building. Đường vào đền đi ngang một hành làng dài, hai bên là 64 cột trụ cao 12.8 mét ngất ngưởng để nâng trần nhà cao 25 mét, dĩ nhiên là không còn trần mà là bầu trời trong xanh, những tảng đá làm trần đã rơi từ hồi nào không biết, chỉ còn rải rác sót lại vài ba tảng to bằng cái bàn 20 ngươì ăn!. Hai tháp cao vút Obélisques de Luxuor nay chỉ cón có một vì một đã được tặng và chở về Pháp để ở Place de la Concorde năm 1836- bằng đá hoa cương mầu đỏ, một giáo đường Hồi giáo, khu chính điện, những phòng phụ... Chúng ta ..chóng mặt bởi những hàng trụ cột đá hoa cương cao vút lên trời vì đền không còn mái. Mái, trước đó là những tảng đá không lồ (không hiểu bằng cách nào họ đã mang nổi những tảng đá to lớn đó để làm mái nhà) nay chỉ còn sót lại một vài tảng đá to lớn nằm chơ vơ trên những cột trụ to và cao : la grande colonade d'Amenhotep III hay Ramsès colossis! Không kể sân vào, đền Luxuos dài 260 mét và rộng 50 mét, tất cả đều bằng đá dĩ nhiên không còn nguyên vẹn nhưng tất cả đều khổng lồ với những hình , chữ viết được khắc trên đó. Cao lớn như người phương Tây cũng chỉ cao ngang bệ đá trên đó có tượng Ramsès đang ngồi nghiêm chỉnh với nét mặt vui tươi!
Đền Karnak Đi qua đại lộ ...nhân sư – Sphrinxes - những con thú to lớn này ôm tượng Ramsès trong lòng, chúng ta đến đền Karnak. Đền Karnak được coi là ngôi đền lớn nhất thế giới với diện tích 100 hectares. Với 3 đền chính, nhiếu đền nhỏ và rất nhiều đền phụ được xây và nới rộng trong khoảng thời gian 1300 năm để thờ thần Mâat, thần Amon, thần Monthu. Tường là những tảng gạch khổng lồ , mái là những tảng đá khổng lồ còn sót lại ở vài nơi. Tượng ramsès ở đây đứng và dưới chân tượng người ta thấy có tượng người nữ cao chỉ từ bàn chân tới đầu gối, không hiểu là vợ hay là con gái vì Ramsès II có lấy một người con gái là vợ! Với 134 trụ cột đá hoa cương chia làm 16 hàng tạo thành Hypostyle hall thì Thánh đường St Piette ở Milan hay Notre dame có thể...đút gọn vào trong!
Đền Hatshepsut ở gần valley of the Kings do kiến trúc sư Senemut thực hiện để thờ thần Amon-Ra. Là con gái của Tuthmosis II, bà lấy anh là pharaon Tuthmosis III , khi nhà vua chết đi thì lấy pharaon Tuthmosis IV, khi này nhà vua còn rất nhỏ nên bà tự phong làm pharaon và cai trị Ai cập. Khi bà chết đi, Tuthmosis lấy lại quyền và tìm cách xoá nhoà đi tên tuổi của bà bằng cách phá các công trình xây dựng cũng như phá cả hầm mộ của bà nên chỉ còn sót lại ngôi đền to lớn có tên là Deirel Bahari với kiến trúc rất cổ. Đi qua 3 lần sân chúng ta đến chính điện thờ thần Mặt Trời bên phải và bên trái thờ Hatshepsut. Người ta không tìm thấy xác ướp của bà nhưng trên tường còn lại những điêu khắc nói về bà. Bà được mô tả như một người đàn ông đang cai trị dưới hình dáng thượng đế Osiris. Bà đã đi du lịch ở Punt (Somalia?) và mang về trồng ở sân trước một loại cây có mùi thơm (cây Myrrh)..... Pyramides Thời cổ đại chưa có kim tự tháp, vua Ai Cập cho xây mộ hình thang mà nhìn từ xa, những ngôi mộ này giống như dẫy ghế ngồi, gọi là mastaba, pyramide Mastaba Djoser trong đó có phòng để quan tài, phòng để đồ cống lễ, phòng để nông cụ, phòng để dụng cụ săn bắn, phòng nghỉ ngơi v..v.. Gạch xây tường lấy từ đất sông Nil. Phải chờ đến Mastaba của vua Djéser (-2650) do kiến trúc sư Imhotep (được coi là con trời Ptah, tổ sư của những kiến trúc sư) xây từ triều đại III mới hình thành kim tự tháp bằng đá cao 60 mét, một công trình lớn nhất thời bấy giờ vì Djéser là một pharaon rất có thế lực. Kim tự tháp này có nền hình chữ nhật ( những nhà vua sau đó đều cho xây những kim tự tháp nền vuông). Kim tự tháp vua Snéfrou tuy đỉnh đã nhọn nhưng có lẽ đã sẩy ra một trận động đất nên người ta thấy phần đỉnh cao không dốc thẳng mả lại lài lài ở độ cao 40 mét, có lẽ cho khỏi đổ. Kim tự tháp lớn nhất là cuả vua Khéops, triều đại thứ IV trong 30 vương triều,con vua Snéfrou, trị vì từ 2553 đến 2530 BC ( trước tây lịch). Với 227,50 mét phần nền và cao 146,60 mét, cao hơn cả tượng nữ thần tự do ở Newyork, Taj Mahhal ở Ấn độ , Saint-Pierre ở Rome , kim tự tháp Khéops cùng vơí kim tự tháp của Mykérinos và kim tự tháp của Khéphren làm thành khu kim tự tháp Gizeh được người Ai Cập coi là 1 trong 7 kỳ quan của thế giới.
Khu kim tự tháp Khéop có hai ngôi đền để thờ Kheops (một gần kim tự tháp và một gần sông Nil), ba kim tự tháp nhỏ hơn cho các bà vợ của Kheops, và một kim tự tháp "vệ tinh" nhỏ hơn, một đường đắp cao nối hai ngôi đền, và một nhà mồ nhỏ bao quanh kim tự tháp cho các quý tộc. Một trong các kim tự tháp nhỏ chứa mộ của hoàng hậu Hetepheres (khám phá năm 1925), em gái và vợ của Sneferu và mẹ của Kheops. Không xa kim tự tháp là thành phố cho công nhân, bao gồm một nghĩa trang, các tiệm bánh, một xưởng làm bia và một khu để luyện (nấu chảy) đồng .Nhiều tòa nhà và các khu cấu trúc khác đang được khám phá bởi Dự án vẽ bản đồ Giza. Cách vài trăm mét về phía tây nam Kim tự tháp Kheops là một kim tự tháp hơi nhỏ hơn khác, kim tự tháp Khéphren, em của Khéop và là người kế vị Kheops và được tin rằng là người đã xây dựng Đại Sphinx Giza tức Đại Nhân sư. Thêm vài trăm mét nữa ở phía tây nam là Kim tự tháp Mykérinos, con trai Khéphren và kế vị
Khéfren, với chiều cao khoảng một nửa Đại kim tự tháp. Hiện nay, kim tự tháp Khéfren là kim tự tháp cao nhất trong nhóm bởi Đại kim tự tháp đã mất khoảng 30 feet chiều cao vật liệu trên đỉnh. Thời cổ đại, Kim tự tháp Kheops quả thực là cao nhất, nhưng trên thực tế khi ấy kim tự tháp Khéfren nhìn vẫn có vẻ cao hơn vì các cạnh của nó có góc đứng hơn so với Kim tự tháp Kheops và nó được xây dựng trên thế đất cao hơn Tổng số số lượng đá của 3 kim tự tháp này được vua nước Pháp là Napoléon cho là có thể xây được một bức tường thành cao 3 mét bao quanh nước Pháp! Calife tên là Abdullah el-Mamoun người cai trị AI cập khoảng 820-827 muốn gỡ kim tự tháp để tìm của cải dấu trong đó nhưng các quan chức thời đó đã tính toán thấy rằng tốn phí gỡ ra đắt hơn toàn bộ tiền thuế thâu được nên Abdullah bỏ ý định, chỉ khơi một lối đi vào mà ngày nay ngươì ta vẫn xử dụng. Nhân công qua lối này vào,mang quan tài ra và khi mở ra người ta thấy xác người đàn ông mang áo giáp nạm vàng vơí rất nhiều ngọc quí ngực có thanh gươm cạnh đầu là viên ngọc hyacynthe to bằng quả trứng chiếu rực rỡ như lửa cùng một bình đựng 1000 đồng vàng... Tuy vậy số tiền và ngọc thu được ũng ngang ngửa chi phí đào mồ khoét mộ !!!!Ngày nay theo lối đi vào chúng ta chỉ thấy 3 phòng trống rỗng , một hòm đá có lẽ là nơi để quan tài có xác ướp của Khéop. Người ta thấy để phòng cho hoàng hậu nhưng không thấy tên hoàng hậu, phòng nhà Vua có hòm đá rộng 60 mét vuông tất cả đều bằng đá cẩm thạch mầu hồng. Bên trên đầu phòng nhà Vua có 5 phòng thấp nhỏ đều bằng đá tảng có lẽ để đá của pyramide không được đè lên đầu vua. Xâu xuống 30 mét dưới nền kim tự tháp có một gian phòng khóet trong núi nhưng không ai mon men tơí có lẽ do thiếu oxygène . Ấn tượng nhất là hành lang dẫn đến đại sảnh nhà vua : hành lang lài lài đi xuống dài 47 mét , một cầu thnag cao bằng cái nhà trung bình cỡ 8.5 mét, tường cao 2 mét, trần tường bào nhẵn bằng đá tảng cái nọ ráp vào cái kia tạo thành cái vòm hành lang rộng lớn có lẽ để nhiều người đến từ biệ nhà vua lần cuối trước khi được dóng lại cho đến thiên thu... Xây kim tự tháp qúa khó khó khăn nên các pharaons chuyển sang đào các hầm mộ để giữ lại của cải và nhất là xác ướp của họ. Ướp xác
Xác ướp Ramses II Xác ướp Thoutmosis IV Người Ai cập tin rằng sau khi chết đi là bước qua một đơì sống khác, đó mới thật là đời sống vĩnh cửu, nhưng muốn có được đời sống vĩnh cửu thì trước hết phải giữ được thân xác phàm trần !!!Dĩ nhiên những người nghèo chỉ được chôn trong cát sa mạc sau khi cuốn trong lớp da bò như tự ngàn xưa . Nóng và gió sa mạc làm khô xác chết trước khi nó bị rữa. Những ngươì giàu có mới được sống vĩnh cửu vì chỉ họ mơí đủ tiền để trả cho công việc ướp xác. Nhưng thân xác này phải làm cách ướp sao đó để được tồn tại mãi với thời gian, muốn vậy xác ướp phải nhẹ như vỏ trứng nhưng phải cứng như tượng đá. Những người thợ ướp xác thường làm việc trong những căn lều xa nơi người ở và gần sông rạch để rửa xác, nơi đó gọi là 'Nhà tinh khiết'. Họ làm việp dưới sự giám sát của các giáo sĩ để ban phép lành. Mọi người đều ao ước xác ướp củ mình được đặt trên mình con bò tót rồi được thần Chết - mình người đầu thú chacal, giống như đầu chó sói - đón đi. Cần 70 ngày để hoàn tất một xác ướp tốt. Những người ướp xác làm việc trên cái bàn cẩm thạch mầu ngà lớn hơn cái giường một phía có khắc 2 cái đầu sư tử, phiá kia có một cái chậu để hứng máu, chất rửa thải ra.Để tránh mùi hôi thối, khi làm viêc họ mang mặt nạ cũng có hình đầu chó sói, thỉnh thoảng họ cũng đãng trí như những bác sĩ giải phẫu thời nay : quên kẹp, quên móc , quên muỗng ... những dụng cụ để moi bộ đồ lòng trong xác chết!!!! Rất ít tài liệu để lại cho biết làm sao để ướp xác nên người ta chỉ phỏng đoán là sau khi người trong gia đình than khóc thì xác được đưa đi ướp theo nhiều cách và nhiều giá khác nhau. Sang nhất thì thợ ướp bắt đầu dùng móc sắt luồn qua lỗ mũi để moi óc ra, dùng dao bằng đá mổ
sườn để lôi bộ đồ lòng, rửa ráy cẩn thận sạch sẽ với rượu dừa , ướp hương liệu rồi nhét đầy bụng đã trống rỗng bằng hỗn hợp cây myrrhe, quế, cùng nhiều hương liệu khác, khâu lại để vào cái bồn lớn chứa đầy chất natron trong70 ngày. Natron là bột của carbonate hydraté de soude (Na2CO3+NaHCO3), có rất nhiều ở vùng Ouadi Natroum nên gọi là natron và có thể xử dụng nhiều lần nhưng giảm hiệu lực. Còn có một chất gọi là gôm -gomme- là một chất nhựa, chính xác không biết là chất gì để dán băng quấn quanh xác ướp, có lẽ là dầu thông Liban, nhang thơm từ cây myrrhe , vừa dính băng vừa có tính chống nấm và khử trùng, khi khô lại thường rất cứng. Băng quấn quanh xác dài đến 75 mét vuông bằng lanh thường mầu đỏ hay hồng, có thể từ quần áo cũ, nhưng quấn theo hình tam giác rất có nghệ thuật. Phụ trách việc quấn băng là vị giáo sĩ mang mặt nạ hình đầu chó sói Anubis. Anubis là một con chó đen của sa mạc dùng để canh giấc ngủ ngàn thu của người chết. Xác ướp sau đó được đặt vào quan tài đẽo từ thân cây lớn, qua tài không có hình chữ nhật mà có hình như người nằm ngủ theo dạng xác ướp, mặt ngoài có tô điểm nhiều hình vẽ. Những hình điêu khắc trên nhà mồ ở Thèbes hay trên giấy của thư khố papyrus cho chúng ta biết khi xác ướp đã xong , sau 70 ngày, thì đám tang linh đình được cử hành. . xác ướp được đặt vào quan tài để mở trên cỗ xe, kéo bởi con bò, theo sau là thân bằng quyến thuộc, giáo sĩ.Ngườ thân tóc rối bù , ngực trần than khóc; nô lệ mang theo bàn ghế, ruơng hòm quấn áo, đồ trang sức của người chết. Họ cũng mang thịt thà rau cỏ trái cây đi từ từ đến nhà mồ. Đến nơi, xác ướp được đưa ra khỏi quan tài. Người giáo sĩ mang mặt nạ chó sói Anubis giữ xác ướp đứng vững, giáo sĩ mới tu khác (giáo sĩ tạm thơì chỉ tu một thơì gian ), thường là con trai cả của người chết đốt nhang trong khi giáo sĩ chính làm phép mở miệng cho người chết để có thể nói, nghe,thấy và hưởng thụ được đồ cúng tế. Người càng sang giàu thỉ tang lễ càng cầu kỳ rắc rối và kéo dài. Gia đình nói lời từ biệt vơí người chết. xác được đưa trở lại vào hòm, đồ cúng lễ mang ra ..nhậu nhẹt. xác ướp thì có thể bị huỷ nên ngườ ta làm thêm những tượng để linh hổn trú ẩnvà hưởng thụ vật cúng tế để vào trong nhà mồ. Ngườì chết còn phải trải qua sự phán xét qua một cái cân lớn , qủa tim tượg trưng cho sự thật, nhân tính, ý chí, lương tâm, lý luận củ người chết được đạt lên một bàn cân , bà n bên kia là một cái lông (!) tượng trưng cho luật của thần linh,Mâat ; bên cạnh chiếc cân là một con thú lai cá sâu, hà mã và báo ' (A)n tươi nuốt sống' sẵn sàng nuốt trửng xác nếu trái tim người chết quá nặng và như thế thì coi như chết luôn sa địa ngục. Vì thế giữa hai chân xác ướp người ta để Livre des morts (đắt bằng 2 con bò hay 1 người nô lệ hoặc 6 tháng lương người thợ) để hướng dẫn người chết đi vào đế quốc của tử thần. Sách này do Thot , vị thần khôn ngoan thảo ra theo đó người chết phải đọc 125 lần những câu như : tôi không hại ai , tôi không bạc đãi thú vật, tôi không lưu trữ nước lụt cho riêng tôi ..... Có khỏang 200 bùa chú thứ linh tinh , bí ẩn để cho quan toà phán vô tội và không bị quỷ sứ ăn thịt.... Thày thợ Dù vua có ra lệnh , kiến trúc sư có vẽ kiểu, kỹ sư có ra tay mà không thợ thì cũng không thể nào có được những công trình vĩ đại như thế. Đôi lúc Sao Khuê tưởng tượng là ngày đó người Ai cập đã mướn những người khổng lồ to lớn cỡ 100 lần người thường từ những hành tinh xa xôi thì mới có thể dựng nên những kim tự tháp, đền đài cao, to mà mỗi tảng đá to bằng cái giường king size, đã được họ xếp khít lên nhau y như ngày nay người thợ xây tường bằng những viên gạch chưa bằng quyển sách? Trái với Trung Quốc nơi mà các vua Tầu chôn sống những người thợ để khỏi lọ bí mật, những người thợ chuyên về xây mộ và tang lễ của Ai cập thì cha truyền con nối. Đó là những nghệ nhân, khéo tay bao gồm những kiến trúc sư công trình, những người thợ mộc, thợ đẽo đá, thợ khắc, thợ làm trang trí, thợ sơn mà nhà vua đã tin tưởng giao cho họ xây những ngôi nhà vĩnh cửu ở những nơi hoang vu dễ canh để trộm cắp không thể mò tới được. Họ được gom lại, sống thành làng như làng Deir el Medineh, có đường đi, có nhà ở, có tường bao quanh ở trong một thung lũng mà quân đội dễ
kiểm soát từ trên cao và họ chỉ được rời làng bằng một lối ra duy nhất để đến thẳng chỗ làm.Họ xây hầm mộ cho hoàng gia, giới quí tộ, nhà giàu và những ngườ thợ có tiền cũng xây hầm mộy cho chính họ và gia đình họ Làng những người thợ xây hầm mộ Pyramide ở Deir-el-medineh Trong hầm mộ của Sennuten Có khoảng chừng 70 mái nhà 1 tầng, sơn trắng, cổng đỏ chỉ cách nhau bởỉ khoảng đường đi rất hẹp, mỗi nhà như vậy có chừng 5 người : cha mẹ và con cái; thường thì con cái ở nhà với mẹ, những người cha đi làm ngủ lại chỗ làm và chỉ trở về nhà vào ngày nghỉ ( mỗi 10 ngày) hay ngày lễ. Trong những căn nhà này họ cũng khắc lại tên chủ nhà, họa lại hình dáng người trong nhà và ghi lại những chuyện sảy ra hàng ngày, nhiều hơn là chuyện vua chúa. Vì khéo tay nên họ nghĩ phải được đền bù xứng đáng nên đôi khi họ cũng đình công; lần đình công coi như đầu tiên của lịch sử nhân loại sảy ra ngày 14 tháng 11 năm 1152 bc (-1152). Ngày đó vào năm thứ 29 Ramsès II có khỏng 60 người không chịu làm việc. Dưới sự chỉ huy của thư ký Patouéré và 2 trưởng công trình, những người thợ đẽo đá, thợ mộ và thợ vẽ rời công trình, băng qua núi trở về làng rồi tiến đến Ramesseum, đền thờ cho Ramsès II nơi đây có chứa lương thực cũng như tiền lương của họ. Ngồi trước cửa đền họ kêu lên: Chúng tôi đói và khát. Họ yêu cầu mang lương thực và tiền lương mà họ đơị chờ từ 1 tháng nay. Không thành công, hôm sau họ tiếp tục gào và cuối cùng Mentmosé, truởng cảnh sát phải thân chinh đến Thèbes để trình bày với viên tỉnh trưởng. Tối đó trở về ông ta tặng cho đám người biểu tình 55 cái bánh ngọt ,tiếp sưc cho họ tiếp tục kêu gào ngày hôm sau : chúng tôi không có quần áo, không có dầu ăn, khôngcó gì để ăn hết. Làm ơn đạo đạt lên cấp trên và lên ngài Pharaon để cứu giúp chúng tôi... sau cùng các viên chức nhà nước thoả mãn nguyện vọng của họ để ...thỉnh thoảng họ lại đình công! ...Còn rất nhiều chuyện mà những nghệ nhân này đã ghi lại hoặc trên giấy papyrus hoặc khắc trên đá vôi từ đó ngày nay chúng ta biết được lịch làm việc trong ngày, như phát bao nhiếu tim đèn để đốt đèn dầu mà làm việc trong hầm tối ... từ đó chúng ta biết được họ đã chia ca để làm việc, mỗi ca làm 4 tiếng và có nghỉ trưa. Dụng cụ bằng đồng được kiểm soát kỹ lưỡng và có kiểm tra dụng cụ làm việc vì chúng rất đắt, một cái kéo có giá trị bằng lượng ngũ cốc cấp cho 1 người thợ trong 1 năm... tất cả đưoc thư ký chép lại và cất ở kho lưu trữ văn kiện, ngay cả ghi danh người làm việc hay vắng mặt.Lại có người tên là Amennakhté, nghệ nhân chép lại chuyện bố vợ của mình, người thợ đẽo đá khả ố tên là Paneb :Hắn đã lượm đá đập vỡ cửa nhà của Neferhotep, đáng 9 ngươì tối hơm đó, đã dọa dẫm người trưởng công trình tên là Hay : tao sẽ giết chết mày trong sa mạc...nhưng Hay vẫn còn sống . hắn đã ngủ với Touiou vợ của Kenna và còn xâm phạm con gái chính mình : hắn xé quần áo của Iymuai ( vợ cuả Amnenakhté), đè nó vào tương và bức hiếp nó! v....v
Hầm mộ của Sennedjem's Để ghi chép đưọc thì phải đi học viết. Có một lời mà người cha khuyên dạy người con phải đi học được truyền từ thời này sang thời khác để chúng tỏ sự quan trọng của việc đưọc đi học chữ : Có một người cha tên là Chéti dẫn ngươì con trai là Pépi lên kinh đô để nhập học trường nhà nước, nơi người ta dạy cho biết chữ. Ngươì cha nói : thật là bất hạnh nếu phải làm thợ hay là nghệ nhân. Ngươì thợ hót tóc đến tôí muộn còn phải di kiếm khách, thợ nề thì dù trời gió cũng không được mặc áo chemise khi làm việc mà tay chân lại luôn luôn dơ bẩn, áo quần lại nhàu nát, trái lại nhưng thày ký lúc nào cũng ăn mặc đẹp đẽ, không biết đến chuyện chiến trận hay là lao động khổ sở. Nhà vua chăm sóc đến họ và họ có thể làm việc trong guồng máy cai trị...nhưng những thày ký này phải học nhiều thứ : tên các quốc gia và các vùng lân cận, cây cỏ, ngày tế lễ... và cách thức sử sự trong đời : cư xử đúng đắn với người dưới và vâng lời người trên, hãy làm như cha ông , tôn trọng truyền thống cổ truyền.... Một trong những nhiệm vụ của các công chức nhà nước là ghi chép và phân phối tài nguyên quốc gia, cung cấp nhân công cho những công trình lớn như xây dựng các pyramides. Họ phải biết giải các bài toán đố thí dụ như làm sao chia 100 cái bánh cho 10 ngươì trong đó 3 người đưọc hưởng gấp hai nhưng ngươì kia : ngươi hãy xem như có 13 người để chia, ngươi chia ra 13 phần, mỗi phần là 7&9/13, hãy nói với họ rằng đây là phần của 7 người những ngươì còn lại nhận gấp đôi. Dĩ nhiên học trò thì lười biếng và có một biện pháp là : những ngươì trẻ có một cái lưng, họ chỉ nghe khi nào bị đòn vì trẻ con để lỗ tai trên lưng chúng ! Hoàng gia có trường riêng để dạy các hoàng tử và cộng chúa, do một vị giáo chủ cầm đầu như Imhotep, giáo chủ của vua Djéser đồng thơì là kiến trúc sư dựng nhà mồ cho nhà vua. Do bồi đáp của phù sa thay đổ hàng năm, ruộng đồng cũng phải đo lường tính toán lại, đất nước và dân chúng đều là sở hữu của pharaons nên dân phải dâng lên pharaon những gì thâu hoạch được, nhà vua chỉ cho lại họ phần nhỏ đủ sống phần nữa để ban cho những nghệ nhân , viên chức của vua. Chưa có tiền tệ họ trao đổi phẩm vật với nhau và các viên chức phải tính toán vào sổ những cống phẩm lưu giữ trong kho. Thường dân chúng ăn mặc thiếu thốn :khám xét các xác ướp cho thấy khoảng 30% thiếu dinh dưỡng thời niên thiếu! Các công chức nhà nước đưọc coi trọng. Một vị vua đã dạy con là hãy tăng cường các công chức để họ thi hành luật pháp. Số phận đàn bà
Như quí vị đã biết đàn bà thì không được ra khỏi nhà dù ông hay Tây phương.Đàn ông có quyền quyết định tất cả nhưng ngược lại có những truyện kể lại là ở thời kỳ Tânn đế quốc (Nouvelle Empire) đàn bà có thể đến tòa án mà khiếu nại ngay cả khiếu nại cha ruột mình. Cái bà Nau nakhté nào đó sống trong làng nghệ nhân Deir el Medineh đã viết vào di chúc : Tôi là người đàn bà tự do ở xứ pharaon... Tôi đã nuôi dạy 8 đứa con... bây giờ tôi già rồi nhưng chúng không săn sóc cho tôi. Tôi sẽ cho tất cả của cải của tôi cho người nào lo lắng cho tôi. Bà đã không chia của đồng đều cho các con mà cho cậu con trai yêu quí nhất một bình đầy đồng. Còn lại một bức hình minh họa một người đàn bà địu con trước ngực mang cơm ra đồng cho chồng và nhiều hình vẽ những nữ nô lệ , thường là trần truồng đang thổỉ lửa nấu ăn hay đứng hầu. Vì đàn bà không biết viết để kể lại tâm tư đơì sống của họ nên chúng ta không cò tài liệu về cuộc sống của các bà, chỉ qua hình vẽ người ta thấy rằng các bà trưởng giả thì ăn mặc sang trọng như áo lông beo, mang tóc giả dầy thắt bím, da trắng (màu da nhạt hơn màu da cuả đàn ông), thân hình mảnh mai, chân dài, háng nhỏ, ngực nhỏ, mang nhiều nữ trang. Hoàng hậu thường mặc áo dài đến tận chân rất đẹp và dĩ nhiên mang nhiều nữ trang quí giá. Con gái được gả chồng , thường cho ngươì lớn tuổi hơn từ 12 đến 15 tuổ, hôn lễ thường giản dị. lấy chồng rồi họ thành bà chủ gia đình , loviệc nội trợ, dệt vải nấu ăn là rượu bia, làm bánh, cái quản người làm nếu có. Họ cũng đi chọ để bán những sả phẩm là ra như vải vóc, ra cỏ trồng được nhưng nhiệm vụ chính là phải đẻ con : đàn ông mà không con thì mất người nối dõi nên cũng ráng rặn ra cậu con trai . Họ thường mang thai nhiều và cho con bú đến 3 tuổi. Tỷ lệ tử vong của bà đẻ và con nít rất cao dù họ đã có y sĩ hay bà mụ và họ cũng đã biết cách tránh thai ( lấy những tép acacia, coloquintes, dattes nghiến nát với nửa lít mật, nhúng tampon và để vào chỗ kín) hay làm cho có thai hoặc đoán con trai con gái ..... Có một bức điêu khắc ông lùn Seneb, viên chức cao cấp của hoàng gia, ngồi với bà vợ và dưới chân ông ta là hai đứa con, mặt mày đều hớn hở : gia đình hạnh phúc! Trong trường hợp bà vợ không sinh con thì các ông có quyền lấy vợ bé hay đoì ly dị cũng giản dị như cưới hỏi nhưng tốn kém.Một bà mù cũng... xứng đáng được ly dị đã đi thưa chồng ra toà : tôi đã theo nó hai mươi năm, bây giờ tại sao nó lại bỏ tôi? Nếu người đàn bà có con và không có lỗi thì khi ly dị sẽ được chia 1/3 gia tài.Đàn bà cũng có quyền đòi ly dị ông chồng. Đàn bà có của có quyền được ướp xác xây mộ nhưng thật ra tỷ lệ rất thấp : 68 mộ đàn bà trong số 800 ngôi mộ ở Memphis mà đại đa số là vợ hay con vua. Bà vợ không được chồng yêu nhưng đàn ông lại quí trọng mẹ và thường để mẹ bên cạnh trong mộ, vợ nếu có chỉ là những tượng thu nhỏ mà thôi , tuy vậy tất cả đều ao ước gia đình hạnh phúc con cháu đề huề, hôn nhân bền vững với người mình yêu....Trong hoàng tộc thì họ lấy nhau loạn xà ngầu: anh em lấy nhau, cha lấy con gái .... Giáo sĩ Ngoài các công chức, giáo sĩ giữ nhiệm vụ quan trong không kém và nhà vua được coi là vị giáo chủ tối cao. Đầu cạo trọc, họ giữ nhiệm vụ cầu nguyện thần linh cho số phận của cả quốc gia. Họ được hưởng nnhiề quyền lợi như được làm chủ hầm mỏ, đất đai, câu cá . Chủ nhân ở xa thì giao cho tá điền và ăn chia huê lợi. Họ cũng được phân phát thực phẩm, áo quần, lúa , bánh ...Giáo sĩ như một nghề vững chắc, khi hết hạn họ trở về làng, làm việc như những người khác. Có khoảng 1% dân số biết viết và làm việc như công chức hay giáo sĩ. Những ngươì biết viết còn nhiệm vụ thứ hai quan trọng không kém là thảo lý lịch cho người đi đến bờ vĩnh cửu chẳng hạn như giáo sĩ Aménophis, con của Hapou đã hãnh diện khắc trên tượng của chính mình : tôi ở trong nhóm nhân viên trẻ của chủ nhân (nhà vua ), tôi đã viết hàng ngàn bản cho công trình... tôi đã viết lại những chiến thắng của Bệ hạ ..... Chữ viết ngày xưa
Ngươì Ai cập có chữ viết từ 3000 năm trước sau khi thống nhất thượng và hạ Ai Cập . Chữ viết ra đời do sự phát minh của vị thần khôn ngoan Thot hay của bà tiên Sechat, lúc đó gồm hàng ngàn dấu hiệu hình người, hình thú, hình cây cỏ, hình đồ vật v..v.. chẳng hạn như cây sen có giá trị là số 1000, cái bình là 1 jarres dầu ăn,hai chân trước sau có nghiã là 'đi' , 'ra' có nghĩa là cái miệng nhưng hình cái miệng cũng chỉ những từ ngữ ra, ri ro, ar, ir, or . Ngươì ta đã dò ra được những ký hiệu tương ứng với 24 chữ cái thời bây giờ nhưng còn những vần bằng trắ, âm , dấu nên lại cũng có rất nhiều hình tượng để chỉ những dấu này thành ra đọc được sử liệu Ai cập cũng còn nhiều chỗ nhầm lẫn chưa rõ ràng.
