chương II chương I chương III huế và kIến trúc huế Huế Con người Huế Nét đẹp kiến trúc Huế Đại nội Huế Lăng Khải Định 10 12 14 16 20 Chuyện làng chuyện đình Chuyện làng Chuyện đình Kiến trúc đình làng Vân Thê đình làng vân thê 26 30 36 Nghệ thuật khảm sành sứ 40 Hoa văn hoạ tiết Các linh vật Hình ảnh liên quan đến lịch sử đền Bát bửu Hoành phi 42 60 62 64 Bản vẽ kỹ thuật hương án thờ 66 Nghiên cứu hoạ tiết cá nhân 71 Ứng dụng 142 Đánh giá quá trình làm việc nhóm 156 Nhận định giá trị 154 So sánh 146 quá trình, so sánh nhận định và đánh gIá
Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy cho sinh viên khóa K27TKĐH trong bộ môn Nghiên cứu Vốn Cổ của khoa Mỹ Thuật và Thiết kế, những người đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng em trong quá trình học tập. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Trần Văn Thi - người đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn chúng em thực hiện cuốn nghiên cứu này bằng tất cả lòng nhiệt tình, sự quan tâm và những góp ý, định hướng đúng đắn trong quá trình nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện cuốn nghiên cứu này này, do còn nhiều thiếu sót về mặt kiến thức cũng như còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm nên cuốn nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được những lời góp ý của Quý Thầy Cô để cuốn nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
“Học hải vô nhai, cần thị ngạn” Cuốn sách này là kết quả nghiên cứu sau một thời gian học tập và làm việc tại Huế, nơi trước kia từng là kinh đô của đất nước ta. Huế cổ kính, nguy nga và tráng lệ với những kiến trúc cung đình, lăng tẩm, chùa chiền mang đậm nét đẹp truyền thống của văn hoá lịch sử Việt Nam. Nhắc đến Huế chắc không thể nhắc đến Đại nội Huế và Lăng Khải Định, đây là di tích lịch sử đồ sộ với kiến trúc đồ sộ, được thực hiện đầy kỳ công bởi các nghệ nhân xưa. Ngoài ra còn phải nhắc đến Đình làng Vân Thê, tuy không phải là di tích nổi tiếng bậc nhất ở Huế, nhưng nơi đây phản ánh đời sống bình dị của người dân nơi đây, phản ánh nét truyền thống trong đời sống hàng ngày của làng xã Việt Nam xưa. Cuốn sách nghiên cứu chủ yếu về di tích lịch sử Đình Vân Thê và gồm 4 chương: Về Huế và kiến trúc Huế Khái, Nghiên cứu đình làng Vân Thê và Nhận định đánh giá. Qua cuốn sách, người đọc có thể cảm nhận được phần nào về lịch sử văn hoá, đặc biệt là nét đẹp kiến trúc đầy tráng lệ chắt lọc từ tinh hoa mỹ thuật Việt Nam xưa mà cha ông ta đã để lại cho thế hệ ngày nay. Đây không chỉ đơn thuần là một cuốn tư liệu khô khan đầy lý thuyết về kiến trúc, mà còn là sự trải nghiệm, học hỏi và khám phá không ngừng của thế hệ kế thừa những thứ đẹp đẽ ấy. Là quyết tâm và kỉ niệm của những con người đã làm việc nỗ lực trong suốt thời gian học tập và làm việc tại Huế.
huế kIến trúc huế và
Huế từ lâu được xem là một thành phố với nét đẹp cổ kính và nên thơ bởi nét trầm lắng, thanh tú và thơ mộng của nó. Huế từng là kinh đô của Việt Nam ta trong thời kì phong kiến có lẽ bởi thế mà Huế mang trong mình một sắc buồn lãng đãng hoài cổ, nhuốm màu thời gian và kí ức. Không ngoa khi nói Huế là nơi hội tụ nhiều nét hài hoà dễ yêu dễ mến, Huế đơn sơ mà đẹp đến lạ. Chẳng quá hiện đại với những tòa nhà cao chọc trời, Huế lặng lẽ giữa muôn ngàn núi sông cây cỏ. Sự lặng lẽ đến dịu dàng, trầm tư ấy đã neo vào lòng biết bao người. Chỉ riêng con sông Hương thôi cũng đã làm say đắm bao người. Khác với bao con sông khác, sông Hương không hề ồn ào trái lại còn rất đỗi dịu dàng pha chút gì như nhớ nhung, luyến tiếc. Lúc nào sông cũng dùng dằng như cố tình neo giữ một tình yêu sâu nặng trước khi trôi về biển cả. Vậy nên khi viết về sông Hương nhà thơ Thu Bồn viết: “Con sông dùng dằng con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. huế THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ 10