Người Ai cập xưa cũng có sách giải mộng chẳng hạn như mơ thấy chôn ngươì già thì tốt, trường thọ, mơ thấy uống bia thì xấu : hết tiền, thấy soi gương cũng xấu, dấu hiệu có người đàn bà thứ hai v..v... Đời sống ngày xưa Dĩ nhiên ngày xưa chưa có tiền nên họ trao đổi phẩm vật với nhau : 1 bao lúa mì 73 lít 56; 1 deben đồng = 81 g như vậy một đôi giầy tuỳ theo kiểu trị giá từ 0.5 đến 3 deben, 1 áo chemise gía 3 đến 5 deben , con heo 5 deben , qua tài gỗ 25 deben. Nhà nước trả lương thợ, thày bằng nông sản : một người thợ khắc được mỗi ngày nhận được 2 lít bột mì , làm được 5 kí bánh đủ nuôi 6 ngươì; mỗi tháng họ nhận được1.5 bao luá mạch, làm được 115 lít bia, mỗi ngày được uống 3.5 lít. Người ta cũngkể lại cứ mỗi 19 ngày dân đánh cá mang đến làng cá tươi hay khô trị gía 200 deban. Hàng ngày cũng có người đổ nước lấy từ giếng trong thung lũng. Nhà vua cũng thường ban thưởng cho họ cũng như hứa hẹn với những người thợ xây mồ, xây dinh thự : Ô, những người thợ khéo tay và can đảm, các ngươì sẽ có đủ mọi thứ vì ta rất biết giá trị việc làm của các người. .. ...Những người thợ khéo tay này khi rảnh rỗi còn tạo ra sản phẩm như hòm gỗ để bán ra vơí giá rất đắt. Nhiều bức họa cũng mô tả lại cuộc sống lứa đôi thời đó nhưng những bức khắc họa như vầy không có nhiều. Trên những bức khắc hoạ này , người vật được vẽ theo một mặt phẳng, thường thì khuôn mặt, chân tay, đầu, miệng được vẽ nghiêng nhưng mắt, vai , bàn tay thì như nhìn thẳng. Mầu sắc cũng được quy định : thân hình đàn ông nâu đỏ, đàn bà màu vàng, kích thước tuỳ chức vị : vua được vẽ to lớn hơn người thường, xếp lớn hơn nhân viên, con nít thì nhỏ xíu. Họ cũng dùng những đường vạch để mô tả những tìng trạng, cảnh vật khác nhau ... Cũng có tỷ lệ tương xứng khi họa : người đứng 16 ô vuông, ngươì ngồi 14 ô , muốn vẽ nhỏ hơn nữa thì chia nhỏ ô vuông ra làm 2 hay 4. Những bức tượng phải được nhìn thẳng thường được đẽo gọt từ những đá khối hoặc ở trạng thái thư dãn nghỉ ngơi hay đang bước đi với 1 chân bước về trước, mỗi bức tượng đều có ghi tên của người đó. Ướp xác Người Ai cập tin rằng sau khi chết đi là bước qua một đơì sống khác, đó mới thật là đời sống vĩnh cửu, nhưng muốn có được đời sống vĩnh cửu thì trước hết phải giữ được thân xác phàm trần !!!Dĩ nhiên những người nghèo chỉ được chôn trong cát sa mạc sau khi cuốn trong lớp da bò như tự ngàn xưa . Nóng và gió sa mạc làm khô xáx chết trước khi nó bị rữa. Những ngươì giàu có mới được sống vĩnh cửu vì chỉ họ mơí đủ tiền để trả
cho công việc ướp xác. Nhưng thân xác này phải làm cách ướp sao đó để được tồn tại mãi với thời gian, muốn vậy xác ướp phải nhẹ như vỏ trứng nhưng phải cứng như tượng đá. Những người thợ ướp xác thường làm việc trong những căn lều xa nơi người ở và gần sông rạch để rửa xác, nơi đó gọi là 'Nhà tinh khiết'. Họ làm việp dưới sự giám sát của các giáo sĩ để ban phép lành. Mọi người đều ao ước xác ướp củ mình được đặt trên mình con bò tót rồi được thần Chết - mình người đầu thú chacal, giống như đầu chó sói - đón đi. Cần 70 ngày để hoàn tất một xác ướp tốt. Những người ướp xác làm việc trên cái bàn cẩm thạch mầu ngà lớn hơn cái giường một phía có khắc 2 cái đầu sư tử, phiá kia có một cái chậu để hứng máu, chất rửa thải ra .Để tránh mùi hôi thối , khi làm viêc họ mang mặt nạ cũng có hình đầu chó sói, thỉnh thoảng họ cũng đãng trí như những bác sĩ giải phẫu thời nay : quên kẹp, quên móc , quên muỗng ... những dụng cụ để moi bộ đồ lòng trong xác chết!!!! Rất ít tài liệu để lại cho biết làm sao để ướp xác nên người ta chỉ phỏng đoán là sau khi người trong gia đình than khóc thì xác được đưa đi ướp theo nhiều cách và nhiều giá khác nhau. Sang nhất thì thợ ướp bắt đầu dùng móc sắt luồn qua lỗ mũi để moi óc ra, dùng dao bằng đá mổ sườn để lôi bộ đồ lòng, rửa ráy cẩn thận sạch sẽ với rượu dừa , ướp hương liệu rồi nhét đầy bụng đã trống rỗng bằng hỗn hợp cây myrrhe, quế, cùng nhiều hương liệu khác, khâu lại để vào cái bồn lớn chứa đầy chất natron trong 70 ngày. Natron là bột của carbonate hydraté de soude (Na2CO3+NaHCO3), có rất nhiều ở vùng Ouadi Natroum nên gọi là natron và có thể xử dụng nhiều lần nhưng giảm hiệu lực. Còn có mộtchất gọi là gôm -gomme- là một chất nhựa , chính xác không biết là chất gì để dán băng quấn quanh xác ướp, có lẽ là dầu thông Liban, nhang thơm từ cây myrrhe , vừa dính băng vừa có tính chống nấm và khử trùng, khi khô lại thường rất cứng. Băng quấn quanh xác dài đến 75 mét vuông bằng lanh thường mầu đỏ hay hồng, có thể từ quần áo cũ, nhưng quấn theo hình tam giác rất có nghệ thuật. Phụ trách việc quấn băng là vị giáo sĩ mang mặt nạ hình đầu chó sói Anubis. Anubis là một con chó đen của sa mạc dùng để canh giấc ngủ ngàn thu của người chết. Xác ướp sau đó được đặt vào quan tài đẽo từ thân cây lớn, quan tài không có hình chữ nhật mà có hình như người nằm ngủ theo dạng xác ướp, mặt ngoài có tô điểm nhiều hình vẽ.Những hình điêu khắc trên nhà mồ ở Thèbes hay trên giấy của thư khố papyrus cho chúng ta biết khi xác ướp đã xong, Sau 70 ngày, thì đám tang linh đình được cử hành. . xác ướp được đặt vào quan tài để mở trên cỗ xe, kéo bởi con bò, theo sau là thân bằng quyến thuộc, giáo sĩ.Ngườ thân tóc rối bù , ngực trần than khóc; nô lệ mang theo bàn ghế, ruơng hòm quấn áo, đồ trang sức của người chết. Họ cũng mang thịt thà rau cỏ trái cây đi từ từ đến nhà mồ.Đến nơi , xác ướp được đưa ra khỏi quan tài. Người giáo sĩ mang mặt nạ chó sói Anubis giữ xác ướp đứng vững, một giáo sĩ mới tu khác (giáo sĩ tạm thời chỉ tu một thời gian thôi), thường là con trai cả của người chết đốt nhang trong khi giáo sĩ chính làm phép mở miệng cho người chết để có thể nói, nghe,thấy và hưởng thụ được đồ cúng tế. Người càng sang giàu thỉ tang lễ càng cầu kỳ rắc rối và kéo dài. Gia đình nói lời
từ biệt vơí người chết. Xác được đưa trở lại vào hòm, đồ cúng lễ được mang ra ..nhậu nhẹt. Xác ướp thì có thể bị hủy nên người ta làm thêm những tượng để linh hổn trú ẩnvà hưởng thụ vật cúng tế để vào trong nhà mồ. Ngườì chết còn phải trải qua sự phán xét qua một cái cân lớn , quả tim tượng trưng cho sự thật, nhân tính, ý chí, lương tâm, lý luận của người chết... được đặt lên một bàn cân, bàn bên kia là một cái lông (!) tượng trưng cho luật của thần linh Mâat . Bên cạnh chiếc cân là một con thú lai cá sâu, hà mã và báo ' (A)n tươi nuốt sống' sẵn sàng nuốt trửng xác nếu trái tim người chết quá nặng, nặng hơn cái lông và như thế thì coi như chết luôn sa địa ngục . Vì thế giữa hai chân xác ướp người ta để Livre des morts (đắt bằng 2 con bò hay 1 người nô lệ hoặc 6 tháng lương người thợ) để hướng dẫn người chết đi vào đế quốc của tử thần. Sách này do Thot , vị thần khôn ngoan thảo ra theo đó người chết phải đọc 125 lần những câu như : tôi không hại ai , tôi không bạc đãi thú vật, tôi không lưu trữ nước lụt cho riêng tôi ..... Có khỏang 200 thứ linh tinh , bí ẩn phải đọc để cho quan toà phán vô tội và không bị quỷ sứ ăn thịt.... Thần linh Người Ai cập tin rằng mỗi ngày đều có một con thuyền bằng vàng khối băng ngang bầu trời sông Nil theo sau là các vì sao, các thượng đế. Thuyền do thần Rê, thần mặt Trơì phụ trách. Đêm đến Rê đi vào thế giới bên dưới và người chết chào đón Rê. Apophis, nửa rồng nửa rắn, kẻ thù của Rê luôn luôn tìm cách quay ngược con thuyền nhưng Rê thắng và mặt trời lại mọc lên ngày hôm sau. Những người theo giúp Rê gồm có Thot, thần của sự khôn ngoan, thần Trăng, Seth thần sa mạc, Mâat con gái Rê- đầu có chiếc lông dài, Isis thần của cải, Heqa thần ảo thuật v..v . Rê hợp cùng thần Amon của Thèbes và Ptah của Memphis thành bộ ba Ai cập (chế độ đa thần mà Akhenaton chối bỏ, ông ra lệnh chỉ thờ thần mặt trời Aton, tượng trưng là cái đĩa tròn nhưng sau đó bị dân chúng và giáo sĩ chống lại). Các thần linh tạo nên nhiều huyền thọai của Ai cập và thường thần linh có hình thú như đầu chim ưng, báo, sư tử, vượn hay lai giống giữa người và thú. Thần Rê xuất hiện dưới nhiều hình dạng khác nhau vì đó là vị thần nhiều quyền năng , trách nhiệm. Sáng và chiều Rê có hình người đôi khi sáng có hình con cái ghẻ Khepri để lăn tròn được, chiều thì đỏ thì như đầu chim ưng, về với thế giới bên dưới thì như con báo hay con mèo lớn ... Còn biết bao các vị thần khác như Shou, Tefnout, Geb v..v... Những vị thần này sống ngay trên mặt đất trong những đền đài sang trọng bằng đá hoa cương dựng nên bởi các pharaons chẳng hạn như đền Karnak, Luxor......
Sao Khuê vừa tóm tắt cho quí vị biết sơ sơ về cổ Ai cập, bây giờ xin mời quí vị dấn bước tang bồng cùng Sao Khuê đi thăm một vài đến đài, hầm mộ cũng như nhà triển lãm ở Ai Cập nhé .......
Hành… Sao Khuê Dọc bằng đòn gánh củ bằng bình Ai mua hành tôi thì thương tôi với! Thưa quí vị, củ hành lớn nhất thế giới, theo truyện kể, được tưới bằng nước tắm là một bình thuốc do Tiên tặng cho anh nông dân để trị bệnh cho dân nhưng bà vợ tò mò lại đem ra tắm rồi trở nên đẹp như Tiên khiến Vua phải vời vào triều. Bụi hành nhà anh nông dân cũng nhờ ơn nước tắm nên to lớn khác thường. Anh bèn cắt lấy đem vào Kinh rao bán cốt để thấy mặt vợ “Dọc bằng đòn gánh, củ bằng bình vôi, ai mua hành tôi thì thương tôi với”. Người vợ nhận ra tiếng chồng, cho mời vào. Hai vợ chồng khóc lóc thảm thiết nên vua thương tình cho về xum họp. Đáng tiếc là ngày xưa chưa có Guiness để ghi lại thành tích củ hành vĩ đại này ! Hành là gì ? Gớm! quí vị có giả vờ ngây thơ cụ không mà hỏi “hành là gì” Ngày nào mà quí vị chả ăn hành, trừ phi là quí vị ăn chay kiêng hành và nhà nào mà chả có một bịch hành để nấu nướng. Hành được bán đầy ra ở chợ. Có nhiều loại hành lắm nghe quí ông - điều này Sao Khuê chỉ dám nói với quí ông thôi chứ quí bà - là những người lội chợ - lội hết từ chợ này đến chợ kia thì còn lạ gì hành nữa. Vậy xin phép quí bà cho Sao Khuê cà kê dê ngỗng ít điều về Hành. Trước hết, Hành là cây hành. Có nhiều loại cây hành: Hành ta, Tây gọi là échalote tên khoa học là Allium ascaonian, họ Liliaceae, thân thảo, cao chừng hai gang tay, thân rỗng màu xanh mà ta quen gọi là lá hành. Đây là loại cây có củ và sinh sôi nẩy nở bằng cách phân củ. Khi trưởng thành, hành được nhổ, đem bán gồm cả củ lẫn lá, ta gọi là hành lá, củ hành khi đó trắng tươi, nhỏ chỉ bằng đốt ngón tay… Khi cây già, lá cũng… già theo, người ta nhổ lên, lấy củ, đem phơi khô, khi đó hành được gọi là hành củ. Không phải chỉ có con lợn mới ủn ỉn mua hành cho tôi mà tất cả các động vật đều đòi… ăn hành: con gà, con thỏ, con vịt, con bò.. đều cần có hành mới thành món ăn ngon được! Ở Việt nam, trước quầy phở nào cũng có một bó hành lá, phần lá đã cắt bớt để bày lên tô phở, phần còn lại đợi khách vào và gọi: - Cho một tô tái nạm gầu, hành trần nước béo” là ông hàng phở chỉ việc lấy một cọng hành treo tòn teng trước mặt rồi thả vào nồi nước phở đang sôi sùng sục, rồi kế đó vớt ra đặt lên tô phở, sau khi đã rải một lớp hành hoa sắt nhỏ (miền Bắc còn gọi hành lá là hành hoa ).
Mì, bún, bánh xèo, bánh cuốn… cái gì cũng cần hành hết. Oignon tức hành tây, ta gọi như thế vì củ to và chỉ trồng được nhiều ở nơi lành lạnh. Hành tây không phải gốc ở bên Tây như chúng ta tưởng. Hành đã có từ 5000 năm trước, có lẽ xuất phát từ Á Châu vùng Trung Á, Palestine. Người Egypte đặc biệt rất thích ăn hành và coi hành là phẩm vật để dâng lên Thượng Đế, rồi sợ chết đi, xuống âm phủ không có hành để ăn, người ta còn trữ hành trong phần mộ ( người ta tìm thấy hành trong mộ của Toutankhamon) Hành còn được dùng để trả lương cho nô lệ xây Kim tự tháp. Người Gaulois (dân Pháp cổ xưa) thì còn tin hành có thể dự báo thời tiết, trồng hành mà được mùa thì mùa đông năm đó rét phải biết, giống như Việt nam ta có câu ‘được mùa cau đau mùa lúa.’ Từ thời Trung Cổ, hành là gia vị chủ yếu trong nhà, nhất là ở Bắc Âu. Hành do Christophe Colomb đem vào Mỹ sau lần du hành thứ hai, năm 1493, rồi đến ngày nay thì đâu đâu cũng ăn và trồng hành. Mức tiêu thụ của hành đứng hàng thứ nhì chỉ sau cà chua. Hàng năm, cả thế giới ăn cỡ… 44 triệu tấn hành. Hành có nhiều hình dáng, kích thước và màu sắc khác nhau, từ tròn tới hình trái lê, từ vàng cam đến nâu nâu, đo đỏ, tim tím… Vị củ hành hăng hăng, thay đổi không những theo loại hành mà còn theo khí hậu của nơi trồng hành nữa. Người ta bảo hành Espagnol (ở Tây Ban Nha) là dịu nhất. Hành màu trắng được thu nhập vào cuối Xuân, khi hành vừa mới trưởng thành. Cuối hè lá đã úa, hành đã già, màu trở nên đậm hơn: vàng úa, cảm, đỏ, tím v...v… được phơi khô và đem bán. Lớp vỏ ngoài thì khô nhưng bên trong lúc nào hành cũng còn tươi. Bình thường, đừng sờ tới, hành không có mùi. Chất dầu trong hành dễ bay hơi, chỉ tiết ra khi ta cắt củ hành, lúc đó hành có mùi hăng hăng và làm cho chúng ta bị chảy nước mắt. Mùi vị củ hành là do những chất soufre – lưu huỳnh – có nhiều trong hành, có người thì bảo thơm, có người lại bảo là hôi. Hành chứa nhiều sinh tố và khoáng chất, nhất là vitamine B, C, Calcium, sắt, potassium nên người ta nghĩ hành là chất bổ, giúp cho dễ tiêu hoá, làm lợi tiểu và làm hưng phấn. Người ta còn gán cho hành tính diệt trùng (antiseptic), diệt khuẩn (antiviral), trị viêm (anti-infalmatoire), làm long đờm. Hành có tính lợi tiểu khi ăn sống, nhuận trường khi ăn chín. Hành trị phong thấp, làm giảm đường và bổ tim mạch. Người ta đã dùng nước hành ép (lotion) để làm mau lành vết thương và ngay cả để làm cho tóc mọc. Người ta treo hành trước cửa để ngừa bệnh dịch, chắc là vi trùng hay ma quỉ sợ mùi hành mà tránh xa. Người Ấn Độ dùng hành để trị bệnh bằng cách sắc, nấu, ép lấy nước uống, ăn sống hay ăn chín củ hành v..v.. Vì hành là loại cây rất phức tạp do chứa nhiều chất khác nhau nên đến nay người ta chưa quả quyết đâu là chất chính để cho ra những đặc tính của hành, tuy vậy Uỷ ban quốc tế bảo vệ sức khỏe xác nhận là hành làm cho ăn ngon miệng và ngừa được chứng arthérosclérose. Các nhà khoa học cũng đã bỏ ra khối thời gian để nghiên cứu về hành trong việc phòng bệnh và trị bệnh như: - Ngừa bệnh tim mạch: tính làm giảm mỡ của hành – hypolipidémiantes - đã được xác nhận in vitro và invivo, tính antiplaquetaire - chống đông máu - thường thấy rõ khi cho con vật ăn hành sống.
- Hành có chứa chất quercétine, một flavonoìde chứa có tính chống lại athérosclérose nhưng rất yếu. - Các nhà nghiên cứu người Đức cho biết những viên thuốc chứa hành được nghiền nát với dầu olive có thể làm hạ huyết áp và làm cho máu loãng ra sau 5 giờ dùng thuốc’. Nếu cho 6 bà mạnh khỏe ăn nhiều hành thì thấy hành có thể chống stress oxydatif và ngừa được bệnh tim mạch (stress oxydatif là chứng do cơ thể hoặc có nhiều radicaux libres hoặc bị giảm tính oxydantes). - Hành có thể ngừa ung thư được không? Vì hành có tính antioxydants nên người ta nghĩ hành có thể ngừa được ung thư như ung thư bao tử, thực quản, phổi và vú. Những tế bào ung thư mất tính chất tự phân hoá để sinh trưởng nên sinh trưởng loạn xà ngầu mà các nhà nghiên cứu Nhật Bổn cho là Hành có thể… giáo dục những tế bào ung thư, dạy cho nó biết tự phân hoá trở lại để sinh trưởng cho đàng hoàng. Những nhà nghiên cứu Hy Lạp, mới đây thấy rằng khi nấu chín, hành mất tính chống oxíd hóa- antioxydant – nên bây giờ món salade Greque chỉ có hành sống, cà chua, olives đen với fromage feta mà thôi. Nhờ có chứa những gốc của chất soufre - lưu huỳnh - nên hành có khả năng tiệt trùng trong chứng bệnh về răng lợi, chắc là vi khuẩn cũng biết sợ mùi hôi của hành mà chạy xa! Tính làm giảm đường của hành đã được chứng thực trên cả chuột lẫn người. Hành hiệu nghiệm như là insuline vậy nhờ những acides aminés sulfoxydes che chở cho insuline trong cơ thể không bị hủy đồng thời còn giúp tụy tạng – pancreas- sản xuất ra insuline. Nước ép của hành nếu được xoa trên da đầu ngày hai lần cũng giúp cho tóc mọc nhưng chả ai dám thoa vì hôi chết! Củ tỏi đã được sản xuất thành viên, bán ở nhà thuốc nhưng hành thì chưa, dù dược tính củ hành đã được xác nhận nên cho đến nay hành chỉ được dùng để ăn. Có người cho hành là gia vị, nhưng cũng có người cho hành là hương liệu (mùi hôi cũng là mùi). Có nhiều cách để ăn hành: ăn sống hay ăn chín, ăn hành một mình hay ăn chung với các thứ khác. Có nhiều cách nấu nhưng trăm hay không bằng tay quen tức là - cần phải THỰC HÀNH thì mới biết làm mà ăn, vì Thực là ăn, thực hành là… ăn hành! Quí vị lắc đầu, chán nản! viết thế mà cũng đòi viết. Vâng, biết rồi, thực hành là phải LÀM trong thực tế. Vậy thì HÀNH còn có nghĩa là LÀM tức hành sự, ví dụ như: - Việc làm lung tung của một người là hành vi, hành tung, hành động, hành xử… - Việc làm lộn xộn của nhà nước là hành pháp, hành chính, - Hành khiển là ông thần điều khiển việc trần gian trong năm, - Làm điều hung ác thì gọi là hành hung, làm… hạ người ta xuống gọi là… hành hạ, nếu tự mình hành hạ mình thì gọi là hành xác - Giết người là hành hình hay hành quyết v..v…. - Làm điều thiện thay trời là thế thiên hành đạo Còn nữa, muốn Làm thường phải Đi nên Hành còn có nghĩa là Đi. Quí vị đi trong nhà, từ chỗ nọ sang chỗ kia qua cái gọi là hành lang, người đi bộ ra ngoài gọi là bộ hành, người đi xe, đi thuyền được gọi là hành khách, người đi đường xa gọi là lữ hành, người đi một mình gọi là độc hành. Người phi thân - ý không phải - đi bằng phi thuyền là phi hành gia. Khi dẫn quân lính đi gọi là hành binh hay hành quân và khi đi đâu xa quí vị phải mang theo hành lý.
Nhà sư, khi đi bộ là hành cước, khi đi truyền giáo là hành giáo, đi xin ăn là hành giả, vừa đi vừa thiền gọi là Thiền hành. Người ta mà đi xin ăn thì là hành khất (khất là xin )… Kim Dung có bộ truyện là Hiệp khách hành tức là người đi làm hiệp khách. Trong âm nhạc, bài ca cho binh lính đi hành quân gọi là khúc quân hành hay hành-quân-ca (ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ già, ngồi đan áo cho con…) Mỗi nhà văn có một cách viết riêng gọi là cách hành văn. Người làm sao thì viết văn làm vậy (le style c`est l`homme). Trong thi ca có một thể thơ gọi là Hành. Khi nói đến thể Hành, người ta nghĩ ngay đến Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị: Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu Người xuống ngựa, khách dừng chèo Chén quỳnh mong cạn, nhơ chiều trúc ti Vì vậy Hành trước hết phải là một bài thơ dài, phải không qui vị? nhưng phải dài tới cỡ bao nhiêu mới gọi là Hành? Cái này thì Sao Khuê mù tịt. Tuy vậy Sao Khuê là người hay bắt chước, ai làm sao tôi làm vậy, ai làm bậy tôi làm theo.Tỳ bà hành dài quá, không bắt chước được nhưng còn những bài khác ngắn hơn mà cũng nổi tiếng như bài Hành phương Nam của Nguyễn Bính, tội gì mà không bắt chước. Nguyễn Bính cùng người bạn, lưu lạc ở tận… miền nam Việt Nam. Thi sĩ mới có đi từ Bắc vào Nam mà đã như đi xa lắm. Mới quí vị đọc: Hành phương Nam Hai ta lưu lạc phương Nam này Trải mấy mùa qua én nhạn bay Xuân đến khắp trời hoa rượu nở Riêng ta với người buồn vậy thay Lòng đắng, xá gì non hớp rượu Mà không uống cạn, mà không say Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã Mà áo khinh cừu không ai may Người giam chí lớn vòng cơm áo Ta trói thân vào nợ nước mây Ai biết thương nhau từ thuở trước Bây giờ gặp nhau trong phút giây Nợ tình chưa trả, tròn một món Sòng đời thua trắng đến hai tay Quê nhà xa lắc xa lơ đó Trông lại, tha hồ áo trắng bay. Tâm gia mấy kẻ thì phương Bắc Phân tán vì cơn gió bụi này Người đi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết Ngày mai ra sao rồi hãy hay Ngày mai sán lạn màu non nước Cốt nhất làm sao tự buổi này Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt Gìữa chợ, ai người khóc nhận thây Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay Mơ gì ấp Tiết, thiêu văn tự Hài cỏ gươm cùn ta đi đây ! Ta đi nhưng biết về đâu chứ Đã thấy phong yên lộng bốn trời Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ Uống say mà gọi thế nhân ơi ! Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ Ta với nhà ngươi cả tiếng cười Người ơi ! hề người ơi ! Người sang bên ấy sao mà lạnh. Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi ! ………. Nguyễn Bính Chúng ta, những kẻ ở xứ người, đi xa hơn thi sĩ nhiều, nhiều lắm … và chắc trong quí vị, thể nào chả có vị giống như Sao Khuê, chúng mình có những lúc buồn, buồn ghê, buồn gớm như thi sĩ Nguyễn Bính, mà Sao Khuê thì đang ở tuốt cực Bắc của quả địa cầu nên lâu lâu cũng bị những cơn nhớ quê nó hành: Hành phương Bắc Chúng ta lưu lạc đến chốn này Quá nửa đời người tuyết lạnh bay Xuân đến mà không mai vàng nở Rượu bánh ê hề chẳng thể thay! Độc ẩm chiều hôm lưng ly rượu Bạn hiền vắng bóng – làm sao say? Nhớ lại bẩy lăm người qua Mỹ Ta thì kẹt lại phận không may Từ đó quẩn quanh vòng cơm áo Thừa phút giây nào vơ vẩn mây. Người đã ra đi từ buổi trước Có nhớ tình ta trong phút giây?
Nợ ta - ai vẫn còn một món Tình - Tiền, ta trắng cả hai tay Không trở lại thôi là hết Mẹ già em dại phận nào hay Ngoảnh lại chỉ thấy hờn non nước Biệt ly xa cách từ buổi nay Áo cơm đèn sách quên son phấn Muốn ngã nhưng rồi đứng dậy thay Quê nhà nên trở về thăm chứ Sầu hận dân đen ngút tận trời Bạn ta có kẻ ngồi giữa chợ Võ bồn mà gọi Việt Nam ơi Việt Nam ơi! hỡi Việt Nam ơi Xứ nóng những tình sao lại lạnh Ta đứng trong về lạnh mấy mươi. Sao Khuê Sao Khuê mời quý vị thổn thức qua giọng ngâm của HồngVân, tiếc là lúc ngâm bị thiếu vài câu: https://vietpen.org/sao-khue/ Sao Khuê không biết đến đây thì quí vị có thể hiểu thế nào là thể thơ HÀNH không, chứ Sao Khuê thì tuy bắt chước xong rồi vẫn còn lơ mơ, lờ mờ chưa thực sự thấu đáo thế nào là Hành. Sao Khuê chỉ thấy là Hành nó hành hạ tinh thần người ta ra phết. Quí vị có đồng ý với Sao Khuê không ? Này nhé, từ Tỳ Bà Hành, tới Tống Biệt hành, tới Hành Phương Nam hay phương Bắc, hỏi có Hành nào mà không..thở than, rên rỉ không? Nghe não nuột khác tay đàn trước Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi Lệ ai chan chứa hơn người Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh (Tỳ bà hành ) Vậy thế nào là thể thơ Hành? Dĩ nhiên là Sao Khuê không biết. Muốn biết thì phải đi tầm sư học đạo. Nói nhỏ quí vị nghe, chắc cũng có nhiều người làm..Hành như Sao Khuê vậy, nhưng ít người biết rõ Hành đấy nhé. Hỏi ông anh của bạn, quí vị biết ông ấy đáp ra làm sao không: - Cô ơi ! trước nay thì anh chỉ biết ăn hành, hành sống, hành chín, hành trần, hành lá, hành củ, hành tây, hành ta, hành già, hành trắng, hành tím, hành nâu… đều có ăn qua. Anh thì chả dám hành ai nhưng suốt đời được chị cô nó hành. Nó có nói hành nói tỏi thì cũng ráng mà nghe, cãi lại thì chỉ có nước hành lý bị gậy mà đi hành khất thôi cô ạ. Chán chưa cơ chứ!... Rồi Sao Khuê cũng mail, meo mẻo mèo meo… hỏi một nhà thơ nổi tiếng mà không có hồi âm, chắc người bận việc. Tuy vậy Trời không phụ kẻ có lòng. Sao Khuê có lòng tốt, tìm hiểu để rapport cho quí vị tường. Vậy thì Sao Khuê xin chép lại lời giải thích để kính tường: Người đời Đường gọi lối thơ TUYỆT CÚ (lối thơ bốn câu) và lối thơ LUẬT (lối thơ rất nghiêm chỉnh, trọng niêm và luật đối) là Cận Thể hay Kim Thể để phân biệt vói Cổ Thể hay Cổ Phong Cổ Thể hay Cổ Phong bắt đầu xuất hiện vào đời Hán.
Cổ Phong không có luật lệ nhất định, không hạn định số câu và cách gieo vần rất uyển chuyển, rộng rãi, có thể dùng độc vận (một vần), liên vận (nhiều vần) hay bất hiệp vận (không vần), và có thể dùng vận chính, vận thông và vận chuyển (vận có âm không giống nhau nhưng chuyển đọc thành âm giống nhau) Có ngũ ngôn cổ phong (thơ 5 chữ) và thất ngôn cổ phong ( thơ 7 chữ). Những bài thất ngôn cổ phong nào dài quá 8 câu và ngũ ngôn cổ phong nào dài quá 16 câu thì được gọi là Tràng Thiên hay Hành. Những bài hành bất hủ trong kho tàng văn học Việt nam có thể kể: Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, Độc hành Ca của Vô danh, Trường Sa hành của Tô Thùy Yên, Hành Phương Nam của Nguyễn Bính, Hành Phương Bắc của ư.. ư..của … Sao Khuê Ê ! làm gì mà quí vị …nhăn mũi vậy? Có Nam thì phải có Bắc chứ! Cảm ơn lời giải thích tường tận của người đồng nghiệp văn hay chữ tốt … Lưu ý quí vị là Hành Phương Bắc của Sao Khuê mà bất hủ chỉ là Sao Khuê cà rỡn, lựa lúc quí vị đang vểnh râu nghe mà len lén thêm vào, chứ không có thật đâu, nếu có thì chỉ là Hủ chứ không Bất Hủ hay Hủ Len.. đâu đấy nhé. Rồi. Đến đây thì Sao Khuê nghĩ là tạm đủ về Hành. Quí vị nào biết nhiều hơn xin nói cho mọi người biết. Sao Khuê còn bận đi thiền hành, hành khất rồi còn hành chồng, hành con nữa chứ. Sao Khuê Mùa Xuân Sang Có Hoa Anh Đào… (phần 1) Sao Khuê Sau một mùa đông dài dằng dặc, dài lê thê, dài thấy phát ghê thì đất trời cũng bước vào xuân. Mùa xuân là mùa hoa nở. Hoa mơ, hoa mận, hoa đào và hoa anh đào. Mùa xuân sang có hoa anh đào, màu hoa tôi trót yêu từ lâu, lòng bâng khuâng nhớ ai năm nào, hẹn hò nhau dưới hoa anh đào… hay Ai lên xứ hoa đào dừng chân đứng bên hồ nghe chiều rơi… Ôi màu hoa đào màu hoa đào chiều xuân nào Ôi màu hoa đào như môi hồng người mình yêu Ôi màu hoa đào đã bao lần vì màu hoa Mà lữ khách lắng hồn thơ dừng chân lãng du. [1] Nhật Bản được gọi là xứ hoa anh đào nơi mà Sakura (anh đào) nở rực rỡ vào mùa xuân, tượng trưng cho vẻ đẹp mong manh cũng như sức sống mãnh liệt của tinh thần võ sĩ đạo Samurai. bài ca Sakura: Sakura Sakura Hoa anh đào được trồng nhiều ở Đại Hàn, Đài Loan, Trung Quốc và
Washington DC, Mỹ.. Sao Khuê cũng đã xí xọn đến xem anh đào ở Nhật và ở Washington DC. Tháng 4 năm 2017 Sao Khuê đến Nhật, đúng dịp lễ hội hoa anh đào Hanami. Học trò được nghỉ nên phố phường rất đông vui. Màu sắc rực rỡ của những chiếc kimono truyền thống hòa với tiếng lách cách của đôi guốc mộc geta len lỏi trong các ngõ hẹp. Tiếng cười ríu rít của các cô thiếu nữ vang lên trong các công viên tạo thành mùa xuân bừng sức sống tươi vui. Nhiều đám cưới cũng được tổ chức vào dịp này. Cô dâu chú rể trong lễ phục truyền thống tươi cười tạo dáng bên hồ nước soi bóng hoa đào… Ở thủ đô nước Mỹ Washington DC, hoa thường nở rộ vào đầu tháng 4 nhưng cũng tùy vào thời tiết mà có thể sớm hơn hay muộn hơn. Vừa đi dạo vừa ngắm hoa quanh hồ Tida dưới tiết xuân lành lạnh đem lại cảm giác hạnh phúc nhẹ nhàng… Anh đào ở Mỹ được Nhật Bản tặng nhưng năm 1910 trên 2.000 cây đã bị thiêu hủy vì bị sâu bệnh. Năm 1912 thị trường Tokyo, thành phố kết nghĩa với Washington DC đã gửi tặng thêm 3.020 cây. Có 2 giống anh đào quanh hồ Tidal. Giống Yoshino nở sớm và giống Kwanzam muộn hơn 2 tuần nên cả tháng tư thủ đô ĐC luôn có hoa anh đào.
Canada thời tiết lạnh lẽo nên anh đào khó sinh trưởng. Đây là hàng anh đào ở Toronto: Rải rác trong thành phố Montreal hoa đào và hoa anh đào cũng được trồng ở nhiều nơi trên đường phố. Hoa Thuỷ tiên Sao Khuê
Quý vị có biết hoa gì đây không? Sao Khuê khoe với quý vị mấy đóa Thủy Tiên vừa mới nở thơm ngát cả nhà. Qúy vị biết hoa thủy tiên không nhỉ? Thủy tiên là cô Tiên nằm trong nước mà nhạc sĩ Lê Thương đã kể cho chúng ta biết về sự tích hoa Thủy Tiên qua bài hát Hoa Thủy Tiên: Hoa Thủy Tiên Một nghìn năm trước Lòng nàng công chúa Đang chờ thời gian lướt Trong đời Trần Nam quốc Thươ ng người và hoa quá Thấy cô công chúa lòa Có cô công chúa lòa Đến đêm kêu khấn trời Cô nàng Thủy Tiên tiến ra Cả đời chỉ nuôi nấng hoa Xin đền nụ hoa đã rơi Trình bày trên bát Trời làm nắng gió Nàng bày trên gác Ba lồng vàng thơm ngát Sau một chiều giông tố Ước chừng mười tô nước Khiến cho đôi mắt loà Các hoa trên gác lầu Khấn trong ba tháng ròng Của nàng công chúa sáng Phải một cơn đớn đau Nhưng trời chỉ cho nước ra trong Nàng mở mắt xong Ngàytháng chóng qua Trông vào tô nước trong Thu hèđã xa Thấy xuân năm đó trời Cuối đông năm đó trời Cho nàng Thủy Tiên Cho nàng thủy tiên xuống xuống đời đời Nằm chìm trong nước https://www.youtube.com/watch?v=ORq1mnlbDxU&list=RDORq1mnlbDxU&start_radio=1&rv=ORq1m nlbDxU ( Sao Khuê mời quý vị nghe bài ca.) Quý vị thấy không lòng thành của cô công chúa động tới Trời và Trời cho nàng Thủy Tiên xuống đời. Nàng nằm chờ trong nước, đến khi thấy cô công chúa lòa mới bước ra với xiêm y trắng toát, đôi hài vàng và hương thơm ngát và lạ lùng thay đôi mắt loà của nàng công chúa sáng ra.... Những người dân miền Bắc thường có thú chơi thủy tiên vì người ta thấy cô nàng này hiền lành, dễ uốn nắn. Muốn ra hoa lúc nào thì phải ra hoa lúc đó. Muốn lá nghiêng về phía nào thì phải nghiêng về phía đó. Muốn lá quăn thì lá phải quăn, muốn lá thẳng thì lá phải thẳng và đặc biệt người ta cứ muốn cô ấy nở hoa vào đúng đêm giao thừa vì người ta tin điều đó sẽ mang lại may mắn cho cả năm. Tuy vậy, để uốn nắn cô nàng này thì Nàng bạch mẫu đơn Trôi lạc mất con Khấn xin công chúa lòa Hãy đền nụ hoa cho bà
phải dùng tới dao kéo để cắt, tỉa. Để có được một chậu Thuỷ Tiên đẹp, trắng muốt thì quý vị trước hết phải mua một bộ dao- kéo- kẹp rồi sau đó dĩ nhiên là phải đi mua những củ thủy tiên. Khi có đủ hai thứ này rồi thì chúng ta bắt đầu cái công việc gọi là tỉa gọt thủy tiên. Công việc tỷ mỉ này đòi hỏi nhiều khéo léo vì chỉ cần chạm nhẹ một cái không cẩn thận là cái giò hoa đó sẽ không còn ra hoa được nữa và cả cái củ không còn cân bằng đẹp đẽ nữa: Nắng sớm em ngồi tỉa thủy tiên, Hồn em say đắm cảnh thiên nhiên Bóng ai thấp thoáng ngoài hiên vắng Em đã vô tình vội ngẩng lên Em vội ngừng tay ngồi ngó ra Dao cầm xảy chạm tới giò hoa. Giò hoa ngày lụi màu hoa úa Hoa đã vì em chịu xót xa Rễ tuy trong trắng lá xanh tươi Mầm nhánh đều xinh đẹp mấy mươi Nếu chẳng vì em hoa phải lỗi Trời xuân sao chẳng nhởn nhơ cười … ( bài thơ Vết thương lòng- Lan Sơn) Hoa thủy tiên đẹp không những vì bông hoa trắng tinh khiết vươn ra từ những giò hoa, lá xanh mảnh dẻ dịu dàng mà đến rễ cũng đẹp. Từng sợi rễ tròn nhỏ dài cứ như là chùm râu của một tiên ông nên khi hoa được bầy chiếc ly thủy tinh để thấy cả hoa, lá và rễ thì thật là đẹp. Thông thường muốn có một chậu hoa nở vào dịp tết thì khoảng 20 đến 25 ngày trước Tết người ta bắt đầu phải tỉa hoa. Muốn biết tỉa hoa như thế nào thì quý vị chịu khó gõ đầu ông Google là ra hết. Muốn cho lá cong xoắn thì quý vị phải khía lá nhiều theo vòng tròn, muốn lá ngả chiều nào thì gọt lá về phía đó, ngay cả đến cái giò hoa muốn cao hay muốn thấp cũng đều được hết, chỉ cần chạm nhẹ lưỡi dao vào thân hay lá, tạo nên một vết thương làm cho cành, lá chậm phát triển, nhưng cẩn thận nhé, phải rửa sạch vết khía kẻo bị thâm. Lá hay cành đều có khuynh hướng hướng về phía có nắng, quý vị cứ theo ánh nắng mà điều chỉnh chậu hoa. Quý vị cứ chịu khó tỉa vài chục củ thì có kinh nghiệm để tỉa đẹp và theo ý muốn, coi nè, giống bình nước không? Sao Khuê biết bài hát về Hoa thủy tiên từ năm 10 tuổi khi từ quê chạy loạn ra tỉnh, cả ngày được nghe máy quay cái đĩa này nên còn nhớ sau mấy chục năm nhưng bông hoa thủy tiên thì Sao Khuê chỉ thấy sau khi qua sống tại Montréal và được má nuôi chỉ cách tỉa nên về lý thuyết thì tài lắm nhưng chưa bao giờ có một bát thủy tiên nào ra hồn. Vào những năm 1985- 90 chúng ta có thể tìm mua củ thủy tiên dưới phố Tàu Montréal nhưng sau này không hiểu vì lý do gì những củ hoa này không còn được nhập cảng. Tuy vậy vài năm gần đây Sao Khuê tìm thấy một loại giống y như hoa thủy tiên nhưng nhỏ hơn và ít hoa hơn được bán ở Reno Dépot cùng với những củ hoa Narcissus, dưới cái tên White paper. Những củ hoa thủy tiên nước, Narcissus (Daffodil), Jonquille gần giống nhau vì chúng cùng loại (genre) Narcissus.