“Người xứ Bắc”, “người xứ Thanh”, “người xứ Nghệ”, “người xứ Huế”, “người xứ Quảng” là những cụm từ quen thuộc và chẳng rõ từ khi nào được dùng trong đời sống của chúng ta... Có lẽ bởi ông bà ta xưa đã nhận ra rằng con người của một vùng, mỗi miền đều có những sắc thái riêng, đặc tính riêng. Huế khoan thai mà chậm rãi lắm, khoan thai trong từng nếp sống, nếp người. Nhỏ nhẹ trong lời nói, ứng xử là phong thái của người dân thuộc vùng đất từng là Thủ phủ của xứ Đàng Trong một thời. Vì đã từng là nơi sinh hoạt của tầng lớp quý tộc nên cách ăn nói của người Huế đã có những ảnh hưởng nhất định. Vua chúa vốn dĩ không cần phải ăn to nói lớn, quan lại thì lại càng không được phép ăn nói lớn tiếng trước bậc quân vương. Mà ở đất kinh đô thì người ta thường ăn nói nhỏ nhẹ, từ tốn để tránh tai vách mạch rừng, lỡ lời mà mang vạ vào thân. Bởi thế cho nên, hơn ba thế kỷ là thủ phủ của nửa miền Tổ quốc đã đủ để phong thái nhẹ nhàng trong giọng nói ấy ghi lại dấu ấn đến tận bây giờ. con ngườI huế Vùng đất Cố đô luôn gây thương nhớ cho những người khách viễn phương không chỉ vì phong cảnh thơ mộng mà còn bởi phong cách sống của người Huế – một nghệ thuật sống được tích lũy, hun đúc qua hàng trăm năm. Nhắc đến Huế phải nhắc đến lối sống chậm rãi của con người nơi đây. 12 THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ
Từ thời các Chúa Nguyễn, Huế (Phú Xuân) đã được chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong; đến thời Tây Sơn, Huế vẫn được vua Quang Trung chọn là kinh đô. Dưới thời vua Gia Long, Phú Xuân được mở rộng và là kinh đô của Triều Nguyễn trong suốt 143 năm (1802-1945). Kiến trúc ở Huế rất phong phú, đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu và kiến trúc truyền thống... Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là quần thể kiến trúc dưới triều các vua Nguyễn. Mỗi công trình kiến trúc là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, đặc sắc, độc đáo, thể hiện một phần những yếu tố triết lý, tâm linh và giá trị thẩm mỹ riêng biệt đã góp phần làm cho Huế trở thành “bài thơ đô thị tuyệt tác”. nét đẹp kIến trúc huế Huế là thành phố của nhà vườn, là thành phố có nền kiến trúc “tạo cảnh”- thiên nhiên, kiến trúc và con người hòa quyện vào nhau. Quốc Sử Quán triều Nguyễn khi nói lên lý do chọn Huế làm kinh đô đã từng viết: “Nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền Nam, miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thuỷ thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chắn ngang, sông lớn giăng phía trước, núi cao phủ phía sau, rồng cuộn hổ ngồi, hình thế vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô...”. Với cái nhìn phong thuỷ, kinh đô Huế được xây dựng trên một địa thế núi sông, âm dương hòa hợp, tạo nên một không gian kiến trúc “tạo cảnh” mang nhiều triết lý sâu xa, huyền bí. Tuy nhiên, Huế vẫn còn có thể loại kiến trúc rất có giá trị khác, đó là kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc với sự du nhập của các phong cách kiến trúc phương Tây nói chung và kiến trúc Pháp nói riêng. Tuy không quá đa dạng, phong phú nhưng có thể thấy, mỗi công trình kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc hiện diện trên đất Huế đều có những nét độc đáo riêng, góp phần vào sự đa dạng của kiến trúc đô thị Huế cũng như bề dày lịch sử của mảnh đất Cố đô. 14 15 THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Đại Nội nằm ngay bên bờ sông Hương thơ mộng, thuộc đường 23/8, phường Thuận Hòa, thành phố Huế và được xây dựng từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. Năm 1803 thời kỳ vua Gia Long lên ngôi, ông nhận thấy vùng đất Huế là chốn thanh bình phong cảnh lại thơ mộng trữ tình bên dòng sông Hương. hoàng thành Hoàng thành là nơi giao lưu, làm việc của vua quan và Tử Cấm Thành là khu vực ăn ở của vua. Mỗi khu vực lại bao gồm nhiều công trình khác nhau. Khu Hoàng thành gồm có cổng Ngọ Môn, Điện Thái Hòa. Ngọ Môn (tên chữ Hán: 午門) là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế. đạI nộI huế Từ đó, vua Gia Long đã nảy ra ý định chọn vùng đất này là vùng đất làm cố đô của triều đình nhà Nguyễn. Sau 30 năm khởi công xây dựng với bao nhiêu công sức, tổng thể công trình kinh đô mới chính thức được hoàn thành trọn vẹn, Đại Nội Huế mang vẻ đẹp hữu tình, hòa hợp với vẻ đẹp của thiên nhiên. Đại Nội Huế có Kinh thành là khu vực bên ngoài, đây là vòng phòng ngự của Đại Nội Huế. Còn bên trong có hai khu vực chính là Hoàng thành và Tử Cấm thành. kInh thành huế tử cấm thành Tử Cấm thành là khu vực dành riêng cho vua và hoàng tộc, gồm Đại Cung Môn, Tả Vu và Hữu Vu, Điện Cần Chánh, Thái Bình Lâu, Cung Diên Thọ… Trường lang trong Tử Cấm Thành, khu vực phía trước điện Dưỡng Tâm. 16 17 THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Hiện tại di tích được bảo vệ, giữ gìn kỹ lưỡng đồng thời cũng trải qua đợt trùng tu, vậy nên nơi đây vẫn giữ y nguyên vẻ đẹp ban sơ của lịch sử vốn có. Không chỉ mang kiến trúc độc đáo Đại Nội còn mang nét uy nghi, bề thế chốn Hoàng cung triều Nguyễn. Trong mọi ngóc ngách nhỏ của Đại Nội dường như đều mang theo dòng chảy không ngừng của văn hoá lịch sử, của ký ức về những năm tháng dựng nước giữ nước. Ngày này, Đại Nội còn là nơi giao thoa thời gian của văn hoá lịch sử, mỗi một nét chấm phá trong kiến trúc đều là nét đẹp hùng hồn của ngày xưa cũ gửi đến thế hệ hôm nay. Đến năm 1993, nơi đây được UNESCO công nhận là di sản Văn Hóa Thế Giới. 18 THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ
lĂng khẢI định Lăng Khải Định, còn gọi là Ứng Lăng (應陵) là lăng tẩm của Hoàng đế Khải Định (1885-1925), vị Hoàng đế thứ 12 Triều Nguyễn. Lăng nằm ở xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, tọa lạc trên núi Châu Chữ. Khải Định lên ngôi năm 1916 ở tuổi 31. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã cho xây dựng nhiều cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc trong đó có Ứng Lăng. Lăng được khởi công xây dựng từ 4/9/1920, quá trình xây dựng lăng tẩm kéo dài trong 11 năm. Tuy lăng vua Khải Định ở Huế là lăng tẩm có diện tích nhỏ (diện tích lăng Khải Định là 117m × 48,5m), nhưng lại tiêu tốn thời gian hoàn thành lâu, và tốn nhiều công sức, tiền bạc nhất. Lăng Khải Định là sự kết hợp tinh tế của kiến trúc, văn hoá Đông và Tây, được thiết kế công phu, tinh xảo, lộng lẫy Lăng Khải Định Huế lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, là minh chứng cho sự giao thoa văn hóa Việt Nam với các nước phương Tây nổi bật một thời. Tổng thể của Lăng là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc. Núi đồi, khe suối của một vùng rộng lớn quanh Lăng được dùng làm các yếu tố phong thủy: tiền án, hậu chẩm, tả thanh long, hữu bạch hổ, minh đường, thủy tụ, tạo cho lăng Khải Định một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Cung Thiên Định ở vị trí cao nhất và là kiến trúc chính của Lăng. Công trình này gồm 5 phần liền nhau: Hai bên là Tả, Hữu Trực phòng dành cho lính hộ lăng, phía trước là điện Khải Thành - nơi để án thờ và chân dung vua Khải Định, chính giữa là Bửu án, pho tượng nhà vua và mộ phần ở phía dưới, trong cùng là khám thờ với bài vị của vị vua quá cố. 20 21 THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Giá trị nghệ thuật cao nhất của Lăng là phần trang trí nội thất cung Thiên Định. Ba gian giữa trong cung đều được trang trí phù điêu ghép bằng sánh sứ và thủy tinh màu. Đặc biệt chiếc Bửu tán trên pho tượng đồng, nặng 1 tấn với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác làm bằng nhung lụa rất nhẹ nhàng. Bên dưới Bửu tán là pho tượng đồng Vua Khải Định được đúc tại Pháp năm 1922 theo yêu cầu của nhà vua. Lăng Khải Định có lối kiến trúc giao thoa hài hòa giữa phong cách Á - Âu, cổ điển và hiện đại, ngoài ra, lăng tẩm triều Nguyễn này còn tọa lạc ở khu vực thiên nhiên phong phú, đa dạng, có núi đồi, khe suối bao quanh, tạo khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ… Những điều này giúp cho lăng Khải Định trở thành lăng tẩm độc đáo nhất trong các lăng mộ ở nước ta. Trước thời Khải Định, các lăng mộ vua thì vị trí an táng thường được giấu kỹ để tránh một số vấn để như trộm mộ hay khai quật mộ. Nhưng lăng Khải Định không giấu vị trí lăng mộ vì thời này đầu tư rất nhiều để xây lăng nên gần như không mang theo quá nhiều vàng bạc khi chôn cất. Ngoài ra thời Khải Định cũng tin rằng so với kiến trúc và thiết kế đồ sộ mang tính văn hoá lịch sử, người ta sẽ không phá huỷ một công trình hùng vỹ đến thế để đào một ngôi mộ chẳng có mấy vàng bạc hay thứ gì quá quý hiếm. 22 THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | HUẾ VÀ KIẾN TRÚC HUẾ
đình làng vân thê