Trái với sự tích hoa Thủy Tiên mầu trắng nhuỵ vàng từ Trung Quốc ( Chinese Narsissus) cũng thuộc loài Narcissus, có một nguồn gốc rất dễ thương thì hoa Narcissus màu vàng, màu trắng, màu tím Âu Mỹ... bắt nguồn từ một thần thoại Hy Lạp. Truyện kể rằng là Narcissus là con trai của thần sông Cephissus và nữ thần Liriope. Narcissus đẹp lắm, đẹp đến nỗi mẹ là nữ thần Liriope lo sợ, phải giấu hết gương soi và nữ thần Echo thì thầm thương trộm nhớ nhưng chàng vẫn luôn luôn tỏ ra lạnh lùng và không bao giờ đáp lại tấm chân tình của Echo. Một ngày nọ Narcissus đi lang thang trong rừng vắt. Đây là lần đầu tiên đến bên một hồ nước trong chàng nhìn thấy dưới nước một vẻ đẹp quá hoàn hảo đến nỗi chàng không thể yêu ai khác ngoài hình ảnh phản chiếu của chính mình. Chàng cúi xuống tìm cách vớt lên nhưng sóng cũng đồng thời gợn lên làm biến mất hình ảnh khiến chàng buồn bã tuyệt vọng và tưởng rằng cái người dưới nước đó đang chạy trốn chàng. Khi sóng yên thì khuôn mặt lại hiện ra và Narcissus lại say sưa nhìn ngắm chính mình, nhưng hình ảnh đó luôn luôn ngoài tầm tay với. Tuy vậy chàng luôn luôn mê say cái hình bóng đó rồi ngày lẫn đêm không rời đi một bước. Chàng vẫn qùy bên hồ, đắm đuối nhìn ngắm hình bóng mình và một ngày gục chết, nơi đây mọc lên một bông hoa tuyệt đẹp được đặt tên là narcissus. Sau này người ta dùng từ Narcissist, tức Ái kỷ, NPD narcissistic personality disorder, là một bệnh lý rối loạn nhân cách, tự yêu mình thái quá, cho mình là quan trọng và khao khát sự ngưỡng mộ từ mọi người. Í a, coi bộ các cô các bà đều có ít nhiều cái tính Narcissist. Không à?Thế thì ai là người soi gương suốt ngày rồi lại còn đi xăm môi, sửa mắt xâm lông mày? Lại còn những người làm Youtube rồi cứ trông chờ một cái Like, chả yêu mình là gì nhỉ. Đố ai nằm ngủ không mơ, thấy gương không ngó, thấy mình cũng xinh…
Mà lạ ghê, ai cũng tự thấy mình xinh đẹp nhưng đồng thời cũng lại tự thấy mình xấu chỗ này, chưa được đẹp chỗ kia , thế là hùa nhau đi mỹ viện để cho bác sĩ cắt, tỉa, độn... cứ làm như mình là hoa thủy tiên ... Không biết quý vị nghĩ sao, riêng Sao Khuê thấy hoa thủy tiên, loại hoa trong nước vừa đẹp lại vừa thơm mà người ta gọi nó là Chinese narcissus. Người Trung Quốc gọi là Nàng Tiên Nước ( water goddess= shuixian= goddess who stans above the waves), loài hoa hương sắc vẹn toàn... Lẩm cẩm về Cẩm chướng. Sao Khuê ... Không biết từ bao giờ các bà gọi ông chủ gia đình của mình là cẩm chướng. Sao Khuê nghĩ rằng chuyện dùng tiếng ”cẩm chướng” để chỉ những điều chướng của ông chồng bắt nguồn từ các “mợ” Trưng Vương. Học trò Trưng Vương thời Sao Khuê thường thông minh, tinh nghịch, có nhiều sáng kiến nên đem tiếng cẩm chướng bao gồm lẩm cẩm và chướng dùng như tĩnh từ để chỉ tình nết dở hơi, gàn, bướng và dùng như danh từ để ám chỉ người cãi chày cãi cối hay lẩm cà lẩm cẩm, dở hơi, ương gàn. Khởi đầu “cẩm chướng“ chỉ để chỉ phe đối lập tức ông chồng già dở hơi nhưng dần dà được dùng cho tất cả những ai lẩm cẩm và chướng. “Cẩm chướng nhà tao hôm nay đầy bông!” Thoạt nghe qua, người ta nghĩ các bà đang nói về hoa cẩm chướng, loài hoa đẹp mang tên cũng đẹp lại còn nhè nhẹ hương thơm; nhưng không, đây là ám hiệu để nói rằng “ông chồng tao hôm nay chướng lắm”... Hoa cẩm chướng còn có tên gọi là hoa cẩm nhung. Hoa cẩm chướng thuộc chi Cẩm chướng (Dianthus) trong họ Cẩm chướng (Caryophyllaceae), bộ Cẩm chướng (Caryophyllales), có tới khoảng 11.155 loài khác nhau.
Cẩm chướng thân thảo, có loại sống một vài năm, có loại là cây bụi thấp, lá đơn, mọc đối, màu lục-xám hay lục- lam. Hoa có 5 cánh hoa, thường với mép nhăn, có rất nhiều mầu khác nhau, ngay mầu hồng cũng từ hồng nhạt tới sẫm hay có khi pha trộn nhiều mầu với nhau Ý nghĩa của hoa cẩm chướng. Hoa cẩm chướng có nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào văn hóa của mỗi quốc gia và màu sắc của loài hoa này. Chung chung hoa cẩm chướng chỉ về: * Tình yêu * Sự đam mê * Sự đối lập – tương phản • Tại nước Anh, hoa cẩm chướng được dùng như một món quà giúp các chàng trai bày tỏ tình cảm với cô gái mà anh ta đang thầm yêu thương. Về phía các cô gái, nếu họ chấp nhận tình cảm của chàng trai, họ sẽ gửi tặng lại một bó cẩm chướng một màu như đỏ, hồng… Ngược lại, nếu từ chối lời tỏ tình cô gái sẽ gửi lại cho chàng trai một bó hoa cẩm chướng sọc nhiều màu. • Tại Trung Quốc, hoa cẩm chướng được sử dụng rất nhiều để trang trí trong các lễ cưới và làm hoa cưới cầm tay cho cô dâu. Người Trung Quốc tin rằng, cẩm chướng là biểu tượng của hạnh phúc và một cuộc hôn nhân viên mãn, trọn vẹn. • Với người Nhật Bản, hoa cẩm chướng đỏ được xem là biểu tượng của tình yêu. Đây cũng là loài hoa được làm quà tặng nhiều nhất trong ngày lễ của mẹ. • Tại Mỹ, hoa cẩm chướng là hoa chính thức trong Ngày lễ Mẹ, làm hoa đeo tay cho phù dâu trong lễ cưới hay trong những dịp đặc biệt. Ngoài ra, hoa cẩm chướng xanh được chọn là hoa của ngày thánh Patrick và cũng là hoa của những người sinh vào tháng 1. Vì vậy, bạn có thể lựa chọn một bó hoa cẩm chướng xanh để làm quà tặng sinh nhật cho những người sinh vào tháng 1. Dựa theo mầu sắc thì: - Hoa cẩm chướng thuần một màu: Đồng ý - Hoa cẩm chướng có vằn, sọc: Lời từ chối tình yêu - Hoa cẩm chướng hồng: Tượng trưng cho ngày lễ mẹ - Anh sẽ không quên em - Hoa cẩm chướng đỏ: Ái mộ - Tôn kính - Hoa cẩm chướng đỏ thẫm: Trái tim tôi đau nhói vì em - Hoa cẩm chướng vàng: Cự tuyệt- Sự từ chối, sự khinh thường, thất vọng, hối hận. - Hoa cẩm chướng trắng: Ngọt ngào và đáng yêu, ngây thơ, tình yêu trong sáng, món quà đáng giá cho phụ nữ. - Hoa cẩm chướng tím: Tính khí thất thường- thay đổi khó đoán trước được
Có nhiều huyền thoại về nguồn gốc hoa Cẩm chướng. Theo một câu chuyện xưa thì hoa Cẩm chướng được trồng ở thiên đường rồi rơi xuống trần gian. Chuyện khác thì cho rằng nó sinh ra từ các ngôi mộ của các cặp tình nhân trẻ tuổi. Cẩm chướng là một trong các loài hoa lâu đời nhất được trồng. • Thời Hy Lạp cổ đại, hoa cẩm chướng là bông hoa được quý nhất. • Ở thế kỷ 13, khi quân lính bị bệnh dịch, người ta đã trộn lá hoa cẩm chướng với rượu rồi cho binh lính uống để chữa bệnh sốt. • Ở Anh, người ta trồng cẩm chướng từ thế kỷ 14 và ngưới Anh gọi nó là Sweet William hay Carnation. Cẩm chướng cũng dùng chỉ sự khổ nạn của chúa Giê-su, giọt máu của Chúa. • Có câu chuyện kể rằng: Bà hoàng Marie Antoinette, khi bị tù tại Paris năm 1793, đã cài một mảnh giấy bé xíu giấu trong đài hoa của một cành Cẩm chướng tước hết lá gửi cho bạn. Mảnh giấy bị phát hiện và bà đã bị lên máy chém hai tháng sau đó. Hoa cẩm chướng còn là biểu tượng quốc gia của Slovenia. Hình ảnh hoa cẩm chướng đỏ xuất hiện nhiều trong những đồ vật trang trí, thêu, gối, chiếc nôi em bé... Hoa cẩm chướng màu đỏ còn tượng trưng cho lòng nhân hậu, lòng vị tha, tình yêu đôi lứa. Bó hoa gồm cẩm chướng, hương thảo, phong lữ như một thông điệp về tình yêu, lòng thủy chung, sự chờ đợi và niềm hy vọng mà các cô gái cài trên ngực người yêu trước khi chàng trai phải lên đường ra mặt trận. Ở vùng quê, nhất là ở những miền núi, hoa cẩm chướng được đặt trên ngưỡng cửa sổ hay ngoài ban công. Một số người mê tín còn dùng hoa cẩm chướng để xem bói. • Ở Triều Tiên, 3 bông hoa cẩm chướng được cài trên tóc một cô gái, và số phận của cô được suy đoán từ thứ tự các bông hoa dần chết đi. Nếu bông hoa ở dưới cùng tàn héo trước, cô ấy bất hạnh suốt cuộc đời. Nếu bông hoa trên cùng úa tàn trước, vào những năm cuối của cuộc đời của cô sẽ rất cơ cực. Còn nếu bông hoa giữa bị héo trước, những năm đầu của đời cô sẽ vất vả. Loại hoa cẩm chướng thơm lùn trồng ở nam châu Âu và một số khu vực châu Á thành một vườn cây cảnh. Mỗi hoa có đường kính 2–3 cm với năm cánh hoa có các cạnh có răng cưa. Những bông hoa ăn được và có thể có đặc tính chữa bệnh. Hoa ngọt thu hút ong, chim, bướm. Hoa cẩm chướng còn được dùng sản xuất hương bia, rượu vang và chế thuốc nhuộm tóc đen. Đấy, quý vị thấy không, hoa cẩm chướng đẹp và có ý nghĩa gì vậy thế mà bây giờ các mợ dùng để ám chỉ những chướng khí, những lẩm cẩm của người bên cạnh. Các mợ ơi, không hiểu là các mợ có biết là mình rất trân quý yêu thương người bên cạnh khi gọi họ là cẩm chướng hay không nhỉ? Này nhé trước hết bàn về chữ CHƯỚNG Chướng là: • trái với lẽ thường và gây cho mọi người cảm giác khó coi, hoặc khó chịu như trông chướng mắt, nghe chướng tai, chướng khí. • trở ngại. Trong Phật học có những cụm từ như “sở tri chướng” có nghĩa là: Jneyavarana chỉ sự trở ngại của tri thức và “phiền não chướng”, trở ngại của các phiền não. Bây giờ chúng ta tìm hiểu sâu rộng thêm nhé. Theo tự điển về nghĩa chữ chướng. Theo tiếng Hán, có năm chữ viết đọc lên là chướng: 嶂 chướng • 幛 chướng • 瘴 chướng • 鄣 chướng • 障 chướng Theo đó
• Chướng được dùng như động từ , có nghĩa là ngăn, cản trở, che lấp, bảo vệ, phòng vệ • Chướng được dùng như danh từ có nghĩa là ngọn núi cao như bình phong, dáng núi trừng trùng điệp điệp, hiểm trở, che ngang. Chướng cũng chỉ bờ đê, màn che cửa (mà chúng ta thường hay nói là trướng) hay một khuyết điểm, một trục trặc, một sự che ngăn như bộ chướng, đê chướng. • Chướng cũng chỉ khí độc (lam sơn chướng khí) hay tấm vải có viết chữ để mừng hay điếu ai đó (chướng hay trướng) … Nói chung chung, chướng thường thì khó ưa. Bây giờ đến chữ CẨM, Sao Khuê lại tiếp tục Google giùm quý vị nhe: Cẩm theo tự điển, có nhiều nghĩa như: Nói mà hai hàm răng rít lại - Cắn chặt miệng lại - là Ngậm Gấm. “ý cẩm hoàn hương” mặc áo gấm về làng. Tươi đẹp, lộng lẫy như “cẩm tâm” lòng nghĩ khôn khéo, “cẩm tảo” lời văn mỹ lệ. Nhiều thứ, nhiều món như trong “thập cẩm”. Vậy thì cẩm chướng ghép chung lại, nôm na là một vật quý có tính ngăn cản, ngay chóc là cái người bên cạnh các mợ rồi. Cái người bên cạnh rất quý giá đó thích ngăn cản các mợ, nhất là ngăn cản các mợ đi shopping, đi tiêu tiền, đi sửa sắc đẹp, đi dông dài tám với bạn bè mà khi không ngăn được hay khi đòi không được đi nhậu, đi “ăn phở” thì họ dở chướng ra rồi làm hay nói những điều trái tai gai mắt phiền lỗ nhĩ. Thế cho nên các mợ chỉ gọi người đó là cẩm chướng. Con cái hay ông hàng xóm đâu có cái vinh hạnh mang tên cẩm chướng. Ai nghĩ ra cái tên này, hay thật! Cẩm chướng, bảo đảm là nhà nào cũng có. Sao Khuê đố quý vị, hoa cẩm chướng có thơm không? Thật sự bông hoa không có hương mà hương thơm do từ than và lá: Hãy ngồi lại bên hoa trong đêm hè yên ả Suốt một đêm thân mọng tỏa hương mềm Hương thơm ấy rất mềm Mềm như là âu yếm Của bàn tay chạm khẽ vào nhau… *( thơ trên mạng) Sao Khuê Ghi chú: tài liệu, hình ảnh và thơ lấy từ trên mạng Tản Mản về Mai Sao Khuê Thiền sư Mãn Giác có một bài thơ nổi tiếng làm khi ngài bị bệnh: Cáo tật thị chứng
Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự dục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thưong lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. Bài thơ đã được dịch là : Có bệnh báo mọi người Xuân đi trăm hoa rụng Xuân tới trăm hoa nở Trước mắt việc đi mãi Trên đầu già đến rồi Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua hiên trước một cành mai. Lại cũng có một bài thơ cổ khác nói về một cành mai (nhất chi mai), đặc biệt bài thơ này chỉ có mười chữ làm thành ' Vị tình lai ký nhất chi mai hưũ biệt hoài ' có nghiã là ' Vì tình gửi tới một cành mai tỏ nhớ nhung' mà có thể xếp thành bài thơ tứ tuyệt là: Vị tình lai ký nhất chi mai Ký nhất chi mai hữu biệt hoài Hoài biệt hữu mai chi nhất ký Mai chi nhất ký vị tình lai Sao Khuê xin dịch là: Vì tình gửi tới một cành mai Gởi tới cành mai tỏ nhớ hoài Nhớ hoài một cành mai gởi tới Cành mai gởi tới tỏ tình ai . Qua hai bài thơ trên thì MAI là hoa mai, loài hoa thường chỉ nở và được nhắc đến khi xuân về. Hồi xưa, có nhiều người quá bận công kia chuyện nọ mà quên cả thời gian 'đồn anh đóng bên rừng mai nếu mai không nở anh đâu biết xuân về hay chưa....'vâỵ thì xuân về, mai nở và mai nở xuân về, có xuân là có mai. Những cành mai xum xuê hoa vàng rực rỡ nở ở góc vườn báo hiệu xuân về nên ngày còn ở Việt nam, nhà nào có mảnh vườn cũng ráng trồng cây mai để mỗi năm xuân về Tết đến đón xuân; nhà nào không có vườn thì dù giầu hay nghèo cũng ráng mua lấy cành mai về chưng ngày Tết, vì mai, phát âm theo giọng người miền Nam đồng âm với may-may mắn –và chẳng ai bảo ai, mọi người đều tin hoa mai đem lại may mắn, thịnh vượng cho năm mới. Mai trồng và mọc ở miền nam VN để đón xuân thường có màu vàng rực rỡ mà mọi người đều gọi tắt là hoa mai. Hoa mai hay hoàng mai (mai vàng) có tên khoa học là Ochna integerrima, họ Ochnaceae, thường chỉ có sắc vàng mà không có hương, tuy vậy hoàng mai ở Huế lại có mùi thơm thoang thoảng.. Hoa mai còn có màu trắng, nhị cũng vàng gọi là bạch mai, còn rất ít ở miền Nam, có mùi thơm thoang thoảng, có lẽ ngày xưa mọc rất nhiều ở khu đồn Bạch Mai hay khu nhà thương Bạch Mai ở Hànội
Trung hiếu vẹn tròn hai khối ngọc Thanh cao phô trắng một cành mai (Tản Đà) Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du có câu: Thiền trà cạn nước hồng mai Thong dong nối gót thư trai cùng về. theo đó hồng mai là một loại cây trà trên núi, sắc đỏ lợt, lá nhỏ hơn lá trà Tàu, hoa nở từ tháng chạp đến tháng hai, đồng thời với hoa mai nên gọi là trà mai hay hồng mai. Cũng có sách cho là nước sắc của gỗ cây mai già có mầu đỏ hồng nên gọi là hồng mai. Thủy mai có hoa màu trắng phơn phớt tím, thoang thoảng mùi thơm , khi trồng gần nước thì cây hoa ngả mình về phía mặt nước và đơm hoa nhiều hơn nên còn gọi là mai chiếu thủy. Thủy mai thân nhỏ không thể cắt cành để cắm nên khi trông phải trồng nguyên cây trong chậu. Nhiều người cũng thích trồng mai tứ quí, loại này cũng trồng nguyên cây chứ không cắt cành để cắm. Gọi là tứ quí ví mai nở cả bốn mùa, hoa màu vàng nở vào buổi sáng, đến chiều thì cánh hoa rụng xuống, đài hoa khép lại rồi vài ngày sau lại nở ra, đài hoa lúc đó thành cánh hoa màu đỏ sẫm và nhị hoa trở thành những hạt hoa có mầu xanh khi còn non và mầu đen khi đã già; hạt đen này rụng xuống đất lại mọc cho cây hoa mai mới. Mai tứ quí không có hương và ít hoa nhưng nhiều người ưa trồng vì có hoa quanh năm và hoa lại nở hai lần với hai mầu khác nhau. Muốn có hoa nhiều cũng phải tỉa lá như mai vàng. Mai khôi hoa lại là một loại hoa hồng còn gọi là mân côi hay mai khôi có sách nói là để ướp hương cho trà hồng mai Mai tơ hay mai đào (tên Hán là kim lâu mai) tên Pháp là Hamamélis, tên khoa học là Hamamelis mollis thuộc họ Hamamelidaceae. Mai cũng còn là cây mận (prunus mume), người Hoa gọi là mai, thuộc họ Rosaceae đầu xuân nở hoa, có hai thứ trắng và đỏ. Thứ trắng gọi là lục ngạc mai, nở hết hoa rồi mới nẩy lá, quả chua, chín thì vàng; các vùng đông nam Trung Quốc gần biển, đầu muà hè đổi gió hay mưa vừa lúc mơ chín nên lúc này gọi là mai tiết (mùa mơ chín). Khi xưa Tào Tháo đã gạt quân sĩ là trước mắt có rừng mai (mơ) để giúp đoàn quân tưởng tượng đến vị chua của quả mơ rồi chảy nước miếng mà quên cơn khát. Trong Kiều của Nguyễn Du cũng có câu 'quả mai ba bẩy đang vừa' chỉ quả mơ. Nguyễn Bính cũng có bài thơ 'thơ thẩn rừng mơ cô hái mơ... '
Hoa mai được coi là một trong tứ quí: Mai, Lan, Cúc, Trúc. Trường nữ trung học Gia Long ở Sàigòn ngày xưa đã chọn đóa mai vàng làm phù hiệu gắn trên áo cho các nữ sinh vì hoa mai chẳng những tượng trưng cho muà xuân tươi trẻ cuả tuổi học trò mà mai còn hàm nghiã 'mai cốt cách tuyết tinh thần' chỉ cốt cách thanh cao của loài hoa được tôn là quân tử chi hoa và tinh thần thì trắng tinh như tuyết. 'Mai cốt cách ' (tuyết tinh thần) là dáng người thanh quí như hoa mai nhưng dù người ta bảo 'yếu như liễu, gầy như mai, trắng như tuyết...' thì người mang tên Mai thường có xương cốt thuộc loại cao lớn tuy không mập mạp chứ thực sự ít ai có cái 'nét buồn như cúc điệu gầy như mai '. Cao bá Quát, một thi sĩ bất khuất, tài danh, đã ngả bút chê thơ của các vương hầu ở đất Thần Kinh là có mùi nước mắm: “ngán thay cái mũi vô duyên, câu thơ Thi Xã con thuyền Nghệ An” nhưng lại chịu một đời cúi đầu trước hoa mai ”nhất sinh đê thủ bái hoa mai “, không hiểu nhà thơ cách mạng này cúi đầu trước đóa hoa mai hay cúi đầu trước một người đẹp nào đó có tên là Mai vì Mai thường dùng để đặt tên cho cả con trai lẫn con gái, nhất là con gái : Hoàng Mai, Bạch Mai,Thủy Mai, Thúy Mai, Diễm Mai, Huỳnh Mai, Quỳnh Mai, Liễu Mai, Như Mai, Ngọc Mai,Yến Mai,Tuý Mai v..v.. tuy vậy quí vị chớ có đặt tên con là Dương Mai kẻo có người lại liên tưởng đến bệnh dương mai (giang mai) là một bệnh phong tình mà người ta nghi là do Dương Quí Phi ( Dương Quí phi tên là Mai ) mà ra. Mai chẳng những dùng để đặt tên mà còn dùng làm họ cho nhiều người (Mai Thúc Loan tức Mai Hắc Đế ). Quí vị nào mang tên là Mai nên nhớ rằng ngoài ý nghĩa là một loài hoa, mai còn có nghĩa là một loại ngọc tốt (mai khôi) . Mai quế lộ là tên một loại rượu của Tàu có nghĩa là sương hoa mai và hoa quế Mai còn là cây bương. Bương là một loại tre rừng (tre mạnh tông, giang hay nứa) họ poaceae, có thân to dùng làm côt nhà được. Cây bương khi già có hoa giông như bông lau thường được bó lại, dùng làm chội để quét gọi là chổi bông mai. Măng của cây bương to và mập gọi là măng mai như trong bài Lính thú: ... Ngang lưng thì thắt bao vàng, Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài. Một tay thì cắp hỏa mai, Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền. Thùng thùng trống đánh ngũ liên, Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa. Ba năm trấn thủ lưu đồn, Ngày thời canh điếm, tối dồn việc quan. Chém tre đẵn gỗ trên ngàn, Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai! Miệng ăn măng trúc măng mai, Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng! Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng... Mai (cây bương) và Trúc (cây trúc) có những đốt thẳng (đốt theo chữ Hán là tiết, chữ tiết nghĩa là đốt cũng có nghiã là lòng dạ, tiết tháo) nên trúc mai chỉ người có lòng dạ ngay thẳng, suốt đời không thay lòng đổi dạ và không quanh co nên trúc mai chỉ người bạn tình chung thủy: Trúc nhớ mai, mai về nhớ trúc Trúc về rồi, mai nhớ trúc không? Bây giờ kẻ bắc người đông
Kể sao cho hết tấm lòng tương tư . hay như trong Kiều của Nguyễn Du : Hồn còn mang nặng lời thề Nát thân bồ liễu đền ghì trúc mai.... Từ đó mai còn có nghĩa là mai mối. Chuyện kể có một giống trúc mọc bên đầm 'Đố phụ đàm' (đầm đánh đố được vợ) vì ngày xưa có hai trẻ trai gái lúc còn nhỏ chơi vơí nhau rất thân thiết, sợ lớn lên phải xa nhau nên lấy một lóng trúc chẻ làm hai, cầm mỗi người một nưả quăng xuống đầm mà nguyền rằng nếu hai nửa đó kết lại làm một thì sau này được nên duyên chồng vợ... Hai mảnh trúc trôi xuôi rồi kết lại vơí nhau và hai cô cậu thì sau này nên duyên chồng vợ; giống trúc mọc bên bờ đầm này mang tên là mai trúc nên người làm mai cho hai bên nên vợ nên chồnggọi là ông mai hay bà mai (...nhưng em chưa lấy ai vì thày bảo bà mai rằng em còn nhỏ lắm ý đợi người tài trai ...) Làm mai là một việc ngu nhất vì sau khi người ta nên vợ nên chồng thì những lúc cơm không lành canh không ngọt, ông bà mai thường bị đem ra trách móc nên có câu rằng: Ở đời có bốn cái ngu Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu..... Mai còn là cái 'lưng' của con rùa (mai rùa), con cua, con còn, con ghẹ . Hàm mai là cái khớp miệng ngựa để cho ngựa không kêu khi cưỡi ngựa đi đêm, muốn giữ bí mật (như vua Quang Trung trong chiến dịch đại phá quân Thanh thì ngựa phải tháo nhạc, đóng hàm (hàm mai) và người phải ngậm tăm (theo Đào duy Anh). Mai còn nghĩa là chôn, là dấu như mai một(chôn mất đi), mai danh ẩn tích (chôn tên,dấu tung tích tức là đi ẩn), mai cốt bất mai danh ( chôn xương không chôn tiếng), mai đầu (chuí đầu mà học, không lý gì đến việc khác), mai táng (chôn người chết), mai u (chôn cái buồn xuống đất), mai tàng (chôn dấu cho biến đi), mai ngọc trầm châu (chôn ngọc xuống đất và làm chìm châu dưới nước ý nói người con gái đẹp tạ thế), mai ngọc thụ (chôn cây ngọc, ý nói người hiền chết thật đáng tiếc), mai phục (quân lính núp sẵn để đánh úp). Vì mai là chôn nên một dụng cụ đào đất có tên là cái mai (một mai, một cuốc, một cần câu...).. Theo chữ Hán, mai còn là cái mốc từ chữ mai là mốc hay là bụi bay mù khi có gió to. Mai cũng có nghĩa là từng cái, từng chiếc, một cái thẻ, một thân cây. Mai còn dùng để chỉ thời gian. Ngày mai là ngày sau ngày hôm nay. Mai kia mốt nọ hay mai sau là một ngày mai nào đó trong tương lai: Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương ấy so tơ phím này (Kiều) Trong chuyện 'Nửa chừng xuân' của Khái Hưng, cụ Hàn Thanh tán tỉnh và đòì cưới cô Mai, con gái người bạn học cũ là cụ Tú Ninh Bắc; cụ hàn Thanh đã rất thú vị tìm ra câu hẹn hò ' vậy mai, Mai nhé'. Sao Khuê cũng có một người bạn biết lợi dụng chữ mai lắm nghĩa này mà làm bốn câu thơ: Ngày 'mai' không trở lại
Lòng chôn dưới vực sâu Gửi gió lời trăn trối Giã từ cuộc tình sầu.... Vì 'mai' không trở lại nên cuộc tình sầu, nhưng nếu cưới được 'mai' làm vợ thì sẽ sinh con 'hạc': mai thê, hạc tử, lúc đó đời sống thật sự là tiêu dao nơi núi ngàn, mây nội, thong dong...không nhà (homeless) có rừng mai làm vợ và có chim hạc làm con... Trong thơ văn, 'mai' cũng đem lại nhiều cảm hứng để dệt nên những vần thơ, nốt nhạc về mai. Những áng văn, thi tập có tên mai như 'Nhị đô mai', 'Mai đình mộng ký', 'Mai am thi tập', ' Vịnh lĩnh mai ' v..v..và vì có xuân là có mai hay có mai là có xuân nên bià báo xuân, thiệp xuân có hình hoa mai nở tưng bừng màu vàng rực rỡ. Sống ở ngoại quốc, nhiều người vẫn đi tìm lại hương xưa bằng cách gây lại những chậu mai vàng hay mai tứ quí. Ở Mỹ và Canada, khi xuân về cũng có mai vàng rực rỡ nhưng là mai ... Mỹ. Đó là cây Forthysia, tức cây Liên kiều cho hoa màu vàng như hoa mai nhưng cánh nhọn chứ không tròn, theo thiển ý thì không đẹp bằng hoa mai vàng dù về mùa xuân Forthysia cũng kết nụ đơm bông vàng rực rỡ nhìn xa cũng giống như mai vàng, khi hoa tàn thì mới ra lá giống như mai. Mai được người Trung Quốc trân quí vì mai chịu lạnh mùa đông mà đơm hoa mang cái đẹp đến cho người nên nhiều người không quản ngại mà 'đạp tuyết tầm mai ' Người Việt mình chuộng hoa mai vì hoa đẹp, đem lại may mắn (do đọc chại mai là may): Em như tố nữ trong tranh Anh như ngọn bút chấm cành hoa mai hay : Canh ba sương nhuộm cành mai Bóng trăng em ngỡ bóng ai mơ màng. Mai được trồng trong vườn và mai cũng mọc trong rừng nên mai làm bạn với mọi người từ lúc còn trẻ thơ, lúc trưởng thành vào mỗi độ xuân về và ngay cả những người rút chân khỏi vòng danh lợi mà 'nghêu ngao vui thú sơn hà vẫn có 'mai là bạn cũ, hạc là người quen'...... Sao Khuê (tên Quỳnh Mai) Ốc Sao Khuê
Sên sển sền sên Mày lên công chúa Mày múa tao xem Đến mai tao may áo đỏ quần đen cho mày Quần đen thì để đi cầy Áo đỏ thì để đợi ngày vua ra .... Bạn đọc chừng độ ba, bốn lần thì cô nàng sên bé chỉ bằng cái đầu tăm, trắng như ngà, trong cái nhà bé tí tẹo hình trôn ốc cũng trắng như ngà mà chúng ta vừa nhặt được trong vườn, thò cái đầu ra rồi vươn mình lên ... hai cái vòi cao lên như hai cánh tay trắng muốt, thân hình bắt đầu lắc lư, mềm dẻo hơn vũ nữ Ấn Độ, lượn qua lượn lại theo nhịp ca hay đúng hơn là nhịp mấy câu thần chú mà bạn vẫn tiếp tục đọc... Cô nàng cứ múa mãi múa hoài đến khi bạn chán xem múa, ngưng đọc thì nàng mới giã từ sân khấu chui vào trong vỏ mà come back to Sorento….. Đó là một trong những trò chơi của Sao Khuê khi còn bé, sau cơn mưa, ra vườn là thấy đầy những cô nàng ốc sên nhỏ xíu đó. Trong vườn cũng còn những con ốc sên to, màu ngà ngả màu nâu, thân mềm, mang hai cái râu ngắn, quơ qua quơ lại để dò đường, chậm rãi bò đi kiếm ăn. Sao Khuê không thích những chú ốc này đâu, trông nhờn nhờn ghê ghê là, vậy mà nghe nói người Pháp họ thích ăn lắm đó nhé còn chúng ta thì chỉ ăn những loại ốc sinh sống ở dưới nước thôi nhất là những loại sống ở ao, ở ruộng đôi khi những loại sống ở biển nhưng không ăn loại sống trên mặt đất như người phương Tây mà ta gọi là ốc sên. Những cô chú nhỏ ở Tây Phương (Sweden) cũng có bài hát về ốc sên quí vị ạ: Lilla snigel Lilla snigel, akta dej, akta dej, akta dej, annars tar jag dej. Xin quí vị xem hình dưới đây để biết rõ các bộ phận của ốc: Ghi chú coquille : vỏ ốc Stries d"accroissement : lằn tăng trưởng giúp vỏ lớn lên pied : chân Orifice respiratoire : bộ phận hô hấp anus : hậu môn Orifice de ponte : bộ phận sinh nở.