chuYỆn làng địa đIểm và dIỆn tích Địa điểm: Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 9km về hướng Đông Nam, Đình làng Vân Thê thuộc xã Thuỷ Thanh, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nằm ở vị trí trung tâm giữa làng trên một diện tích 7 sào, sau lưng là con sông đào Như Ý (vua Gia Long cho đào từ năm 1806) mặt hướng về dãy Trường Sơn trùng điệp. Đình Vân Thê nằm trên thửa đất số T327/4165: Có chiều dài: 193,4m. Chiều rộng: 49,7m. Tổng cộng: 46m2. tình trạng bẢo quẢn dI tích Đình Vân Thê hiện nay nằm dưới sự quản lý của Hội đồng tộc trưởng làng Vân Thê và được sự quan tâm giúp đỡ tích cực của Đảng bộ và chính quyền xã Thuỷ Thanh. Đình Vân Thê trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần... của con dân các dòng họ trong làng, là nơi tổ chức các hoạt động lễ hội hàng năm của làng. Sự quan tâm giúp đỡ của các cấp uỷ chính quyền địa phương cộng với sự hảo tâm đóng góp của con cháu trong làng những người làm ăn trong và ngoài nước đã làm cho đình Vân Thê ngày càng đẹp hơn, xứng đáng vị trí lịch sử của đình làng. Gia phả họ Nguyễn có tu chỉnh lại dưới thời Thành Thái năm 1906 trong phần mở đầu có ghi: “Lại xem đinh tịnh hương trù năm trăm năm lẻ hạnh cù họ ta, chúc mừng địa lợi nhân hoà, ngàn năm hưởng đặng vinh ba thọ tường”, gia phả họ Chế cũng ghi rõ: “Ngài Thỉ tổ của họ là Chế Bà Na Đại Long, thuộc con cháu của vị vua Chiêm cuối cùng dưới triều Lê Thánh Tông Đại Hoà tứ niên” khoảng giữa thế kỷ 15. lịch sử hình thành Theo “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An, làng Vân Thê (xã Thủy Thanh) hình thành vào khoảng năm 1553, thuộc huyện Tư Vang (Tư Vinh) xưa thuộc phủ Triệu Phong nay thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế. Làng Vân Thê nằm ở vị trí đất khá trũng được bao bọc các làng xung quanh, phía Đông là sông Như Ý, phía Tây giáp làng An Cựu, Vân Dương, phía Bắc giáp làng Dạ Lê, phía Nam giáp làng Thanh Thuỷ, Sư Lỗ, theo cách phân chia hành chính dưới thời phong kiến thì làng Vân Thê được chia làm ba phường và Vân Dương xứ (xóm đập), hiện nay Vân Thê được chia làm 4 cụm sản xuất, với số dân 4.200 người (465 hộ) gồm 455 ha diện tích đất tự nhiên trong đó đất canh tác là 356 ha với nghề chính là nông nghiệp và chăn nuôi.ba phường và Vân Dương xứ (xóm đập), hiện nay Vân Thê được chia làm 4 cụm sản xuất, với số dân 4.200 người (465 hộ) gồm 455 ha diện tích đất tự nhiên trong đó đất canh tác là 356 ha với nghề chính là nông nghiệp và chăn nuôi. Năm 1491 (Hồng Đức thứ 21) Vua sai các quan định lại bản đồ Thiên Hạ... và làng Vân Thê trong số 52 xã thuộc Tổng Đường Pha, huyện Tư Vang, phủ Triệu Phong. Nay thuộc xã Thuỷ Thanh, huyện Hương Thuỷ, tỉnh T.T.Huế.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 26 27ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Để có làng Vân Thê tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay, đó là kết quả của một quá trình đấu tranh bền bỉ chống giặc ngoại xâm, chống thiên nhiên và tinh thần lao động sáng tạo của bao thế hệ con dân các dòng họ cần cù trong làng tạo dựng nên. Đó là kết quả của tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái giữa các dòng họ ngay từ những ngày đầu tiên đặt chân lên vùng đất này, đó là sự hoà hợp giữa hai cộng đồng người Việt và người Chăm cùng chung lưng đấu cật, xây dựng và bảo vệ cuộc sống. Truyền thống đó ngày càng được vun đắp và phát huy, là động lực quyết định cho sự tồn tại và phát triển của làng Vân Thê qua hàng trăm năm lịch sử. Căn cứ vào gia phả của các dòng họ, căn cứ vị trí thờ tự tại Đình làng và ý kiến hội đồng Tộc trưởng của làng, thì việc khai hoang mở đất lập nên làng Vân Thê là do công sức của 8 dòng họ đầu tiên đến làng gồm: Thỉ tổ đệ nhất khai canh Chế Đại Lang Bổn thổ Thần hoàng Chế Văn Kiệt. hỌ nhất hỌ nhì hỌ ba hỌ nĂm hỌ sáuhỌ tư hỌ bẢY hỌ tám Thỉ tổ đệ nhị khai canh Nguyễn Đại Lang. Thỉ tổ đệ tam khai canh Phan Đại Lang. Thỉ tổ đệ tứ khai canh Đỗ Đại Lang. Thỉ tổ đệ ngũ khai canh Trần Đại Lang. Thỉ tổ đệ lục khai canh Hoàng Đại Lang. Thỉ tổ đệ thất khai canh Văn Đại Lang. Thỉ tổ đệ bát khai canh Lê Đại Lang. Theo Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An, NXB Văn Hoá Á Châu, Sài Gòn 1961. Trong số 8 dòng họ có công đầu lập nên làng Vân Thê thi vị Chế Văn Kiệt, được các dòng họ khác tôn vinh và được thờ ở vị trí trang trọng nhất của đình làng, truyền thống đó vẫn được bảo lưu đến ngày nay,dòng họ chế là dòng họ có công đầu tiên lập nên làng Vân thê, trưởng họ luôn luôn giữ vai trò đứng đầu hội đồng dòng tộc và kiêm trưởng làng. Điều này đã được khẳng định qua nhiều sắc phong: “Bổn tộc khai căn thì tổ hộ quốc tý dân mãn trí linh ưng nguyên tạng Dực bảo trung hưng vinh phù chi thần” (Duy Tân thứ tám); “Đệ nhất Chế tộc thủy tổ khai căn nguyên tặng dực bảo trung hưng linh phú gia tặng Đoan túc tôn” (Khải Định)... Sau khi làng Vân Thê định hình còn một số dòng họ khác tiếp tục đến định cư ở làng Vân Thê như họ Tôn Thất Thuyết (1672) mà tiên tổ của họ là Quốc Oai Công Nguyễn Phúc Hiệp con trai thứ 4 của chúa Nguyễn Phúc Tần, là người có công khai quốc nên được phong tặng Minh nghĩa Công thần, phụ quốc tướng công và được Nguyên Triều xếp vào hàng khai quốc công thần thượng Đảng và đặc biệt những năm cuối thế kỷ 19 đất nước ta đứng trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp, trước một triều đình nhu nhược, hoảng loạn và đầu hàng hèn hạ, thì Tôn Thất Thuyết một quan chấp chính Đại thần đã dũng cảm kiên quyết chống Pháp đến cùng. Hiện nay phủ thờ của ông tại làng Vân Thê đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá... Ngoài ra còn có họ Nguyễn Cửu (1720), họ Trương Văn (1775), họ Nguyễn Hữu... Chính từ truyền thống đoàn kết, yêu nước, tinh thần lao động cần cù trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập và xây dựng cuộc sống, vùng đất Vân Thê ở thời kỳ lịch sử nào cũng sản sinh ra những con người nhiệt tình, dũng cảm, làm thơm danh quê hương đất nước, góp phần xứng đáng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 28 29ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Đình làng này đang thờ ông Chế Văn Kiệt, bổn thổ thành hoàng làng và tám vị khai canh thuộc họ Chế, Nguyễn, Phan, Đỗ, Trần, Hoàng, Văn, Lê (thứ tự này dựa theo sắc phong của vua Gia Long năm thứ 3). chuYỆn đình sơ lược Đình làng Vân Thê là một công trình kiến trúc đẹp, gồm có La thành, Long đình, Tiền đàn với các trụ biểu chầu rồng chạm khắc tỉ mỉ...đặc biệt là Nội đình gồm ba gian hai chái dựng theo kiểu nhà rường được các nghệ nhân khắc trổ tinh vi. Đình làng Vân Thê là chốn thiêng liêng, nơi tụ họp thể hiện ước vọng, ý chí quyết tâm, tinh thần đoàn kết của con dân trăm họ, bất chấp những áp lực văn hoá du nhập từ bên ngoài. Học giả Hương Giang Thái Văn Kiểm cho biết Vân Thê là làng của Cụ Ngoại ông và nguồn gốc địa danh Vân Thê được rút từ hai câu thơ xưa: “Học hải vô nhai, cần thị ngạn Thanh vân hữu lộ, chí vi thê” Và được dịch là: “Biển học vô bờ, lấy chuyên cần làm bến Mây xanh có lối, dùng chí cả làm thang!”THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 30 31ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
vỀ sỰ hình thành Cũng như bao ngôi đình làng khác ở Việt Nam, sau khi làng xóm được định hình thì đình làng cũng được xây dựng, bởi đình làng được coi là ngôi nhà chung, là nơi thiêng liêng nhất của mọi người dân trong làng. Cho đến nay chúng em vẫn chưa tìm được những tư liệu nào nói một cách chính xác về thời gian khởi dựng và quy mô của đình Vân Thê, gia phả của các dòng họ cũng không ghi, chỉ biết rằng: đình Vân Thê được dựng trên một khu đất khá rộng thoáng mát với hàng trụ biểu cao lớn, một ngôi nhà rường một gian hai chái, mà ở đó những đường nét trang trí, chạm trổ các hoạ tiết, hoa văn rất nghệ thuật, tinh vi. Những dấu ấn đó đến nay vẫn còn tồn tại khá đậm nét trên một số chi tiết của đình làng. Nhưng vì một lý do mà đình Vân Thê sau đó một thời gian phải dời chuyển đến một vị trí khác (vị trí hiện nay). Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, thì phải sau một thời gian khá dài đình Vân Thê mới tìm được địa điểm mới phù hợp, vì theo các cụ việc chuyển dời đình làng là một việc làm hết sức trọng đại và thiêng liêng, do đó việc chọn địa điểm mới cho đình làng phải tiến hành hết sức thận trọng, chu đáo, chú ý đến từng chi tiết nhỏ. Cuối cùng hội đồng Tộc trưởng của làng quyết định chọn mảnh đất 7 sào nằm ở trung tâm làng, mặt hướng về dãy núi Trường Sơn, lưng tựa vào dòng sông Như Ý. Có một câu chuyện mà đến tận bây giờ mọi người dân trong làng đều biết, đó là việc đào giếng làng, nói là giếng nhưng rất lớn (22,5m x 22,5m) khi đào đến độ sâu khoảng 5m thì tự nhiên có mạch nước lớn chảy không ngừng làm cho việc đào giếng không thể tiếp tục được nữa. Các