Tentacules tactiles : vòi để sờ Tentacules oculaires : vòi để nhìn (mắt ốc ) Bourrelet de manteau : viền áo (cửa của nhà ốc hay miệng ốc ) Vậy ốc là gì nhỉ? ... Đó là những sinh vật, có khi nhỏ tí tẹo bằng đầu tăm như cô công chúa ốc sên, có khi lớn đến 1 mét . Con ốc biển khổng lồ này cư ngụ tại Úc châu. Loài ốc đất vĩ đại gọi là Giant African snail to cỡ 30 cm còn Giant apple snail sống ở nước ngọt to cỡ 15 cm nặng cỡ 600g. Ốc có đầy rẫy khắp thế giới, là một chủng loại rất lớn mà ngày nay người ta vẫn tiếp tục tìm thấy nhiều loại mới. Ốc sang lắm, mỗi con có căn nhà riêng nhưng vì sợ bị ăn trộm nên đi đâu cũng cõng cái nhà theo. Cái nhà nặng quá nên ốc không đi nhanh được khiến người ta cứ chế diễu là chậm như sên, nhưng mà ốc có đi đâu, ốc có lối trườn mình như là giun, là rắn đấy chứ; tuy vậy nếu mà chạy đua thì ốc lại thắng thỏ đấy nhé. Chả là chú thỏ kia nhìn thấy chị ốc bò sốt ruột quá, lên tiếng chê bai nên ốc mới thách thỏ chạy đua chung quanh cái ao. Thỏ chạy trên bờ và ốc sống dưới nước nên ốc đòi chạy duới nước. Chú thỏ e bị lừa nên bắt chị ốc phải thưa mỗi khi chú gọi. Giao hẹn xong xuôi đâu đấy, ốc xuống nước lôi anh chị cô dì chú bác ra xếp hàng chung quanh ao còn chị ta thì điềm nhiên chờ sẵn ở mức tới. Thỏ vừa chạy vừa kiểm tra: - Ốc đâu? Từ dưói ao có tiếng thưa của những người bà con của ốc: - Ốc đây! Nhưng gần đến đích thì thỏ đã thấy chị ốc ngồi sẵn ở đó rồi! Ốc dụng 'trí' bất dụng 'sức' mà thắng! Ốc có loại lưỡng tính có thể tự sinh sản, có loại đơn tính phải cặp đôi để sinh ra bọc trứng, mỗi bọc chừng 100 trứng. Tùy theo loài, có con sống được 1 năm, thường là 2, 3 năm, loài thọ nhất sống được 5, 7 năm. Ốc ao và ốc vườn thuộc lưỡng tính nhưng vẫn cần cặp đôi để trao đổi, có vậy trứng mới thành con được. Ốc vườn đẻ trứng vào tổ khoét dưới đất còn ốc ao mang con trên mình khi con khôn lớn mới rời mẹ. Ốc ao ăn các thực vật rong rêu trong ao còn ốc vườn ăn cây, lá, hoa, mầm non trong vườn nên gây thiệt hại cho vườn, có con còn bám cứng lấy cây mà ăn cả trái cây v...v rồi làm cho cây chết nên nhà vườn không ưa ốc mấy. Để giệt mấy con ốc ăn hại này thì chung quanh cây phủ lớp lá hay mùn có trộn sulfate đồng (copper - cuivre) rồi để cạnh cây một tấm ván kê lên bằng mấy hòn đá, ban đêm ốc bám vào dưới tấm ván, sáng ra bạn chỉ việc gỡ chúng rồi thả vào thùng nước có rượu, loại rượu dùng để xoa bóp, cái món ốc ngâm rượu này mấy con chim và vịt thích nhậu lắm. Ốc có hai cặp râu, mắt ốc được gắn vào cặp râu dài. Theo người Thụy Điển khi nào râu (tức cặp sừng mềm) dựng cao lên là ngày hôm sau trời đẹp. Ốc vườn không thích khô mà thích ẩm. Khi khô hay lạnh thì chui vào "nhà" ngủ cho qua ngày. Ốc thuộc họ Gastropoda. Tuy có nhiều loài nhưng người phương Tây chỉ ăn 3 loại ốc: - hélix pomatia to chừng 40mm-55mm , nặng cỡ 25-45g - hélix aspersa aspersa có nhiều ở Điạ trung hải nặng từ 7-15g - hélix aspersa maxima có nhiều ở Phi châu.
Ở Việt nam thì hình như chúng mình ăn nhiều thứ hơn nhưng chỉ là ốc ao, ốc sông, ốc ruộng. Này nhé, nhỏ nhít thì có ốc mút - mút phồng cả miệng cho đỡ buồn -, lớn và ngon hơn nhiều có ốc len nếu xào với nước dừa; hai loại này nhọn đít, muốn ăn thì đập đít rồi mút cho ốc chui tọt vào miệng. Còn loại ốc tròn có thể dùng kim khều ra được mà ăn gồm có ốc gạo, ốc bươu, ốc hương, ốc nhồi (large edible snail - là ốc to, nên mắt lồi ra va to gọi là mắt ốc nhồi). Ốc bươu tròn to, màu đen thịt trắng còn ốc hương màu vàng thịt ngà ngà ngon thịt hơn ốc bươu. Ốc biển có con nhỏ xíu như ốc xà cừ, có con to mà mỗi khi đi biển chúng ta mua về để chưng, loại này ghé tai nghe thì có tiếng ù ù của biển cả. Ốc, tiếng Hán, có nghiã là nhà (phòng ốc) nên nhà cao tầng chúng ta gọi là cao ốc (building); nhà trắng thì ta gọi là "tòa bạch ốc" nơi tổng thống Mỹ làm việc, cái thang xoáy thì ta bảo là thang hình trôn ốc; Loa-thành của An-Dương-Vưong xưa cũng xây theo hình trôn ốc; người lo việc buôn bán nhà cửa là nhà điạ ốc; ốc đảo chắc là cái đảo toàn là ốc (thật ra là cái đảo cô đơn, chỉ có mình mình như con ốc chỉ ở một mình ). Chắc quí vị ngạc nhiên tại sao Sao Khuê lại viết về ốc, bộ đang cô đơn hả? Thật ra thì Sao Khuê đang muốn mời quí vị ăn ốc sau khi đã chán ngấy những cao lương mỹ vị. Đừng lo là "kẻ ăn ốc người đổ vỏ", cứ vô tư (chữ mới của nhà nước CHXHCNVN, có nghĩa là thoải mái) mà ăn đi, không phải lúc nào ăn ốc cũng phải đổ vỏ đâu, cũng đừng sợ là "ăn ốc nói mò" như người ta thường nói căn cứ vào ốc thì bò quanh bò quẩn (ăn ốc nói mò, ăn măng nói ngược, ăn cò nói ngay).. Làm sao ăn ốc đây? Giản dị lắm! Trước hết phải có ốc. Việt nam mình thì cứ ra ao, ra ruộng, ra sông, ra biển mà súc nhưng cái món ốc sên của Tây thì không phải họ bắt ngoài vườn cho mình ăn đâu quí vị ạ. Họ nuôi ốc đấy, có trại nuôi ốc như nuôi gà nuôi vịt ấy mà. Đầu tiên họ chọn giống, 2 giống được ưa chuộng là Helix aspersa aspersa, con bé Helix petit gris chừng 10g, con lớn Helix gros gris chừng 20g, bây giờ họ còn tạo được giống lớn và ngon hơn nữa. Ở nước có khí hậu mùa đông lạnh, mùa hè không khô như nước Pháp, ốc được nuôi từ tháng 3 đến tháng 10; ở vùng ấm và ẩm như Điạ trung Hải, ốc được nuôi từ tháng 9 đến tháng 5. Thức ăn cuả ốc là bột xay nhuyễn gồm bột đậu nành, bột mì, bột hạt tournesol (hướng dương), vôi và một số chất khoáng và sinh tố. Nuôi bằng bột rẻ tiền hơn là cho ốc ăn rau trái. Ốc sắp đẻ được đặt trong hộp có nắp, cứ 2kg mỗi mét vuông, trong có hộp đựng thức ăn, đất ẩm, giữ ở 20 độ C. Trứng sinh ra được ấp ở 20 độ C, chừng 3 tuần thì nở ra con. Ốc con được nuôi trong hộp có thức ăn, đất ẩm, sau 3, 4 tuần thì thả ra vườn. Trong 2 tháng, mỗi con mẹ cho chừng 70 con con và phải nuôi 3 tháng mới đủ lớn ăn được. Khi mùa Đông đến thì lại cho ốc vào hộp cho ốc ngủ Đông. Bây giờ thì bạn có ốc để ăn rồi. Đâu ấy hả? thì... đi mua, mua ốc tươi, ốc đông lạnh, ốc chín, ốc hộp v…v… thiếu gì. Nào mời quí vị ăn ốc:
Trước hết là ăn ốc còn vỏ. Ốc này nhỏ, không gỡ lấy thịt được như ốc mút ốc len, ốc gạo. Ốc mút, ốc len: xào dừa, ốc đập bỏ đít rửa sạch với nước ớt (giã trái ớt cho vào nước), xào với nước dừa, sả, tỏi và ớt bột nêm nếm cho vừa, xào sơ sơ là đã chín, đem ra mạnh ai nấy mút. Ở chợ cũng có bán ốc len đông lạnh nhưng mà chớ mua quí vị ạ, Sao Khuê lỡ dại, mua về, chỉ thấy tí bã, không ăn được đâu. Ốc ngon và đắt nhất là ốc Thánh chỉ (hình ngón tay Thánh), to là ốc vòi voi. Ốc gạo, ốc bươu, ốc hương, ốc mít... Có nhiều cách ăn, dễ nhất là luộc. Gọi là luộc nhưng chỉ cho tí nước hay nước dừa thôi đấy nhé thêm tí tẹo muối, sôi lên thì sóc nồi, đảo cho chín đều, để sôi độ 5 phút là bắc ra ăn nhé. Ốc phải khều (lể) mới ăn được. Muốn cho ngon, bạn phảỉ ngâm nước gạo đặc (có nhiều cám) để nuôi cho ốc mập hay pha bột như đã nói ở trên, ngâm hai ba ngày, sau đó ngâm nước có vài trái ớt để ốc nhả hết nhớt, sau cùng mới luộc. Người miền Bắc khi luộc ốc bươu cho lá chanh cho thơm và dùng gai chanh để khều và chấm nước mắm gừng. Ốc lạnh, gừng nóng, bảo đảm không đau bụng. Người miền Nam xào ốc gạo với tỏi, sả, ớt, nước dừa, muối, rượu, dầu mè và đem cuốn bánh tráng với bún. Bạn vào tiệm Tàu ở Montréal thấy có món ốc gạo xào dầu hào trước kia còn món ốc gạo xào thịt với tương đậu đen cũng ngon lắm: đậu đen đã muối bán thành gói (black bean) ngâm nước, xay nhiễn, xào chung vơí thịt heo xay, hành, tiêu, sả, ớt, ốc, dầu hào, dầu mè. Ốc bươu VN cũng được xuất cảng nhưng càng ngày càng dở, dai nên để làm những món bún ốc, ốc nấu chuối xanh, ốc hấp lá gừng v...v... bạn nên mua ốc hương vừa sạch vừa ngon. Đầu mùa xuân, ở Montréal có ốc của vùng Matanne bán trong hũ hay hộp ăn ngon nhưng thiếu vị dòn. Muốn làm những món này bạn chỉ cần vào internet, tìm mục gia chánh, nấu ăn là có đầy đủ cách chỉ dẫn. Nếu bạn không quen xử dụng máy thì...đi mua sách dạy nấu ăn mà đọc. Sao? Bạn muốn một món dễ nấu ấy à. Bún ốc, được không? 1 bịch ốc hương hay ốc bươu hay ốc Matanne, Malbaie 1 chút bột nghệ, bột nêm, bột me chua Tamarind 1/2 kg sườn heo 1/2 chén cơm rượu xay nhiễn (nếu được rượu nếp càng tốt để làm dấm bỗng) 3 trái cà chua 1 củ gừng hành lá, tiá tô Cách làm: 1. Ốc hương hay ốc bươu hay ốc Matane rửa sạch với muối cho hết nhớt, rồi rửa với rượu gừng hay với nước trà có gừng đập nhỏ để khỏi hôi; ướp với gừng, tiêu, nước mắm và chút bột nghệ cho có màu. Ốc bươu là đúng nhất nhưng khó làm cho ngon trừ phi bạn sang ăn ở Eden bên Wasghinton DC. Ốc Matanne (Quebec) thì không dai nhưng không dòn.
2. Sườn heo (hay xương gà) nấu lấy nước lèo rồi bào củ gừng bằng ngón tay vào nồi nước lèo. Nêm bằng bột gà chicken broth cho ngọt nước. Để có vị chua thì bạn thêm chút bột me hiệu Knorr. 3. Xào hành lá với dầu ăn cho thơm rồi cho cà chua thái miếng, dấm bỗng xay nhiễn xào chín sau cùng cho ốc đã ướp vào xào sơ qua vì ốc mau chín; thêm chút mắm tôm cho đậm đà rồi cho vào nồi nước lèo đang sôi ngay trước khi chan vào tô bún. Khi ăn: Sắp bún, cà chua và ốc đã xào, tiá tô sắt sợi rồi chan nước lèo và thêm chút mắm tôm. Muốn có mầu đỏ cho đẹp mắt thì bạn lấy mầu với hạt điều (xào hạt điều với dầu, lược bỏ hạt) hay ketchup, dùng màu này xào với cà chua...) Có người thêm rau muống chẻ, kinh giới cho giống bún... riêu nhưng thực ra bún ốc không ăn kèm rau muống hay gía sống nhưng có thể thêm rau salade thái nhỏ. Còn món ốc sên của Âu Mỹ thì Sao Khuê tìm thấy một cách vừa nhanh vừa dễ: * 100 con ốc sên chín rồi * 400 g goat cheese (hay beurre à la bourguignonne) * 4 tép tỏi * tiêu, muối Bạn cứ cho hết vào chảo, xào chín rồi ăn ....nhưng chưa ngon đâu, muốn ngon thì: - xào nấm rơm cắt nhỏ, tỏi, hành với dầu ăn đến khi cạn nước do nấm rơm chảy ra - thêm tiêu, ốc (chín rồi) - thêm 1 ly vang trắng (white wine) - cho bơ vào (hay cream), xào cho sền sệt - thêm một chút rượu cognac. Ngon chứ? Còn phải nói, chả thế mà Mỹ nhập cảng hàng năm từ 25.000 -30.000 tấn ốc từ Poland và Grece Mà tại sao lại ăn ốc quí vị nhỉ? Chắc kiêng thịt thì ăn ốc hay tại ăn ốc ngon? chắc do cả hai yếu tố trên vì nếu so sánh giữa ốc và tôm hùm (lobster) thì thấy; 63 g ốc cho 220 calories 13 g chất béo và 70mg cholestérol 84 g tôm hùm cho 80 calories 0 g chất béo và 60mg cholestérol 110 g mực " 60 " 2.5 g " 215mg cholestérol 84 g tôm " 80 " 0g " 165mg cholestérol Như vậy có nghiã là ăn ốc khá an toàn về vụ cholestérol. Nhưng mà quí bạn đừng quên là chưa kể bơ hay kem cho vào đấy nhé, có nghiã là chỉ ăn ốc luộc hay nấu bung thôi! Ốc nấu bung là nấu với chuối xanh, đậu hũ chiên: * 1/2 kg sườn heo hầm * 4 trái chuối chuối xanh hay 2 trái chuối Mễ, cắt bằng nửa ngón tay ngâm vào nước có pha chút dấm, rửa sạch, xào chín với dầu ăn, nêm vừa ăn với bột gà (granulated chicken bouillon chicken broth) cho vào nồi nấu chung với sườn heo ( đã hầm sơ sơ) cho chín mềm.