cụ gọi đó là long mạch và cũng từ đó giếng làng là nguồn nước vô tận phục vụ sinh hoạt cho không chỉ nhân dân của làng Vân Thê mà cho cả nhân dân làng Thanh Thuỷ, Sư Lỗ xung quanh, nhất là vào mùa hè khi các nguồn nước khác cạn kiệt thì giếng làng vẫn đầy ắp nước. Đình làng được di chuyển nguyên vẹn về địa điểm mới, song do thời gian, khí hậu đã làm cho một số chi tiết của hệ thống kiến trúc gỗ của đình làng bị hư hỏng, do vậy đã được bổ sung điều chỉnh. Vì vậy, cho đến nay khi quan sát đình Vân Thê trong các hoạ tiết hoa văn mang dấu ấn của phong cách kiến trúc cuối Lê đầu Nguyễn. Điều đó được thể hiện trong bố cục, trang trí tại đình làng, thể hiện bàn tay tài hoa, khối óc sáng tạo của các nghệ nhân trong quá trình xây dựng đình, vừa bảo lưu những giá trị truyền thống, vừa mạnh dạn bổ sung những yếu tố mới trong nghệ thuật trang trí mà không hề làm mất đi nét cổ kính, trái lại nó hoà quyện vào nhau tạo ra vẻ đẹp hài hoà, hấp dẫn. Cho đến ngày hôm nay, kể từ khi đình làng Vân Thê chuyển về vị trí mới đã trên 140 năm. Sự khắc nghiệt của khí hậu, sự lão hoá của công trình và sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ đã làm cho đình Vân Thê hư hỏng ít nhiều, song những cố gắng bằng sức người, sức của con dân các dòng họ trong làng đã góp phần làm cho đình làng Vân Thê luôn giữ nét cổ kính vốn có của nó, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của các thế hệ con dân làng Vân Thê trước tổ tiên đã có công khai sáng ra làng... Tính đến nay đình làng Vân Thê đã qua ba lần tu sửa: năm 1947, 1971, 1991. Mặc dù vậy, giờ đây nếu có dịp về thăm đình Vân Thê chúng ta vẫn có thể chiêm ngưỡng một tổng thể kiến trúc đình làng từ giếng làng, từ hàng trụ biểu, đến mái ngói cong vút, với rồng bay phượng múa. Đặc biệt tại đình làng Vân Thê còn lưu giữ những báu vật quý giá như: án thờ chạm long, chuông đồng đúc từ thời vua Thiệu Trị, độc bình cổ, cột đá khắc chữ Chăm mà cho đến nay chưa có nhà nghiên cứu nào dịch được nội dung trên cột đá này. Có thể nói những gì còn lại ở đình làng Vân Thê khẳng định lòng tự hào dân tộc, truyền thống đoàn kết giữa các dòng họ trong làng, trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng cuộc sống, bảo vệ những thuần phong mỹ tục của dân tộc đó là sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn sâu sắc đối với các bậc tiền bối, đã để lại cho muôn đời con cháu mai sau những giá trị truyền thống văn hoá mà không gì có thể đổi được.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 32 33ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
một số sỰ kIỆn lịch sử Với những chức năng cơ bản nhất của mình. Đình làng Việt Nam dưới thời phong kiến đã thật sự trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của một cộng đồng, chính cây đa bến nước, sân đình là nơi hun đúc truyền thống yêu nước, củng cố mối đoàn kết, tình làng nghĩa xóm giữa các dòng họ, là nơi gần gũi một cách tốt nhất, đầy đủ nhất những giá trị văn hoá tinh thần, văn hoá vật chất của dân tộc. Và trong mỗi bước đi thăng trầm của lịch sử, đình làng Việt Nam có những đóng góp xứng đáng trong công cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc. Cũng như bao đình làng khác, đình làng Vân Thê trong quá trình tồn tại và phát triển, đã trở thành biểu tượng, chốn thiêng liêng của bà con các dòng họ trong làng. Ở thời kỳ lịch sử nào, Vân Thê cũng xứng đáng là “ngôi nhà chung” của làng. Đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình làng Vân Thê đã trở thành cái nôi cách mạng của huyện Hương Thuỷ, một địa danh lịch sử của tỉnh T.T.Huế. Nằm ở vị trí trung tâm của làng, xa khu dân cư, xung quanh đình Vân Thê là một rừng cây cổ thụ. Với những lợi thế đó ngay từ những ngày đầu tháng 8/1945, đình Vân Thê là địa điểm lý tưởng được chọn làm nơi gặp gỡ, nơi tổ chức các cuộc diễn thuyết, tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho những thanh niên yêu nước trong vùng. Cũng chính tại đình Vân Thê trong những ngày sôi nổi chuẩn bị cho khởi nghĩa tháng 8/1945 là nơi ra mắt Mặt trận Việt Minh huyện Hương Thuỷ và các tổ chức đoàn thể khác như thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, Hội truyền bá chữ quốc ngữ... là nơi tổ chức tập luyện diễn tập chuẩn bị của các đội viên