* 3 miếng đậu hũ (chiên chín bán sẵn) cắt vừa ăn, cho vào nồi chuối, nấu sôi (3 phút). Nêm bột me cho chua rồi nêm nếm cho vừa ăn. Múc ra tô, cho thêm những món sau đây mà bạn đã làm sẵn trong lúc chờ sườn nhừ: * cà chua sắt nhỏ xào hành lá * 1/2 kg ốc rửa sạch (theo cách nói bên trên), ướp chút bột nghệ, xào sơ sơ với hành lá, nước mắm, gừng và chút mắm tôm * lá tiá tô sắt nhỏ Món này ăn với cơm, đôi khi ăn với bún.... Còn món này là cái gì đây? Ốc hấp với lá gừng đấy! 1 bịch ốc hương (hay ốc bươu ) chừng 1 lbs 1 kg giò sống 1 củ gừng sắt sợi như cọng tăm 5 cái nấm hương nấu chín sắt sợi Ốc sắt nhỏ hay xay sơ sơ từng ít một (để còn miếng nhỏ mới ngon và dai), nhồi với nấm hương, giò sống, nêm nước mắm cho vừa ăn, cho từng muỗng thịt này thêm vài sợi gừng thái nhỏ vào lá gừng hay lá chuối cuốn thành hình trôn ốc, cuốn lại , rồi dùng cây tăm nhọn hai đầu cài cho khỏi bung. Khi gần ăn đem hấp trong xửng nước sôi chừng 5, 10 phút là chín, ăn với nước mắm gừng. Ốc không những để ăn, còn để chưng, để làm đồ trang sức đeo cổ, đeo tay, đeo chân nhờ mầu sắc óng ánh sặc sỡ... Ngày xưa người ta dùng ốc làm " tù và" để truyền tin cho nhau: đuôi nhỏ đầu lớn khiến âm thanh truyền đi xa chính là nguyên tắc chế tạo loa phát âm ... Bài này được viết với trí nhớ đã có nhiều lỗ hổng như tổ ong và tài liện từ internet chứ không phải Sao Khuê hay ăn ốc rồi nói mò đâu nhé, nhưng rất có thể là Sao Khuê bắt đầu ngớ ngẩn như ốc mượn hồn, hết đề tài, hèn chi tuy đã thêm mắm tôm mà sao câu chuyện vẫn cứ nhạt như nước ốc thế này hả quí vị? Sao Khuê Quan Họ Bắc Ninh Sao Khuê Vào lúc 16h55 ngày 30/9/2009 tại thủ đô Abu Dhabi của các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ủy ban
UNESCO đã công nhận quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa của nhân loại dựa trên các giá trị văn hóa, giá trị lưu giữ tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, phong cách ứng xử văn hóa, ca từ và trang phục. Phạm vi công nhận chính thức gồm có 49 làng quan họ phân bố như sau: tỉnh Bắc Giang có 5 làng là Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ; tỉnh Bắc Ninh có 44 làng là: Bái Uyên, Duệ Đông, Hạ Giang, Hoài Thị, Hoài Trung, Lũng Giang (Lim), Lũng Sơn, Ngang Nội, Vân Khám, Tam Sơn, Tiêu, Đông Mai, Đông Yên, Bồ Sơn, Châm Khê, Cổ Mễ, Dương Ổ, Đẩu Hàn, Điều Thôn, Đông Xá, Đỗ Xá, Hòa Đình, Hữu Chấp, Khả Lễ, Khúc Toại, Ném Đoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Niềm Xá, Phúc Sơn, Thanh Sơn, Thị Chung, Thị Cầu, Thọ Ninh, Thượng Đồng, Trà Xuyên, Vệ An, Viêm Xá, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Ổ, Xuân Viên, Y Na, Yên Mẫn. Vậy quan họ là gì ? A.Truyền thuyết: Thời vua Gia Long có hai họ quan người làng Diềm và làng Bịu kết bạn vơi nhau tổ chức ca hát sau đó lối ca hát này truyền ra ngoài nên mang tên hát quan họ. B. Quan họ là loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam, truyền từ đời này sang đời khác bằng cách truyền khẩu ở vùng đồng bằng miền Bắc, tập trung ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang). Dân ca quan họ là hát đối đáp nam,nữ. Họ hát quan họ vào mùa xuân, mùa thu khi có lễ hội hay khi có bạn bè. Một cặp nữ của làng này hát với một cặp nam của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về lời ca và đối giọng. Cặp hát phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng hát của hai người phải hợp thành một giọng. Họ hát những bài ca mà lời là thơ, ca dao và có từ ngữ trong sáng, mẫu mực thể hiện tình yêu lứa đôi, không có nhạc đệm kèm theo. Khi hát hai bên hát với nhau, bên hát trước giọng nào thì bên sau phải theo giọng nấy để trả lời và phải theo cho đúng như thế mới gọi là đối chọi, không đối được là tỏ ra cái kém cỏi của mình. * Có 4 giọng chính: • Giọng sổng (transitor air) • Giọng vặt (diverse air) • Giọng hãm (recitative air) • Giọng bỉ (tunes borrowed from other sources) Những lối hát quan họ: • Quan họ cầu đảo: tại làng Diềm cầu cho nhà nông khi bị hạn hán tại đền Vua Bà tức Tối Linh Thượng Đẳng thần hay Đại Vương Nam Hải tức thần Nước. • Quan họ trùm đầu: tại làng Diềm vào những tuần trăng sáng mùa thu theo đó khi hát thì trùm đầu bằng áo hay khăn nên được hát tự do cử chỉ cũng tự do. • Quan họ Hiếu: tại làng Lũng Giang (làng Lim) và Tam Sơn là hai làng kết chạ, cầu cho luá tốt, cây xanh, nước trong và hát khúc Nhị Thập Tứ Hiếu. • Quan họ kết chạ: kết chạ có ăn giải thưởng tại làng Bồ Sơn trong
3 ngày từ 10 tháng giêng đến 12 tháng giêng âm lịch 4 kỹ thuật: Vang, rền nền, nảy. 4 hình thức chính: • Hát canh = hát tại nhà giữa hai nhóm quan họ • Hát hội = hát ở hội thi lấy giải • Hát mừng = hát ở đám • Hát cầu = hát ở cửa đình cửa đền Tục lệ quan họ Hát quan họ gắn liền với tục kết chạ, tục kết bạn giữa các bọn quan họ, tục “ngủ bọn”. Đầu tiên là tập quán "kết chạ" giữa các làng quan họ. Từ tục "kết chạ", trong các "bọn" quan họ xuất hiện một tập quán xã hội đặc biệt là tục kết bạn quan họ. Mỗi "bọn" quan họ của một làng đều kết bạn với một "bọn" quan họ ở làng khác theo nguyên tắc quan họ nam kết bạn với quan họ nữ và ngược lại. Với các làng đã "kết chạ", trai gái trong các "bọn" quan họ đã kết bạn không được cưới nhau. Một điểm khác biệt của quan họ Bắc Ninh so với các loại dân ca khác ở Việt Nam là tục "ngủ bọn". Sau một ngày làm việc, "bọn" quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 17 tuổi thường rủ nhau "ngủ bọn" ở nhà ông-bà Trùm để tập nói năng, ứng xử, giao tiếp, học câu, luyện giọng, và nhất là phải biết bẻ giọng, ứng đối kịp thời. Yêu cầu đặt ra với tục "ngủ bọn" là "liền anh" và "liền chị" phải ghép đôi và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau để đi hát. Muốn hát quan họ phải có "bọn": "bọn nam" hoặc "bọn nữ". Trong một làng quan họ thường có nhiều "bọn nam" và "bọn nữ". Mỗi "bọn" thường có 4, 5, 6 người được đặt tên theo thứ tự: chị Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu hoặc anh Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu. Nếu số người đông tới 7, 8 người thì đặt tên là chị Ba, chị Tư (bé) hoặc anh Ba, anh Tư (bé)… mà không đặt chị Bảy, Tám hay anh Bảy, Tám. Trong các sinh hoạt quan họ, các thành viên của "bọn" quan họ không gọi nhau bằng tên thật mà gọi theo tên đặt trong "bọn". C. Ẩm Thực Quan Họ. Trầu quan họ thì phải là trầu têm cánh phượng hoặc trầu têm cánh quế, chè phải là chè Thái Nguyên. Cơm quan họ dùng mâm đan nghĩa là mâm gỗ tròn sơn đỏ, còn gọi là "mâm son", vừa trang trọng vừa thể hiện tình cảm thắm thiết của chủ nhà đối với khách. Các món ăn trong bữa cơm phụ thuộc vào tập quán của từng làng nhưng phải có một đĩa thịt gà, hai đĩa giò lụa, thịt lợn nạc, đặc biệt không dùng thức ăn nhiều mỡ để tránh hỏng giọng.
Mâm cơm quan họ Thi nấu cơm quan họ D. Y phục quan họ Y phục của "liền anh" và "liền chị" có sự khác biệt. Y phục của "liền chị" gồm nón ba tầm hoặc nón thúng quai thao, khăn vấn và khăn mỏ quạ, yếm đào xẻ con nhạn, áo tứ thân nhiễu điều nhiễu tía, váy, thắt lưng, dép. Chiếc nón quai thao đi kèm với bộ áo mớ ba (3 áo), mớ bảy (7 áo) màu hoa đào, màu hoa hiên, màu xanh thiên lý hay màu vàng chanh của những lớp áo trong. Phía dưới, các quý bà, quý cô thường mặc váy lưỡi trai bảy bức bằng lĩnh hay sồi đen buông chấm gót, làm nền cho những dải thắt lưng cánh sen hay mỡ gà thắt nút so le rủ xuống, đong đưa mỗi khi cơn gió thoảng qua. Các cô còn vấn khăn nhiễu tím hay đen, vắt cao lọn tóc đuôi gà dài óng ả, bên mình là bộ xà tích kèm ống vôi quả đào bằng bạc và con dao gấp xinh xinh, vừa để trang sức lại vừa để têm trầu, bổ cau… Và bộ trang phục này càng thêm hài hòa khi các cô xỏ chân vào đôi dép cong da trâu, hay đôi guốc gỗ cong sơn then quai bằng da hoặc sợi mây. Y phục của "liền anh" gồm khăn xếp, ô lục soạn, áo cánh bên trong và áo dài 5 thân bên ngoài, quần, dép. Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài. Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn mầu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh…gọi là áo kép. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà. Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu. Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện. Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ.
E.Lời ca quan họ Dân ca quan họ chủ yếu là nghệ thuật phổ lời ca dao và thơ. Nghệ thuật này đòi hỏi phải sử dụng những tiếng phụ, lời phụ bên cạnh những tiếng chính, lời chính nhằm làm cho tiếng hát trôi chảy, bổ sung ý nghĩa cho lời ca chính, làm cho lời ca thêm phong phú, linh hoạt, tăng nhạc tính của bài ca, phát triển giai điệu, làm cho âm nhạc của bài ca trở nên sinh động, bố cục trở nên hợp lý. Không dùng tiếng phụ, lời phụ, lời ca dễ đơn điệu, mất cân đối. Chuyển điệu thức là hiện tượng đặc biệt của Dân ca quan họ với 2 hình thức: cách biệt và nối liền. Nghệ nhân ghép hai, ba âm giai ngũ cung trong một bài hát, đã khéo vận dụng nhiều dạng điệu thức khác nhau. Duy trì ở một mức độ nhất định lối cấu trúc mở, họ đã kết hợp một số mô hình cấu trúc tương phản và những thủ pháp đan điệu, chuyển điệu trong cùng một hệ thống ngũ cung hoặc chuyển hệ để phá vỡ sự đơn điệu trong một bài. Khi hát họ sử dụng những thể thơ và ca dao nhất định của người Việt, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp. Lời các bài ca quan họ đều là những câu thơ, ca dao được trau chuốt, từ ngữ trong sang, mẫu mực. Những bài ca quan họ cũng được sáng tạo ngẫu hứng trong các kỳ hội làng, hoặc ứng tác ngay trong một cuộc thi tranh giải của làng. Nội dung các bài ca thể hiện các trạng thái tình cảm của con người: nhớ nhung, buồn bã khi chia xa, sự vui mừng khi gặp lại của những người yêu nhau, mà không được cưới nhau theo quy định của những tập quán xã hội bằng một ngôn ngữ giàu tính ẩn dụ. Dân ca quan họ có 213 giọng khác nhau, với trên 500 bài ca. Lời một bài ca có hai phần: lời chính và lời phụ. Lời chính là thể thơ và ca dao của Việt Nam, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp với từ ngữ giàu tính ẩn dụ, trong sáng, mẫu mực. Đây là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca là thể hiện tình yêu lứa đôi. Lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi,ư hư, a ha v…v… Lời cũng được lấy từ những tác phẩm văn học như Tống Trân Cúc Hoa, Lục Vân tiên, Nhị Độ Mai, Nữ Tú Tài, Sơ Kính Tân Trang … và nhất là Truyện Kiều. Truyện Kiều anh thuộc đã lâu
Đố anh kể được hai câu năm chữ “này” [hay năm người] hoặc Truyện Kiều anh đã thuộc lòng Đố anh kể được hai dòng toàn nôm Thì câu trả lời đều là: Này chồng, này mẹ này cha Này là em ruột này là em dâu Truyện Kiều anh đã thuộc thông Đố anh kể được hai dòng toà nho Hồ công quyết kề thừa cơ Lễ tiên binh hậu, khắc cờ lập công Truyện Kiều anh thuộc đã lâu Đố anh kể được một câu mười người Hai bên mười vị tướng quân Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu Truyện Kiền anh thuộc đã lâu Đố anh đọc được hai câu hết Kiều Trăm năm trong cõi người ta Mua vui cũng được một và trống canh Truyện Kiền anh thuộc từng vần Đố anh kể được ba lần trăm năm Trăm năm trong coĩ người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Rằng trăm năm cũng từ đây Của tin gọi một chút này làm ghi Người đâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay không Truyện Kiều anh thuộc đã nhiều Đố anh kể được câu Kiều mười cho Làm cho cho mệt cho mê Làm cho đau đớn ê chề cho coi Đã cho lấy chữ hồng nhan Làm cho cho hại cho tàn cho cân! Thấy em hay đọc truyện Kiều Cho nên anh hỏi mấy điều xem sao Kiều, Vân em chị thế nào Tuổi ai hơn kém, má đào giỏi giang
Hỏi chi ngoắt nghéo hỡi chàng Thúy Kiều là chị rõ ràng hẳn hoi Hai người cùng đẻ sinh đôi Chàng xem trong truyện chàng thời hiểu ra Đầu lòng hai ả Tố Nga Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân Hai người một tuổi một năm Lấy đâu hơn kém mà thăm hỏi dò Kiều càng sắc sảo mặn mà Cho nên bạc mệnh ai mà chẳng hay Truyện Lục Vân Tiên: Trai thì trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh là câu trau mình Sơ Kính Tân Trang Bốn chúng tôi quyến bạn yên hà Say sưa đồng quyến la đà xuân phong….. Văn thể của Hát Quan họ tuy là lối lục bát, nhưng khi hát, vì những chỗ lên xuống trầm bổng, vì những nhu cầu của sự chuyển giọng, chuyển lời nên loại dân ca này có mang vài đặc tính là bài hát bao giờ cũng có thêm vào nhiều tiếng không có trong nguyên văn. Đó là những tiếng vô nghĩa, hoặc những chữ hát chệch hẳn đi, những tiếng dùng để đưa hơi như; y, a, ư, ô, ơ, ha, ối, ý, này, a, i, ì.v.v.v…Nhờ những tiếng đệm, tiếng láy lập lại như thế mà tính chất nhịp điệu của tiết tấu câu thơ lục bát được thay đổi luôn, trở nên phong phú vô cùng. Ví dụ bài trống cơm: “Trống cơm khéo vỗ nên bồng, Một bầy con nít lội sông đi tìm. Thương ai con mắt lim dim Một bầy con nhện giăng tơ đi tìm. Thương ai duyên nợ tang bồng” Khi trở thành bài hát Quan họ Bắc Ninh là: (Tình bằng có cái) trống cơm (khen ai) khéo vỗ (ố mấy bông) nên bông. Một bầy (tang tình) con nít (ố mấy lội) lội sông (ố mấy) đi tìm. (em nhớ) thương ai (đôi) con mắt (ô mấy) lim dim Một bầy(tang tình) con nhện (ớ ớ ớ ố mấy) giăng tơ (giăng tơ ố mấy) đi tìm. (em nhớ) thương ai duyên nợ (khách) tang bồng. Đó là chưa kể đến chỗ hát lại hai lần như phần đầu câu 2 và ở cuối câu 1,2,3,5. Ngoài ra những tiếng đưa hơi, tiếng đệm, tiếng láy, có khi trong bài hát có cả những tiếng dùng để ghi hệ thống âm giai của cổ nhạc là: Hò, xàng, xư, xê, cống. Ví dụ như bài “Xe chỉ luồn kim”
“May quần tình chung là vuông nhiễu tím (í a, í a) Gởi ra (gởi ra chồng) cho chồng. Ứ xàng, ừ xàng u cái liu F. Đặc Thù Của Quan Họ Hát chia làm từng bên. Mỗi bên, trai hay gái phải có ít nhất 4 người để thay phiên nhau hát vì hát rất hao hơi. Quan họ phải hát giọng đôi, nghĩa là hai người hát cùng một lúc, một người “dẫn” (chính) và một người luồn (phụ). Mỗi bên Quan họ có một người đứng đầu đại diện và được tôn làm Chị hai, Anh hai. Những người khác cứ theo thứ tự hát hay, hát kém mà lấy tên anh ba, anh tư, chị ba, chị tư. Chỉ cần bốn người hát được, còn bao nhiêu dựa vào cho đông cũng không sao. Trai gái hát Quan họ không sống nghề về hát không thể gọi là những người hát chuyên nghiệp nhưng không phải bất cứ ai ai cũng có thể hát được Quan họ. Muốn hát Quan họ phải có nhiều điều kiện, phải có giọng tốt, phải chịu khó luyện tập, phải có trí nhớ và ít nhiều thông minh, nghĩa là có ít nhiều tài đối đáp, biết bình tĩnh để trả lời người đối diện không những trong ý câu hát mà nhất là trong giọng bài hát. Tình bạn hữu, tình anh em giữa những người cùng chung “gia đình” Quan họ thật thân thiết. Họ coi cha mẹ của nhau như cha mẹ của mình. Những dịp hiếu hỉ, buồn vui, họ đều đến thăm hỏi, cha mẹ bạn có yếu đau họ tìm đến chăm sóc an ủi. Cũng như hầu hết các loại dân ca trữ tình ở Việt nam, hát Quan họ vay mượn nhiều ở phong dao. Hầu hết các bài Quan họ đều theo thể lục bát biến thể. Đó là những bài tình ca do nam nữ thanh niên Bắc Ninh hát lên để ca tụng tình yêu, nói lên những oán trách, hờn ghen và giận tủi về yêu đương hoặc biểu lộ những tâm tình sôi sục yêu đương. Hát quan họ là hình thức hát đôi đồng giọng: người hát dẫn, người hát luồn, hát đối đáp dẫn giọng, luồn giọng một cách điêu luyện. Giọng của hai người hát cặp với nhau phải tương hợp đến mức hai giọng trở thành một để tạo ra một âm thanh thống nhất. Có 4 kỹ thuật hát quan họ là: nền, rền, vang, nảy nhưng hát quan họ không chỉ đòi hỏi hát tròn vành, rõ chữ, mượt mà, duyên dáng mà còn bằng nhiều kỹ thuật như: rung, ngân, luyến, láy mà còn phải hát nảy hạt. Kỹ thuật nảy hạt của các nghệ nhân quan họ tuy có nét chung với lối hát chèo và ca trù nhưng lại rất riêng, khó lẫn. Tùy theo theo cảm hứng và thị hiếu của người hát, những hạt nảy có thể lớn nhỏ về cường độ. Khác biệt của Dân ca quan họ Bắc Ninh so với các loại hình dân ca ở Việt Nam trong việc truyền dạy là tục ngủ bọn. Sau một ngày lao động, đêm đến, bọn quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 16, 17 tuổi thường rủ nhau ngủ bọn nhà ông/bà Trùm để học câu, luyện giọng: phải học đủ lối, đủ câu, luyện giọng sao cho vang, rền, nền, nảy, tập nói năng, ứng xử, giao tiếp và phải biết đặt câu, bẻ giọng, ứng đối kịp thời. Yêu cầu đặt với tục ngủ bọn là liền anh/liền chị phải ghép và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau để đi hát. Tính chất trữ tình của các điệu hát ấy có thể chia thành nhiều loại. Loại có tính chất nhẹ nhàng, chân thật vui tươi, cởi mở, hoạt bát, thoải
mái. Có loại bài có tính chất bày tỏ, tin tưởng lạc quan, yêu đời, trìu mến. Có loại tình tứ, duyên dáng, thắm thiết say sưa. Có loại mang tính chất vui tươi nửa trào phúng, nửa tình tứ một cách ý nhị. Có loại đượm nỗi nhớ nhung, trách móc. Trong các bài Quan họ nhiều nhất là những bài để tỏ tình. Rất ít bài nói lên sự thất tình. Nhưng trong sự tỏ tình có nhiều hình thức: khi thổ lộ tâm tình, khi thăm dò lòng bạn, khi hy vọng, mong mỏi nhớ nhung người tình, khi trách hờn giận, ghen tuông người tình; nhưng rút cuộc những câu thổ lộ tâm sự cũng là để thăm dò tình bạn là nhiều hơn cả. Ví dụ: “Anh như cây gỗ xoan đào, Em như câu đối dán vào nên chăng?” “Em như cây cảnh trên chùa, Anh như con bướm đậu nhờ nên chăng?” G. Hát Quan Họ Lúc Nào? Ở Đâu? Ngày xưa trai gái vùng Bắc ninh có thể hát bài quan họ quanh năm. Mỗi khi có dịp lễ là họ mời nhau đến hát, ban đêm không có việc gì, họ cũng rủ nhau đến một làng nào đó trong vùng để cùng nhau vui hát.. Nhưng hát Quan họ đặc biệt thịnh hành vào mùa thu tháng tám, và nhất là vào tiết mùa xuân trong ba tháng giêng, hai, ba… Dịp hát quan trọng nhất là những dịp đám cưới, đám khao, đám giỗ, đám hội. Hát Quan họ là lối hát không dính dáng đến lao động, trái với nhiều loại dân ca khác như hò hát, ví, vì thế không hát ở ngoài đồng trong khi làm lụng mà có thể hát tại nhà trong các dịp cưới hỏi, giỗ, khao… hay sau khi hát ở hội đình, hội chùa rồi mời nhau về nhà. Tại nhà có khi liền chị ngồi trong nhà hát ra, và liền anh trên bờ hát vọng xuống. Có khi họ cùng ngồi trong thuyền trên mặt hồ để vui hát trong một đêm hè hay một chiều thu. Có đến 100 bài ca nói đến thuyền bè bến nước trong 500 bài dân ca quan họ: Thuyền ơi có nhớ bến không Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền hay Ngồi tựa mạn thuyền Trăng in mặt nước Càng nhìn non nước càng xinh Sơn thủy hữu tình Thơ ngâm ngoài lái Rượu bình giải trí trong khoang Tại hội đình trai gái hát trước bàn thờ Thành hoàng. Lắm khi các bài hát, lúc đầu chỉ có tính chất tôn giáo một ít, còn về sau đều có tính chất tình tứ. Tại hội chùa, họ hát trước cửa chùa, giữa sân chùa, có khi cả trong chùa. Nhưng thường hát ở các sườn đồi hay giữa các đám ruộng hoặc trên những bờ đê bên cạnh chùa. H. Hội Quan Họ
Hội hát Quan họ thường gắn với hội chùa. Cho nên chùa là nơi tụ hội và đón nhận khách Quan họ. Có tới 49 làng hát quan họ, phân bố trong bốn huyện, xã phía nam tỉnh Bắc Ninh. Nhưng nói tới Quan họ, người ta nghĩ ngay đến hội Lim. Lim là tên nôm của xã Lũng Giang xưa. Hội mở trên đồi, nơi có chùa Lim (chùa Hồng Ân). Hội Lim đông vui và nổi tiếng nhất trong các hội Quan họ. Hội mở vào ngày 13 tháng giêng, đúng phiên đầu năm của chợ Lim. Đến hội Lim, khách du xuân được xem và nghe hát trên đồi, hát sau chùa, hát trên thuyền và hát trong các tư gia (hát trong nhà); lại có thể nghe hát đối từng cặp (đôi nam, đôi nữ), hoặc "bọn" nam, nữ. Hội Lim chính là hội chùa làng Lim và đôi bờ sông Tiêu Tương huyện Tiên Du. Hội Lim trở thành hội hàng tổng (hội vùng) vào thế kỷ 18. Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn là người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc, có nhiều công lao với triều đình, được phong thưởng nhiều bổng lộc, đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục. Ông còn cho xây dựng trước phần lăng mộ của mình đặt tên là lăng Hồng Vân trên núi Lim. Do có nhiều công lao với hàng tổng và việc ông đặt hậu ở chùa Hồng ân, nên khi ông mất nhân dân tổng Nội Duệ đã tôn thờ làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăng Hồng Vân có tên Hồng Vân từ bi ký niên đại Cảnh Hưng 30 (1769) hiện giữ ở đình thôn Đình Cả đã cho biết khá rõ lai lịch, công trạng và việc thờ phụng hậu hàng tổng Nguyễn Đình Diễn mỗi năm hai dịp vào "ngày sinh" và "ngày hóa" của ông tại lăng Hồng Vân và chùa Hồng Ân trên núi Lim. Hội Lim được mở từ ngày 12 đến 14 tháng giêng Âm lịch hàng năm, trong đó ngày 13 là chính hội, thường được kéo dài trong khoảng thời gian 3-5 ngày (11/1 - 15/1 Âm lịch). Hội Lim bao giờ cũng gồm 2 phần tách bạch: Lễ và Hội. Các làng Duệ Khánh, Đình Cả, Lộ Bao, Lũng Giang hội tụ thành một đoàn rước từ từ tiến vào trung tâm hội thu hút sự chú ý, quan tâm đặc biệt của hội. Đây là tâm điểm của phần Lễ, hoạt động tế lễ của các đoàn rước chính là chương trình khai hội. Ngày 13 mới là chính hội. Nhưng từ sớm ngày 12, đồi Lim - trung tâm lễ hội đã tưng bừng với các lán hát Quan họ và các trò chơi dân gian như: Thi tổ tôm điếm, đu tiên, vật, đập niêu, thi cờ người, dệt cửi hội, trò bịt mắt bắt dê và kéo co. Lúc 8giờ sáng ngày 13/1 Âm lịch, Hội Lim được mở đầu bằng lễ rước. Đoàn rước với đông đảo người dân tham gia trong những bộ lễ phục ngày xưa, sặc sỡ sắc màu và cũng vô cùng cầu kì, đẹp mắt kéo dài tới cả gần km. Trong ngày lễ, có nhiều nghi lễ và tục trò dân gian nổi tiếng, trong đó có tục hát thờ hậu. Toàn thể quan viên, hương lão, nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệ phải tề tựu đầy đủ tại lăng Hồng Vân để tế lễ hậu thần. Trong khi tế có nghi thức hát quan họ thờ thần. Để hát thờ, các liền anh,liền chị quan họ nam và nữ của tổng Nội Duệ đứng thành hàng trước cửa lăng hát vọng vào. Trong khi hát, họ chỉ được hát những giọng lề lối để ca ngợi công lao của thần. Hội Lim đi vào lịch sử và tồn tại và phát triển cho đến ngày nay được hàng tổng chuẩn bị tập rượt rất chu đáo từ ngày 9 và 10, rồi được diễn ra từ ngày 11 đến hết ngày 14 tháng giêng. Chính hội là ngày 13, với các nghi thức rước, tế lễ các thành hoàng các làng, các danh thần liệt nữ của quê hương tại đền Cổ Lũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy. Trong các nhà thờ họ Nguyễn, họ Đỗ ở làng Đình Cả, dâng hương
cúng Phật, cúng bà mụ Ả ở chùa Hồng Ân. Đặc sắc hơn cả là phần hát hội và là phần căn bản và đặc trưng nhất của hội Lim. Từ hát mời trầu, hát gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng mùng... Hội thi hát diễn ra khoảng gần trưa, được tổ chức theo hình thức du thuyền hát quan họ. Tại một hồ nước nhỏ sát bên cánh đồng làng Lim, chiếc thuyền hình rồng được sơn son thiếp vàng rời bến trong những câu hát đậm đà nghĩa tình. Một bên thuyền là các liền chị, đối diện là những em nhỏ súng sính trong những tà áo tứ thân. Các liền anh thì đứng hoặc ngồi sát hai phía đầu và cuối thuyền. Tối ngày 12 sẽ là đêm hội hát thi quan họ giữa các làng quan họ. Mỗi làng quan họ có được dựng một trại tại phần sân rộng của đồi Lim. Đây là phần hội hay nhất của cả lễ hội Hội Lim. Về với Hội Lim là về với một trời âm thanh, thơ và nhạc náo nức không gian đến xao xuyến lòng người. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm, quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm... như ẩn chứa cả sức sống mùa xuân của con người và tạo vật. Cách chơi hội của người quan họ vùng Lim cũng là cách chơi độc đáo, mỗi cử chỉ giao tiếp đã mang trong nó một sắc thái văn hoá cao. Lễ hội diễn ra khắp các làng xã trong tổng Nội Duệ, trung tâm là núi Hồng Vân, với nghi thức tế lễ rước xách uy nghiêm, hùng tráng và nhiều trò vui, đặc sắc mà hấp dẫn nhất là đánh cờ người, tổ tôm điếm, thi dệt vải, thi làm cỗ và đón bạn, ca hát Quan họ. Là lễ hội lớn của vùng Kinh Bắc, với những hoạt động phong phú của lễ và hội đã có nội dung và tầm cỡ lễ hội văn hóa dân gian Kinh Bắc, gần như hội đủ những hoạt động văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của các lễ hội trên vùng quê Bắc Ninh - mảnh đất có nhiều lễ hội dân gian. Đến hội Lim, du khách được xem và nghe hát trên đồi, hát sau chùa, hát trên thuyền và hát trong các tư gia (hát trong nhà); lại có thể nghe hát đối từng cặp (đôi nam, đôi nữ), hoặc "bọn" nam, nữ. Mời trầu Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền nan i, có về là về với hội có gái ngoan gái ngoan tầm (tìm) chồng N: Ô mấy dẫu tình rằng anh Nam: cô cả cô hai nay đấy ơi. N: Anh cả anh hai nay đấy ơi. Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền rồng Có về là về với hội có cái công cái công đi tìm N: Ô mấy dẫu tình rằng Nam: cô cả cô hai có biết ko? N: Anh cả anh hai vẫn còn không? Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền không Có về là về với hội có bến sông bến sông bãi bồi N: Ô mấy dẫu tình rằng, Nam: Cô cả cô hai ớ làng Đôi N: anh cả anh hai ớ làng Chanh. Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền mành i, Có về là về với hội có cái danh cái danh với đời N: Ô mấy dẫu tình mời, Nam: cô cả cô hai ra hát chơi, N: anh cả anh hai ra hát chơi Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền không,
Có về là về với với hội (có) bến sông (có a) con thuyền N: Ô mấy dẫu tình rằng anh cả anh hai nay có duyên, Nam: cô cả cô hai nay có duyên. cả 2: Ô mấy dẫu tình rằng.ô mấy dẫu tình ơi!…. Nam: Trên trời – có đám mây xanh Có con ngựa bạch chạy quanh i gầm í trời N: Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi Nam: Đôi ta – muốn lấy nhau chơi Nhưng cái duyên ko định thì trời ko xe N: Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi. Nam: Những nơi tít tắp bờ tre (ô mấy dẫu tình ơi) Nhưng cái duyên cứ định, trời xe anh vào (Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi) Nam: Ba đồng (Ba đồng) một sợi chỉ đào (một sợi chỉ đào) Áo vóc không vá, vá vào áo tơi N: ô mấy dẫu tình ơi Tủi lòng ì thiếp lắm chàng ơi, dẫu rằng lên ngược xuống xuôi lỡ làng. cả 2: Ô mấy dẫu tình rằng ô mấy dẫu tình ơi, Ô mấy đãu tình rằng ô mấy dẫu tình ơi Nói tự do: Gặp chàng dưới ánh trăng thanh, Xin mời ăn miếng trầu xanh thắm nồng. Trầu xanh, cau trắng, tranh hồng. Đẹp duyên phải phận tơ hồng trời xe… Dạ! Xin mời anh Cả, anh Hai ăn với em miếng trầu… Nam: Ăn một miếng trầu gặp đây ăn một miếng trầu,không ăn ơ cầm lấy í, không ăn ơ cầm lấy í cho nhau bằng lòng, Trầu này trầu tính ớ trầu tình, trầu này trầu tính i trầu tình. Ăn vào cho đỏ ăn vào cho đỏ môi mình môi ta, miếng trầu là miếng trầu vàng. N: Đứng ở đằng xa yêu nhau i đứng ở đằng xa, con mắt liếc lại í con mắt liếc lại í bằng ba đứng gần. Nam: Anh còn son, N: em cũng còn son. Anh còn son i, em i cũng ư còn son i cả 2: Ước gì ta được ước a gì ta được í làm con một nhà. N: Em về thưa với me cha Nam: Anh về thưa với mẹ cha cả 2: ta về thưa với mẹ cha ……………. Hội làng Phù Đổng
Trong một nội san của Edmonton Canada có nói về một vị linh mục đã soạn những bài thánh ca quan họ nhưng Sao Khuê chưa tìm ra được để viết cho quí vị đọc, vị nào tình cờ biết được xin cho biết. Thưa quý độc giả nội dung của bài viết trên đây hoàn toàn tìm thấy trên mạng, Sao Khuê chỉ là ngươì sắp xếp lại cho có thứ tự mạch lạc mà thôi. Sao Khuê Pha Cồn (alcohol) và Sát Trùng Trong Nhà Để Diệt Khuẩn Vào mùa thế nạn đầu năm 2020, toàn thế giới cùng chịu chung tai nạn gây ra bởi con vi khuẩn Corona. Mọi người đổ xô đi mua chất gel để sát trùng cho bàn tay khi ra đường. Đó là Purrell. Nhiều người đã mua hụt, không thể có chai nào. Sao Khuê được dược sĩ nhường hai chai bé tí còn chị bạn Sao Khuê hý hửng khoe: - Mình chế lấy nè. - Hay vậy, bà chế cách nào? - Lấy cồn chế vào gel aloes Một câu hỏi loé lên trong đầu Sao Khuê: Pha Như Vậy Có Đúng Không? Sau đó có nhiều youtube chỉ cách dùng cồn cho vào gel nhưng chúng ta dường như bỏ quên yếu tố quan trọng là nồng độ cồn… Sau này cồn càng ngày càng khó tìm vì có chai nào trên kệ là ngay tức khắc, nó biến mất ngay. Những người có trách nhiệm chỉ thêm cách dùng Bleach hay Eau de Javel tức hypochlorite căn cứ trên tác dụng diệt khuẩn của chlor và cũng nói đến cách pha loãng bleach. Sao Khuê sẽ cùng pha với các bạn nhé. Pha cồn Hồi đi học dược, Sao Khuê phải học “Mouillage d’alcool” tức là pha loãng alcool. Bây giờ bạn có thể tìm thấy công thức pha cồn (cồn cũng là rượu, nhưng người Việt dùng để phân biệt với chữ rượu để uống, người ta uống rượu nhưng xoa cồn) với Eau de Javel (Bleach) bằng cách Search trong Google tiếng “mouillage
d’alcool”. Bạn thân mến ơi, chúng ta không nên pha đại vì nồng độ sẽ không đúng và không còn tác dụng nữa đấy. Chúng ta áp dụng công thức sau cho tất cả những chất lỏng muốn pha: T1V1 = TV V viết tắt chữ volume tức dung tích hay lượng chất lỏng và T là titre tức nồng độ cồn tức độ alcool T1, V1 là độ mạnh và dung lượng chất lỏng để pha, thường là cồn 90 hay 99 độ hoặc Javel hay Bleach có 2 hay 5% hypochlorite de sodium. T, V là độ mạnh và dung lượng chất lỏng muốn có thường là cồn 70 độ . Từ cồn 90 muốn pha thành cồn 70 chúng ta theo công thức: 90 x V1 = 70 x 100 V1= (70 x 100):90 V1= 77.78 ml Như vậy từ 77.78 ml cồn 90 độ, ta pha thêm (100.00-77.78=) 22.23 ml nước thì có 100 ml cồn 70 độ). Lối tính này cho nhiều số lẻ nên giản dị hơn nữa, từ công thức trên ta tính: * Nếu có cồn 90 độ thì tỷ số là 70/90, ta lấy 70 ml cồn 90 thêm 20 ml nước, ta có 90 ml cồn 70 (9070=20) * Nếu cồn 99 độ thì tỷ số là 70/99, pha 70 ml cồn 99 với 29 ml nước thì có 99 ml cồn 70.(99-70=29) * Nếu cồn 91 độ thì từ tỷ số 70/91 , ta pha 70 ml cồn 91 với 21 ml nước thì có 91 ml cồn 70 (91-70=21) Dễ ẹc ấy mà, đúng không bạn thân mến? Các bạn đổ từ từ cồn vào nước. Do hiện tượng toả nhiệt không được đổ nước vào cồn. (Khi đi học thì không dùng hết lượng nước mà chừa lại để sau đó châm thêm cho đủ, do các phản ứng toả nhiệt, bay hơi làm ảnh hưởng). Với Bleach, chúng ta cần đọc nồng độ nguyên thủy trên nhãn chai, thường là 5% hay 2% hypochrorite (sodium hypochorite) Người ta khuyên chúng ta pha 1/3 cup (5%) trong 1 gallon nước lạnh, chú ý nước lạnh. Nước nóng làm chlor bốc hơi. Giản dị hơn 25 ml bleach trong 1 lít nước (không có dụng cụ đo thì cho 1 muỗng canh- 30 ml- cũng chỉ hơi dư một tí, tạm ổn). Sao Khuê đố các bạn biết dung dịch Bleach pha xong này nồng độ là bao nhiêu? Dễ quá Bleach đầu tiên là 5% tức 100ml ——- có ——-5 g Ta lấy 25 ml pha ra 1000 ml hay 2.5 ml cho 100 ml Vậy 100——-5 2.5 —— ? , áp dụng quy tắc tam xuất thì ? = (5x2.5): 100= 0.125 Dung dịch ta pha để dùng có nồng độ là 0.125% Tội nghiệp chưa, bạn điên đầu rồi.? còn tí nữa thôi Nếu bạn chỉ có Javel 2% thì cũng áp dụng T1V1= TV mà tính 2xV1 = 0.125 x 1000
Con số này ở đâu ra? HIHI, bạn quên nồng độ Javel là 2%. (T1) còn nồng độ muốn pha T là 0.125 mình vừa tính ra đó, và 1000 là lượng Javel muốn pha ( V) Vậy V1= (0.125x1000):2 = 62.5 ml , hơn hai muỗng canh một chút, Tội nghiệp quá, thôi thế này nhe: Pha với Bleach 5%. Thì 25 ml cho 1 lít nước (cho đại 1 muỗng canh) Pha với Javel. 2% thì 62.5 ml cho 1 lít. (cho 2 muỗng canh thật đầy hay 2 muỗng canh và ¼ muỗng cà phê javel 2%) Bật mí, Sao Khuê đã vừa là dược sĩ vừa là giáo sư lý hoá cấp ba. Chúng ta dùng dung dịch Bleach hay Javel để sát trùng đồ đạc, hay các bao thức ăn mua từ chợ về còn trong bao. Lau bao ngoài, đợi khô, xả nước rồi mới cất. Thông thường pha đủ dùng trong ngày thôi, để lâu chlor bay hơi, giảm tác dụng. Khi lau chùi, trước hết lau khô đồ vật, lau bleach pha loãng để 10 phút rồi lau khô lại kẻo hư kim loại như nắm cửa. Bleach làm bay mầu vật dụng đấy nhé. Xà bông chỉ để rửa tay. Lạm dụng xà bông rửa trái cây hay đồ ăn có thể gây ngộ độc. Chúng ta có thể lau chùi trong nhà với Lysol hay nhiều chất sát trùng bán sẵn. Với peroxide, trước hết chúng ta cần phân biệt có hai nồng độ peroxide trên thị trường, đó là 30 volume để nhuộm tóc và 10 volume (3%) để sát trùng như rửa vết thương. Giống như bleach, peroxide làm bay mầu vải vóc nên cần cẩn thận. Ta xịt thẳng peroxyde lên vật, như nắm cửa, để ít nhất 1 phút mới an toàn. Dấm, dầu trà hầu như không có tác dụng diệt khuẩn Corona. Dấm rất tốt để trị nấm trên thành cửa. Không nên đun sôi dấm để khử trùng, dấm là chất acide, hít vào không tốt . Hàng ngày cần chùi quầy bếp, núm cửa, vòi nước ngày ba lần. Khi dùng xà bông phải chà 20 giây để làm vỡ vỏ vi khuẩn, xà bông tự nó không diệt khuẩn (virus) , chỉ diệt trùng (bacteries) Các bạn càng không nên mua Vodka, chỉ 40 độ thôi đấy ạ mà đắt nữa. Tóm lại những chất dùng diệt khuẩn là: 1. Chất nào chứa cồn đủ 70 độ. 2. Bleach hay Javel pha loãng Khi dùng bleach, pha đến đâu dùng đến đó, không để qua ngày và nhớ chùi khô trước rồi mới chùi bleach, để 10 phút mới chùi khô lại. 3. Khi dùng peroxyde 3% ta xịt thẳng lên vật lau khô (vừa nhanh vừa gọn để chùi vòi nước, nắm cửa, bàn cầu… ) nhưng bạn thân mến phải chờ vài ba phút mới lau lại, nếu cần. 4. Giản dị, rẻ, hiệu nghiệm là lau, chùi rửa với xà bông và nước nóng. Quan trọng là xoa hay chùi trong 20 giây, rồi mới xả hay lau lại với nước nóng.
Người ta khuyên chùi rửa ngày 3 lần quầy bếp cơ đấy, bạn thân mến. Câu hỏi là mình không ra khỏi nhà có cần chùi rửa ngày ba lần không? Ô hay ! bạn ăn mấy lần trong ngày vậy nhỉ? Vậy ăn xong là rửa, là chùi, chùi nhiều càng sạch, chỉ mau hết xà bông thôi! Quan trọng là đừng đi ra ngoài, nhưng lỡ phải đi thì sao? KHI ĐI RA NGOÀI 1. Mang găng tay, đeo mặt nạ, giữ khoảng cách 1-2 mét. Găng có thể tự chế, dĩ nhiên không đủ tiêu chuẩn nên vẫn phải cần cẩn thận. 2. Về nhà, bỏ quần áo, khăn quàng, găng … giặt nước nóng, sấy nóng. 3. Găng cao su, có thể rửa như rửa tay, 20 giây với xà bông rửa chén, xoa kỹ, xả nước, vẩy khô, tháo ra, rửa tay. Nào ta cùng rửa tay tay tay Nhớ xoa kỹ hai mươi giây giây giây Đừng quên ly nước nóng đây này này này Uống nước luôn, nhưng không cần uống nhiều. Sao Khuê hẹn kỳ tới với …..Quả chanh nhe Thân mến tạm biệt. Sao Khuê SXH 002 Sao Khuê Quý vị tưởng Sao Khuê đổi để tài, viết chuyện trinh thám với thám tử SXH 002? Không phải đâu. SXH 002 là biệt hiệu con trai út của Sao Khuê đó. Tên này do cậu họ cháu, tức em họ Sao Khuê, bác sĩ Cường đặt cho cháu đấy. Nay nhân mùa dịch cúm và ngày lễ Mẹ, Sao Khuê kể cho quý vị nghe chuyện mùa dịch năm xưa. Tại Saigon năm 1984, vào mùa mưa trẻ con bị sốt xuất huyết chết nhiều nhất từ trước đến giờ, tạo thành cơn dịch làm đau lòng đứt ruột bao nhiêu người làm cha mẹ.Thủ phạm gây sốt xuất huyết là vi khuẩn virus Dengue. Virus Dengue không thể lây trực tiếp từ người sang người. Nó được truyền từ người sang người qua vết đốt của muỗi cái Aedes aegypti. Quý vị có biết là chỉ muỗi cái mới chích người không? Theo sự tích, muỗi cái phải chích người ta để lấy cho đủ ba giọt máu thì được trở lại làm người nhưng muôn đời nó không thể nào có ba giọt máu. Muỗi đực cam phận chỉ hút nhựa cây cỏ mà sinh tồn. Bạn túm cổ được con muỗi, con nào râu ria xồm xoàm là muỗi cái đấy. Ngày còn đi học, Sao Khuê thường nhìn con muỗi sốt rét Anophèle qua kính hiển vi mà, đầu nó mang hai hàng râu sum suê như cọng lá dừa. Muỗi gây sốt xuất huyết đốt người nhiều nhất lúc sáng sớm và chiều tối. Ba đứa nhỏ nhà Sao Khuê ngủ trên gác, sàn gỗ, hèn chi nhiều giống muỗi Aedes. Mặc cho Sao Khuê hàng đêm thức giấc soi muỗi hai, ba lần với cây đèn dầu hôi mà kết quả con vẫn mắc bệnh vì bị muỗi vằn chích. Muỗi Aedes aegypti, hay còn gọi là muỗi
vằn do có vằn trắng trên cơ thể, sống trong nhà, gần khu vực có nhiều người. Muỗi thường trú đậu nơi có ánh sáng mờ hay chỗ tối trong nhà. Chúng ít khi đậu trên tường. Chúng thường núp ở mặt dưới của đồ gỗ; quần áo treo, rèm treo trong phòng ngủ, nhà vệ sinh, phòng tắm và bếp, tủ, hốc, gậm giường, để tránh gió, mưa và các loài ăn thịt khác, giúp chúng sống lâu hơn và truyền bệnh cũng nhiều hơn. Muỗi gây bệnh sốt xuất huyết đẻ trứng vào những dụng cụ chứa nước trong nhà và khu vực quanh nhà có nước đọng như chai lọ, thùng bỏ không, rác thải, vỏ xe hỏng đọng nước... Trứng nở khi tiếp xúc với nước nên mùa mưa chúng sinh sôi nấy nở rất nhiều nhưng trứng muỗi cũng có thể chịu được điều kiện rất khô và sống trong suốt nhiều tháng mùa khô. Trong suốt vòng đời, muỗi cái đẻ tới 5 lần, mỗi lần hàng chục trứng… … Sau khi Việt Cộng vào, nhà thuốc tây bị đóng cửa, Sao Khuê chuyển sang nghề dạy học. Từ trường Văn Lang, chuyển về trường Võ trường Toản và sau cùng là trường Bùi thị Xuân. Hiệu trưởng Bùi thị Xuân là đảng viên mặt sắt đen sì, “bôn xê vít” nặng nên theo sát chỉ thị của “trên” để đì giáo viên. Sao Khuê thuộc loại cứng đầu, bất mãn ra mặt nên dù đi thuỷ lợi cũng lấy cớ con nhỏ, đứng ngó chứ không làm, vì thấy vô lý, vô ích quá. Khi trường bắt đầu giảm biên chế (giảm người) thì hắn đổi Sao Khuê về bên Thanh Đa. Thực ra nhà Sao Khuê ở khu Nguyễn bỉnh Khiêm, đầu xa lộ thì sang Thanh Đa gần hơn, nhưng lấy cớ bị đổi Sao Khuê xin nghỉ luôn. Nhà có một công nhân viên chức là ông xã Sao Khuê tạm đủ rồi, Sao Khuê ra ngoài, tính chuyện vượt biên cho dễ. ...Dù là dược sĩ Sao Khuê không thành công khi chạy thuốc Tây nên Sao Khuê về phụ mẹ bán cà phê trên lề đường. Ấy thế mà từ khi Sao Khuê làm sữa đậu nành bán ké thì quán cà phê của bà Giáo rất đông khách. Sáng đó, khoảng 10 giờ sáng thì ông hàng xóm chở con trai lớn của Sao Khuê đến quán (cháu đi theo để chỉ đường): - Cô ơi, cô về gấp, chở thằng Út nhà cô đị bệnh viện. Nó muốn xỉu rồi đó. Hồn vía lên mây, Sao Khuê quăng hết, đạp vội về nhà. Cu Út mặt đỏ, nóng như lửa, lừ đừ. Bắt con ngồi sau xe và ôm chặt mẹ, Sao Khuê đạp lấy đạp để mang con đến nhà thương Grall, bấy giờ là bệnh viện nhi đồng 2. Mùa mưa, số trẻ mắc bệnh gia tăng khiến tại hai bênh viện nhi đồng, trẻ và cha mẹ năm la liệt từ trong phòng ra ngoài hành lang. Bệnh viện Grall của Pháp, sau khi Việt Cộng vào được chuyển thành bệnh viện Nhi đồng 2, tuy sạch, thoáng nhưng cũng đông nghẹt… Sao Khuê chờ đến chiều mới có bác sĩ vào khám. Ông lạnh như tiền, lăn thằng nhỏ như lăn khúc cây, hết sấp lại ngửa, hết kéo quần lại vạch áo, ấn tay vào mu bàn tay, dí mắt vạch tai, soi miệng… Sau cùng ông cho Út vào phòng nằm và cho chút thuốc giảm sốt. Eo ôi! bà con cho biết là đứa trẻ nằm giường này vừa chết trưa nay. Sao Khuê chưa kịp tỉnh hồn thì nghe xôn xao: - Ui trời! thằng nhỏ xỉu rồi, Bác sĩ chạy vào nhưng không kịp nữa rồi. Sao nó chết dễ dàng thế nhỉ. Hồi trưa, lúc mang con vào Sao Khuê còn thấy nó, khoảng 10 tuổi, béo tròn, trắng bóc, người Tầu, đi dạo ngoài sân cùng hai người chị, vậy mà bây giờ, chưa chữa trị gì nó đã ra đi, mặc cho người nhà vật vã khóc lóc kêu gào. Trời ơi là Trời! Quý vị ngạc nhiên là đứa trẻ vào đến nhà thương mà sao không trị để cho cháu bé bị chết? Bệnh sốt xuất huyết không có thuốc trị và người ta chỉ hỗ trợ sau khi xác nhận bệnh đích thực là sốt xuất huyết và khi tình trạng trở nên xấu bằng cách truyền dịch, nước biển hay plasma. Với triệu chứng sốt cao dễ nhầm với các bệnh khác, khi khám bệnh, bác sĩ tìm những mẩn đỏ trong người. Sốt xuất huyết lại giống như ban đỏ (lên sởi). Đó là cái khó khăn cho bác sĩ để quyết định đúng bệnh mà trị liệu. Đôi khi phải chờ có triệu chứng xuất huyết mới truyền nước biển và truyền dịch là cách duy nhất để điều trị sốt xuất huyết.