Thanh niên cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đình làng Vân Thê là trung tâm lãnh đạo mọi hoạt động cách mạng của dân làng và là cơ sở chỉ huy của lực lượng vũ trang huyện, tỉnh; ra mắt Mặt trận Việt Minh, chi bộ Đảng và các đoàn thể cách mạng thôn (thanh niên, phụ nữ, nông hội, tự vệ). Đây còn là nơi huấn luyện đội cảm tử, lực lượng tự vệ để đánh đồn Mô-ranh và là sở chỉ huy của Tiểu đoàn 319 (Trung đoàn 101) khi đánh địch ở mặt trận Phú Vang. Đây điểm tập hợp phụ nữ đứng lên đồng khởi trong những năm 1963-1966, huấn luyện đội nữ du kích về sau trở thành đơn vị du kích 11 cô gái Vân Dương nổi tiếng. Đình làng Vân Thê cũng là nơi nhiều cán bộ lãnh đạo Khu ủy, Tỉnh ủy, Thành ủy từng ở, chỉ đạo phong trào, như Lê Tư Minh, Lê Tự Đồng, Nguyễn Vạn, Lê Trọng Bật, Thân Trọng Một… hIỆn tạI Tồn tại nhiều năm, hiện tại trưởng làng đã là hậu duệ đời thứ 14 của họ Chế. Ông Chế Công Bản hiện tại là đời thứ 14 coi giữ làng cũng như đình làng Vân Thê. Theo thông tin được ông Chế Công Bảng cung cấp, ngày nay có 2 lễ chính được tổ chức tại làng, ngày 4 tháng Giêng hàng năm có lễ Sum Tụ với mục đích để cầu bình an, và mùng 5 mùng 6 tháng 7 m lịch hàng năm có lễ Thu Tế. Hiện nay riêng làng Vân Thê có 4 thôn và có khoảng trên 1000 hộ dân. Ông Chế Công Bản - hậu duệ đời thứ 14 của họ ChếTHANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 34 35ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Mặt bằng Đình Vân Thê được bố trí theo hình chữ Công (I) như đã trình bày ở phần nội dung, đình làng Vân Thê kể từ khi chuyển dời về vị trí hiện nay (1855), một phần do khí hậu thời tiết, một phần do ảnh hưởng của hai cuộc chiến tranh nên đình làng Vân Thê đã qua 3 lần tu sửa: 1947, 1971, 1991. Mặc dù vậy những đường nét kiến trúc tại đình làng vẫn được tôn trọng gìn giữ trong quá trình tu sửa. Chính vì vậy mà giờ đây khi chúng ta nhìn đình Vân Thê vẫn rõ những nét cổ kính được thể hiện qua các đường nét kiến trúc, rồng bay phượng múa, qua các hoạ tiết hoa 2văn trang trí trên chi tiết ở đình làng. Trước cổng đình là hàng trụ biểu 4 cột sừng sững, uy nghiêm (cao 7,5m x 1m) được trang trí đắp nổi sành sứ rất công phu. Tiếp theo là long đình độc lư (cách trụ biểu 7,5m). Long đình độc lư được kiến trúc theo kiểu nhà bia 4 mái (3,5m x 2m) ở giữa là một lư hương lớn. Từ long đình độc lư vào đền cửa tiền đàng là (17,5m) 4 trụ tiền đàng được trang trí rồng leo rất khéo léo nghệ thuật, dưới chân 4 trụ tiền đàng là 4 sư tử quỳ tạo cảm giác rất trang nghiêm, cung kính nhà hiện nay hư hại nặng). Giữa ba khoang cửa vào nội đình là các câu đối ca ngợi quê hương con người Vân Thê. Phía trên tiền đàng là 3 bức hoành được ghép bằng sành sứ rất nghệ thuật. Toàn bộ nội đình được bố trí cụ thể như sau: Ba bộ cửa kiền kiền được đóng theo lối bản khoa (thượng song, hạ bản) gian giữa lớn hơn, 2 gian tả hữu bằng nhau. Trong nội đình được bố trí như sau: Gian giữa là nơi trang trọng nhất và cũng là nơi để thờ vọng người có công lớn nhất đối với làng Vân Thê, đó là Thành Hoàng Chế Văn Kiệt. Bàn thờ và những đồ thờ ở gian giữa rất cầu kỳ và trang trọng gồm một bàn thờ lớn chạm lọng, sơn son thếp vàng, các đồ tử khí hai bên đầy đủ, sau bàn thờ là khám thờ vị Thành Hoàng cũng được coi sóc rất chu đáo. Hai gian tả hữu là nơi thờ các bài vị của bát gia khai căn (8 dòng họ đầu tiên có công lập nên làng Vân Thê) bao gồm 2 bàn thờ và khám thờ cùng các đồ thờ đầy đủ. Diềm nhà tiền đường và nội đình được làm lại song vẫn giữ nguyên cách trang trí hoa văn lối cũ như cảnh sơn thuỷ, bụt tọa đài sen, hoa chanh, phúc lộc, đặc biệt là cảnh cày bừa đồng áng, câu cá theo các trích cũ, toàn cảnh trang trí trong đình như một bức tranh mô tả cuộc sống thanh bình chốn làng quê song cũng có những yếu tố cách điệu, thần bí, càng làm cho đình trở nên uy nghi, tôn kính và thiêng liêng. đình làng vân thê kIến trúcthanh vân hưu lơ, chí vân thê |ếình làng vân thê 36 37ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Nhà nội đình được lợp ngói liệt, bờ nóc, dải đầu dao. Bộ khung đình làng Vân Thê gồm: 16 cột được kết cấu chặt chẽ với 2 dàn kèo chắc chắn. Phần mái của đình được chia làm 2 phần: Nhà tiền đường tiếp giáp nội đình được lợp bằng ngói ống. Máng xối được trang trí rất khéo léo, tỉ mỉ từng chi tiết, long chầu nhật, cá chép vượt vũ môn, chim, phụng, kỳ lân.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 38