Cu Út bắt đầu đau bụng. Trong nước ói ra và phân có mầu đen. Các mẩn đỏ xuất hiện trên người. Vậy đích thực là sốt xuất huyết rồi. Cháu bắt đầu mê sảng. Bác sĩ cho truyền nước biển. Chỉ vài phút sau cháu lên cơn co giựt. Sao Khuê có người em trai mất vì phong đòn gánh lúc 4 tuổi; những giờ cuối cùng em rất đau đớn, người cứ cong lại như cái đòn gánh, thương đứt từng khúc ruột. Cu Út không cong mà chỉ co giựt, chắc không phải phong đòn gánh. Bác sĩ chạy vào, ông cho ngừng nước biển, sau đó cho truyền plasma (huyết tương). Huyết tương là chất lỏng, chiếm 55% - 65% dung tích của máu, là chất có được sau khi lấy hồng huyết cầu, bạch huyết cầu và các tiểu cầu ra khỏi máu. Trong huyết tương có chứa muối và những diếu tố (enzyme) cùng những kháng thể. Huyết tương được truyền vào trong người để giúp việc điều trị phỏng nặng, bị shock… Tưởng vậy là yên, ai dè chưa được nửa bình Út lại giựt đùng đùng. Bác sĩ lắc đầu, tuyên bố, không hy vọng, mạng sống như chỉ mành treo chuông: 1/1000. Cần truyền dịch mà Út lại dị ứng cả hai, đâu còn cái gì mà điều trị. Lạ một điều bác sĩ nói gì thì nói, Sao Khuê tuy lên ruột nhưng không buồn. Ừ! hay là huyết tương xã hội chủ nghĩa dổm vì huyết tương được chế từ phòng thí nghiệm Liên Sô? Cô em dâu, dân Bắc 75 vội chạy đi nhờ chỗ quen tìm huyết tương của quân đội trong tổng tham mưu, may ra còn thứ tốt. Hai cô bạn thân của Sao Khuê cũng ra chợ Trời tìm mua huyết tương từ ngoại quốc gửi về. Sao Khuê bắt đầu niệm Phật. Hồi nào đến giờ, Sao Khuê chỉ thuộc mỗi bản kinh “Bạch y thần chú” thỉnh được từ trên chùa khi Sao Khuê theo bà ngoại đi chùa. Sao Khuê đọc kinh liên tục và khấn Phật Quán Thế Âm xin cho Út khỏi bệnh thì Sao Khuê sẽ ăn chay một tuần. Khi Út bị shock, Sao Khuê vội khấn Phật, xin ăn chay gấp đôi là 15 ngày. Bây giờ Út mê man. Hai bên cạnh giường Út là mẹ và cậu Cường, bác sĩ mới ra trường 1975, Sau khi đi tù về, Cường khám tư trong Chợ Lớn với người bạn. Cậu bỏ cả phòng mạch và bệnh nhân, túc trực bên cháu. Tối cậu còn được về ngủ, còn mẹ thì ngày đêm, quên cả ăn, không ngủ, ban đêm chỉ chợp mắt ít phút rồi lại giật mình tỉnh dậy vì sợ con chết khi mình ngủ quên. Trên người Út bao nhiêu là dây nhợ mà mỗi lần tỉnh dậy là Út quơ và giựt hết dây ra nên cần người giữ hai tay lại. Cháu rất gầy ốm, lấy ven rất khó. Ông bà ngoại, các dì, cô và bạn mẹ vào thăm. Từ 1974 Sao Khuê đã mua được một căn nhà nhỏ trên đường Tự Đức, mà ra khỏi hẻm 16 căn phố là nhà chú thím chồng, xích xuống cuối đường, đối diện “Nguyễn Chí dược cuộc” là nhà cô chú ruột Sao Khuê, vòng qua hẻm bên Nguyễn bỉnh Khiêm là nhà cô ruột, mẹ bác sĩ LMC và Thu Tâm, em họ, bạn học với Sao Khuê từ nhỏ đến lớn, cũng là dược sĩ. Sao Khuê phải dông dài vì quý vị sẽ ngạc nhiên vì sao con Sao Khuê nằm bệnh viện mà lắm người thăm thế, do họ hàng ở gần nhau. Từ khi bác sĩ tuyên bố sự sống của Út chỉ còn 1/1000 thì mọi người ở gần vào thăm, anh rể họ cho mượn xe honda. Xe của Sao Khuê thì ông xã làm mất ngay tháng tư 1975, công xa thì trả cho sở, hai vợ chồng cọc cạch hai xe đạp. Bà thím chồng vào thăm và tất cả các cô chú con thím cũng vào. Nhà thím có ba bác sĩ, một dược sĩ thành ra quanh Út toàn là bác sĩ và dược sĩ. Các cô y tá nhận ra thím. Thím là thầy dạy các cô. Từ đó Út được hưởng quy chế đặc biệt. Hai anh họ của Sao Khuê mắc mùng ngủ dưới chân cầu thang, xe honda để ngay bên để hễ Út trở bệnh thì đi mời bác sĩ ngay. Ông bác sĩ khó chịu này, theo các cô y tá là bác sĩ giỏi nhất khoa nhi. Ông rất được trọng vọng và họ đặc cách cho ông không phải trực gác ban đêm nhưng do tình đồng nghiệp với các em họ Sao Khuê, ông ân cần dặn: - Bất cứ lúc nào, ngày hay đêm, hễ cháu trở bệnh thì cho người đến tìm ngay. Cô em dâu tìm được huyết tương xịn mang về. Mọi người thở phào. Đến nửa đêm, được nửa bình thì Út lại giựt. Sao Khuê la làng. Ông anh họ ngủ ngoài hành lang vội phóng xe đi tìm bác sĩ. Sao Khuê vội cầu Quan Thế Âm và hứa ăn chay 30 ngày, tăng gấp đôi rồi đó. Mô Phật. Ông bác sĩ lắc đầu chán nản. Ông chích mũi thuốc chống dị ứng. Út đau bụng và trong ống thoát phân vẫn thấy mầu đen do bao từ vẫn chảy máu. Đột nhiên Sao Khuê nhớ ra trong thùng thuốc từ Canada gửi về có hộp thuốc chích Solucortef. Thuốc này Sao
Khuê đã chích vài ống sau khi sanh con trai lớn, cháu thứ hai. Sau khi sanh đại tiểu thơ thì nàng khóc dạ đề, cứ 5 giờ chiều là mở máy, khóc quằn quại, khóc rất to như ra dô mở hết cỡ nghe rõ từ trong xóm đến đầu đường. Tiểu thư khóc đúng ba tháng mười ngày đủ để ruột gan mẹ đứt đoạn thì ngưng. Bà nội Sao Khuê rất sót cho Sao Khuê mà không làm gì được. Đến đại công tử, cậu rất rất ngoan, ngủ một mình trong giường nhỏ. Chị người làm rất thương cậu, chui tọt vào gầm giường ngủ, hễ em ọ ẹ là đút ngay ngón tay cái của em vào miệng khiến lên đại học công tử còn bú tay! Sau một tháng công tử bỏ bú đêm và đái đêm nhưng mẹ công tử bị dị ứng hành. Dù rất ăn kiêng theo đúng quy chế bà đẻ, vậy mà không hiểu tại sao cứ đúng 5 giờ chiều, lại 5 giờ chiều, là cả người Sao Khuê ngứa. Mề đay nổi từng dề, ngứa kinh hoàng mà uống thuốc không hết, ngủ không được đến sáng thì mề đay lặn. Sau vài tháng, Sao Khuê đến một bác sĩ khác, vị này chích cho hai, ba mũi Solucortef là hết bệnh luôn. Solucortef là một corticosteroide trị dị ứng rất công hiệu và có nhiều ứng dụng khác nữa… Sao Khuê bèn hỏi bác sĩ : - Hiện tôi còn một hộp solucortef mới gửi về, bác sĩ nghĩ sao. Mặt bác sĩ sáng hẳn lên : - Tốt quá! Kể cũng lạ, Sao Khuê bán hết thùng thuốc do chị dâu chồng gửi về hàng tháng, chả hiểu sao lại giữ lại hộp này vì thấy lạ. Bà chị chả biết gì về thuốc mà bà dược sĩ bán thuốc khi sửa soạn thùng thuốc gửi về chỉ căn cứ vào thị trường Việt Nam, thuốc nào lời thì bán. Số Trời và may là sao Khuê biết thuốc. Với solucortef truyền vào cùng plasma, cơ thể cu Út êm rơ. Coi nè, nước vào, hắn mập tròn quay, trắng bóc ra, trông đẹp trai dễ sợ. Ngày nay, hắn cao và đẹp như… Ả Rập nhờ bộ râu quai nón. Vài ngày không cạo râu mà qua Mỹ chơi dám bị giữ lại vì trông hắn giống khủng bố Ả Rập! Từ khi sinh ra, tháng 8 năm 1975, mẹ thiếu ăn mà con chỉ bú mẹ, không chịu bú bình, mà mẹ Út ngu, không lấy sữa bột của con mà uống thì làm gì có sữa cho con bú, kết quả là Út gầy như que tre, lọt tõm trong giỏ xe đạp dù 1-2 tuổi. Bây giờ hắn nằm im, ngủ li bì, nhưng người hắn, sao thế này, cứ trướng lên. Cậu em giật mình: - Thôi rồi! thận không chịu làm việc. Cậu vội chích lén cho cháu mũi thuốc lợi tiểu. May quá, người xẹp từ từ, thận chưa hư. Chẳng hiểu tại sao bác sĩ lại cấm cho Út uống nước nên thỉnh thoảng Sao Khuê chỉ xoa miệng con bằng bông gòn ẩm. - Con khát nước. - Không uống được con ạ. - Cho con một tí thôi. - Một tí cũng không được con ơi, để mẹ xoa xoa nước thôi. Bác sĩ dặn uống là chết con ạ Út nằm im ngủ quên nhưng tỉnh dậy là đòi uống: - Cho con uống đi, con khát quá. Chết cũng được… Hắn ngủ mê và gọi bà hàng xóm vẫn bán nước đá cục - Bà cụ ơi! Bán cho con đồng nước đá. Sao Khuê giả bộ: - Hết nước đá rồi, mai mới có. - Cho con một cục cũng được, cục nhỏ xíu cũng được Một bà mẹ bên cạnh thấy vậy đùa: - Hết nước rồi, chỉ còn xăng thôi. - Xăng cũng được, cho con một hớp thôi mà. Các bà mẹ trong phòng thấy Sao Khuê mải lo giành giựt con với thần chết đến quên ăn, quên ngủ, người thì cho ly sữa, kẻ cho mẩu bánh. Cô em họ chồng M Nguyệt, là bạn học chung trường dược mang và bóc bánh giò cho ăn. Sao Khuê sống trong tình thương đầy ắp của họ hàng và người chung phòng. Phòng này trước 1975 chỉ có một người, bấy giờ được đặt 4,5 giường bệnh mà nhiều khi hai trẻ còn phải nằm chung một giường. Phần Út, không được ăn gì nhưng bắt đầu được nhâm nhi tí nước. Bác sĩ cho uống một muỗng rồi tăng dần, Sao Khuê vẫn chưa tìm hiểu tại sao không cho uống, có lẽ sợ xuất huyết trở lại hay đợi vết lủng bao tử lành chăng? Cu anh, ở nhà vẫn dợt nhau với em để rồi cả hai đều bị đòn, trong lúc em đau đã tự động thắp nhang, cầu nguyện. Bà chị cả, 14 tuổi cáng đáng mọi việc, đi chợ, giặt giũ nấu ăn, trông và dậy
em học trong lúc ông bố sau giờ làm việc là vào nhà thương để ngó. Máu ngưng chảy, bác sĩ tiếp tục truyền plasma pha solucortef. Một cháu gái gầy còm, khoảng 6, 7 tuổi được bố cõng vào. Trông họ lam lũ vô cùng. Bà mẹ chắc lo buôn bán và chăm lũ nhỏ nên trước sau cũng chỉ có ông bố trông nom. Con bé này nhỏ nhít mà chửi thề kinh hoàng. Mỗi khi mở miệng thì ít nhất một câu chửi tục kèm một câu nói. Cháu gái này cũng được truyền huyết tương và bị shock y như Út. Sao Khuê cho mượn một ống solucortef nhờ vậy cháu này qua cơn nguy hiểm trong khi hầu như một hai ngày lại mất đi một cháu nhỏ, cha mẹ lại vật vã khóc lóc ở phòng bên. Bác sĩ muốn mượn thêm một ống nữa cho chắc nhưng Sao Khuê từ chối, muốn giữ hai ống còn lại phòng xa. - Xin bác sĩ bảo họ tìm ngoài chợ Trời, tôi không dám cho mượn tiếp vì tình trạng con tôi chưa biết ra sao. Bác sĩ gật gù đồng ý và cháu gái kia không bị dị ứng nữa Cuối cùng sau 10 ngày vật lộn với tử thần, Út tỉnh lại, bác sĩ thấy thiếu máu, truyền cho bịch máu và được cho về. Hai mẹ con ăn ngủ cho lại sức. Sao Khuê nhớ tới lời hứa ăn chay: - Chít cha ngộ rồi, mấy nị ơi - Chuyện gì ? Hai con bạn thân là Hồng Điệp và Lựu đạn (tên là Lựu nhưng bị hai đứa này gọi là Lựu đạn) cùng hỏi. - Ta hứa ăn chay 30 ngày. - Thì ăn đi! - Tối đa ta ăn được…3 ngày. Hai đứa ăn phụ ta. - Không được, mi khấn và hứa thì chính mi phải ăn. - Huhu… Ah! ta nhớ ra rồi. Ta khấn 30 ngày chứ không phải một tháng - Hả, ba mươi ngày không phải là một tháng à? - Phải mà không phải….Hihi... - Ấm ớ! - Ta sẽ ăn ba ngày, nghỉ vài ngày lại ăn tiếp…cứ vậy đến khi đủ ba mươi ngày. Sao Khuê hý hửng với khám phá kỳ diệu này thì bị cả hai mắng: - Cà chớn, hết mặc cả với Phật, giờ còn gian lận. - Không gian, chỉ lận thôi, mập mờ đánh lận con đen. May phước ta khấn ba mươi ngày. - Có khấn một tháng mi cũng lý sự: Phật ơi, một tháng là ba mươi ngày, chắt chiu từng ba ngày con sẽ đủ ba mươi ngày ăn chay… - Đâu phải tại ta? Tại cái lưỡi, nó không chịu ăn, nó không thuộc về ta, nó…vô ngã, ta bảo nó không nghe. Nó chỉ ăn cái gì hợp gu nó, nó còn hay phát ngôn bừa bãi làm mích lòng người khác… Bởi gian lận nên Trời phạt, vài tháng sau. Út lại sốt, có mẩn đỏ. Sao Khuê cõng con vào nhà thương mà hai chân nhũn như bún, lết mãi mới vào được phòng khám. Cháu cũng được nhập phòng theo dõi. May quá, năm ngày sau qua khỏi được bác sĩ cho về. Lần này không phiền ai cả. Cậu cháu biết chuyện, mỗi lần sang chơi, gọi Út là thằng SXH002 tức là sốt xuất huyết 002 . Nhà Sao Khuê, hai mụ bạn Sao Khuê và cậu em gần nhau, tuần vài lần họ đều đi bộ hay đạp xe qua nhà Sao Khuê nói dóc hay ăn nhậu vì lúc đó Sao Khuê đã có xuất cảnh đi Canada, nghỉ bán cà phê, ở nhà học sinh ngữ và ăn chơi. Sao Khuê rời quê hương năm 1985, lần lượt đến Lựu đạn đi Pháp, Cường đi Hoà Lan, và mụ lùn đi Mỹ. Dĩ nhiên tình thân vẫn còn và hai mụ là hai người bạn tốt nhất trên đời. Sau 1975 Sao Khuê dùng nhà Hồng Điệp để đổ gạo buôn lậu bằng công xa của ông xã, làm địa điểm xuất phát vượt biên. Ra ngoại quốc, hai đứa là đại sứ của Sao Khuê, lo phụng dưỡng các bà cô của Sao Khuê ở Pháp và Mỹ. Tụi này vẫn mày tao chi tớ. Hồng Điệp sanh một con gái, lấy tên Sao Khuê đặt cho con và dĩ nhiên là con nuôi hờ của Sao Khuê. Đáng sợ nhất trên đời bà mẹ là con bệnh, kinh khủng nhất trên đời bà mẹ là mất con và buồn nhất trên đời mẹ là con hư…. Ngay khi có đồng lương đầu tiên Sao Khuê gửi quà về cho gia đình, hai mụ bạn, em họ và nhất là ông bác sĩ cùng các cô y tá. Ông bác sĩ hút thuốc nên trên bật lửa gởi tặng khắc chữ “Tri ân bác sĩ” - dĩ nhiên khắc ở
Việt Nam. Các cô y tá chỉ xin những cây kim chích đầu ngón tay để lấy máu các bệnh nhân. Tội nghiệp, dưới chế độ ưu việt, cái kim bé tí phải dùng hàng chục lần, mài đi mài lại, cùn mới vất đi... Sao Khuê bận lăn vào cuộc sống, đi làm đi học nên cũng chỉ thăm hỏi được vài lần rồi thôi nhưng chính ông bác sĩ Giỏi đã lần nữa cứu cháu đích tôn của ba mẹ Sao Khuê thoát chết, cũng sốt xuất huyết khi ở tại căn nhà Sao Khuê để lại cho các em. Cậu đích tôn nay cũng có vợ con và ở Montreal cùng với Sao Khuê. Năm xưa, virus Dengue hoành hành ở trẻ con, đến bây giờ vẫn đến hẹn lại lên ở Việt Nam, cháu nào khỏe thì khỏi. Có lẽ rồi đây loài người sẽ phải tập quen sống với Corona, ai khỏe thì sống... Mấy chục năm trôi qua, bây giờ ai cũng già cả rồi. Út ra trường theo đạo Vợ, ở xa, lâu lâu mới về thăm nhà. Lần sau Sao Khuê kể chuyện Út lấy vợ cho quý vị nghe nhe. Happy mother day Ngày lễ Mẹ tháng 5 năm 2020 Sao Khuê Viên Thuốc Calcium Thưa quí vị, hàng ngày khi vào toa thuốc của quí vị, Sao Khuê nhận thấy quí vị lớn tuổi thường được bác sĩ thương mến ghi thêm cho viên thuốc calcium và vitamine D. Vậy calcium và vitamine D để làm gì mà bác sĩ lại bắt quí vị uống và phải uống thế nào cho đúng cách? Như quí vị đều biết, calcium giữ nhiệm vụ thiết yếu trong cơ thể. Calcium là nồng cốt của xương, răng và calcium cũng còn hiện diện trong tất cả các tế bào với nhiệm vụ dẫn truyền thần kinh, co dãn cơ bắp, đông máu, tạo xương… nên muốn sống còn thì hàng ngày chúng ta phải nhớ cung cấp đầy đủ xương cho cơ thể. Sau khi ăn, những thức ăn chứa calcium hay calcium được chuyển đến dạ dày. Môi trường acide của dạ dày tách hợp chất calcium trong thức ăn để có calcium dước dạng ion Calcium: Ca++. Kế đó calcium đến ruột, Sao Khuê
ruột có tính kiềm nên làm calcium tan để hấp thu vào máu hay đóng cặn để loại ra qua phân. Chính vì calcium cần môi trường acide của dạ dày để được tách ra dưới dạng ion calcium thì mới tan và hấp thu được nên calcium cần được uống lúc ăn cơm. nếu không có môi trường acid thì số lượng calcium được đưa vào cơ thể sẽ rất ít. Chỉ lúc ăn cơm, dạ dày tiết ra dịch vị có tính acide làm tiêu thức ăn mới biến calcium uống vào thành ion Ca++. * Sự hấp thu của calcium cũng còn chịu ảnh hưởng của: - Kích thích tố giáp trạng tuyến. - Tuổi tác: càng già càng giảm hấp thu calcium vì thế người lớn tuổi như Sao Khuê phải uống calcium và vitamine D. - Lượng vitamine D: vitamine D làm tăng 30-80% sự hấp thu calcium, đó là lý do tại sao phải dùng calcium chung với vitamine D. - Kích thích tố Oestrogènes: hấp thu calcium giảm ở phụ nữ sau khi tắt kinh. Do lượng oestrogène giảm nên bà già cần calcium hơn ông già. * Thải calcium khỏi cơ thể: Sau khi qua ruột, một phần calcium được hấp thụ, phần còn lại được thải qua nước tiểu và qua phân. Lượng Calcium thải ra qua phân tuỳ thuộc vào lượng muối (sodium) và thịt ăn vào và ngay cả lượng cà phê uống vào. Nếu uống quá 300mg cà phê một ngày sẽ có nhiều nguy cơ bị rỗng xương. Khi qua thận 65% calcium sẽ được tái hấp thu mà trở lại máu nên nếu suy thận cũng thiếu calcium luôn! * Lượng calcium trong cơ thể: Calcium cũng như đường, không thể dư, không thể thiếu. Dư hay thiếu đưa đến: - Chứng thiếu calcium trong máu (hypocalcémie): những rối loạn của giáp trạng tuyến, lượng vitamine D không đầy đủ, thận suy gây ra chứng thiếu calcium trong máu khiến ta bị chuột rút, bứt rứt khó chịu, tăng huyết áp, bắp thịt giựt giựt nháy mắt, máy môi... Thiếu magnésium cũng đưa đến thiếu calcium. Khi uống quá 2,3 ly cà phê mỗi ngày hoặc ăn nhiều muối cũng đưa đến thiếu calcium. - Chứng thừa calcium trong máu (hypercalcémie): khi cơ thể hấp thu quá 20g calcium mỗi ngày hay dùng quá 5000g calcium thì có thể bị ngộ độc. Khi chúng ta có dư magnésium thì chúng ta cũng có thể bị dư calcium trong máu đưa đến suy thận hay rối loạn thần kinh.Tóm lại calcium phải vừa vừa, không dư không thiếu vì dư hay thiếu đều gây bệnh. * Người già hay con nít cần nhiều calcium hơn người đã trưởng thành. Để có đầy đủ lượng calcium cần thiết cho cơ thể chúng ta cần ăn những chất có chứa nhiều calcium như sữa và các phó sản của sữa: yagourt, fromage… Chúng ta cần từ 2 đến 4 khẩu phần sữa mỗi ngày. Quí vị nào sợ cholestérol trong sữa thì dùng sữa đã loại bỏ kem (écrémé) vì lượng calcium trong các loại sữa đều như nhau kể cả loại sữa không có lactase dành cho người dị ứng sữa; họ chỉ bỏ chất béo hay enzyme thôi quí vị ạ chứ calcium còn y nguyên, cứ 250ml sữa thì có được 300mg calcium như bảng sau đây:
Thức ăn Sữa đậu nành có cho thêm calcium và vitamine Sữa nguyên chất hay loại bỏ crème Yagourt các loại Crème glace Fromage cottage 1%-2% Fromage mozzarella Tofu Pain de blé entier Orange Haricots verts et jaunes frais ou cuits Khẩu phần 250ml 250ml 175ml 1 250ml 3cm 84g= 3 oz 2tranches 1 moyenne 125ml Lượng calcium 300mg 300mg 332 mg 232mg 150mg 200mg 130mg 40mg 50mg 33mg Coi vậy mà không phải vậy khi quí vị tưởng rằng cứ ăn miếng fromage thì có 150 mg calcium giống như uống nửa ly sữa (125ml) vì calcium trong mỗi thứ thức ăn đều ở dưới những dạng khác nhau do đó sự hấp thụ vào cơ thể cũng khác nhau! * Các loại calcium - Carbonate de calcium: loại này nhiều và rẻ nhất và nên được dùng nhiều để chế viên thuốc calcium mà chúng ta uống hàng ngày. Khi dùng calcium dước dạng carbonate de calcium quí vị phải uống chung với thức ăn (và vitamine D)vì như đã nói ở trên carbonate de calcium cần môi trường acide của dạ dày để được tách ra, hoà tan và hấp thu. Dạ dày chỉ tiết dịch vị có tính acide khi nào có thức ăn đưa vào mà thôi. Viên thuốc quen thuộc để nhai khi đau bao tử ợ chua tên là TUM cũng là carbonate de calcium. Trong 500mg carbonate de calcium của Tum có 200mg calcium ( gọi là calcium élémentaire hay calcium dưới dạng ion (Ca++). Nhai 1 viên Tum có 500mg carbonate de calcium thì cơ thể quí vị cũng nhận được 10% tức 20mg calcium. TUM cũng được cho người suy thận dùng. - Phosphate calcium là loại calcium thường có trong thức ăn hàng ngày. - Citrate de calcium thường chứa ít calcium élémentaire nhưng lại dễ hấp thu, không cào bao tử, cũng không cần uống lúc ăn vì citrate de calcium không cần môi trường acide để hoà tan, dùng lúc nào cũng được cả. Viên Ci-cal chính là citrate de calcium dùng cho những người bị sình bụng khi dùng carbonate de calcium. - Dolomite de calcium là calcium lấy từ vỏ sò vỏ ốc, không tốt vì thường lẫn chì (Plomb), nên quí vị đừng cứ thấy sản phẩm thiên nhiên (natural product=produit naturel) thì nghĩ ngay là tốt nhé. - Acétate de calcium có 25% calcium élémentaire (ion calcium để hấp thu) thường dùng cho những người bị suy thận lâu năm. - Gluconate de calcium chỉ có 9% calcium thôi, chỉ dùng cho những người bị táo bón bởi carbonate de calcium. - Lactate de calcium có 13% calcium.