khẢm sành sỨ nghỆ thuật Nghệ thuật khảm sành sứ Huế từ lâu đã được coi là một trong những thành tựu nổi bật của mỹ thuật thời Nguyễn, thể hiện qua cấu trúc tạo hình, hiệu quả về màu sắc, nghệ thuật và kỹ thuật chế tác, tạo dựng các hình tượng nghệ thuật độc đáo. Đúng như tên gọi, khảm sành, sứ là loại hình nghệ thuật trang trí sử dụng các mảnh sành, sứ để “khảm” lên bề mặt kiến trúc, tạo nên các hình tượng nghệ thuật cụ thể. Đó có thể là những mảnh sành, sứ ghép lại thành hình tứ linh, bát bửu, nhật nguyệt, mười hai con giáp, hoặc là những câu đối, bình phong, tường hoa, chậu cây cảnh... đẹp mắt, hài hòa. Sử dụng vật liệu tưởng chừng khô cứng, nhưng qua đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, các mảnh sành, sứ được gọt giũa, trau chuốt thành các tác phẩm mềm mại, có hồn. Để các mảnh sành, sứ bám chắc lên bề mặt kiến trúc, người xưa thường dùng chất kết dính làm bằng đá san hô, vỏ sò, nước mật mía cùng một số lá cây. Kỹ thuật mài giũa, cắt gọt các mảnh sành, sứ cũng được người xưa thực hiện tỉ mỉ, để mảnh sành, sứ được gắn khít lên nhau, không lộ ra chất vữa kết dính cũng như có thể mềm mại, uyển chuyển theo hình tượng của họa tiết cần khảm. Chẳng phải ngẫu nhiên nghệ thuật khảm sành sứ lại trở thành hồn cốt cho vẻ đẹp của những lăng tẩm, đền đài và các ngôi mộ táng. Để từ nét đẹp dân gian trở thành làng nghề, biến hóa nên nghệ thuật trang trí cung đình thì việc chọn men khảm sành sứ không thể tùy tiện. Trước hết, để tạo nên bối cảnh rực rỡ và đường nét tinh tế cho các công trình khảm, gam màu của men sành sứ rất quan trọng. Phần lớn chúng có màu sắc tươi sáng, rực rỡ. Những mảnh có tông màu trầm thì đường nét cũng phải sắc sảo, lớp men bóng chất lượng. Tiếp đó, nghệ thuật phối màu sành sứ cũng được lấy cảm hứng từ tư tưởng Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Sự kết hợp giữa các gam màu nóng và lạnh, tối và sáng tạo nên sự hài hòa, rực rỡ. Các màu cam, vàng, đỏ tía, hồng cánh sen thuộc gam nóng sẽ là sắc màu chủ đạo trong các bức khảm. Các màu phụ họa là gam xanh như xanh lục, xanh lam, xanh tím, đặc trưng cho nét đẹp cung đình Huế. Nếu như khảm các bức linh vật như Long, Ly, Quy, Phượng, Giao, Nghê thì lựa chọn sành sứ có men tốt để khảm mắt rồng mắt phượng. Sau này đã có thêm chất liệu khác như thủy tinh để ốp phủ lên bề mặt để tăng thêm độ tinh xảo. Từ mảnh vỡ của những loại gốm cổ, sành sứ có niên đại từ xa xưa, chúng đều được lựa chọn kỹ lưỡng theo mức độ của công trình. Chẳng hạn như đình chùa, nhà dân, mộ táng thông thường thì trang trí họa tiết đơn giản hơn. Nếu là lăng tẩm, đền đài của vua chúa thì cầu kỳ, phức tạp và các loại men khảm cũng có độ bền ưu việt hơn.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 40 41ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
các lInh vật hoa vĂn hoạ tIết rồng Trong cuốn Mỹ thuật Huế, các tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Du Chi, Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ đề cập nhiều đến hình tượng Rồng thời nhà Nguyễn. Theo đó, rồng được biểu hiện dưới nhiều tư thế đa dạng, phong phú: “Ở Huế, chúng có mặt trên các nóc kiến trúc, dưới dạng đắp tròn, thường với chất liệu khảm sành sứ”, “đó là một linh vật phổ biến nhất trong mỹ thuật cung điện Huế. Nhìn chung chúng có nhiều loại, bằng nhiều chất liệu và nhiều cách thể hiện”. Rồng được biết đến là linh vật trong các truyền thuyết và theo quan niệm dân gian ở nhiều nước phương Đông, Rồng là linh vật đứng đầu tứ linh (long, ly, quy, phụng). Theo một số nước Á Đông, rồng cơ bản có bốn loại mang 4 sức mạnh của thiên nhiên là 4 yếu tố tạo nên vũ trụ: Gió, Lửa, Đất và Nước. Từ bốn loại chính này mà người ta tưởng tượng ra nhiều loại rồng khác nhau. Rồng Việt Nam là vật tổ của người Việt theo truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, trong trang trí kiến trúc, điêu khắc và hội họa hình rồng mang bản sắc riêng, theo trí tưởng tượng của người Việt. Trước thời phong kiến, rồng được coi là biểu tượng của nước, vốn là điều ám ảnh trong tâm thức của cư dân nông nghiệp lúa nước vùng Đông Á, trong đó có Việt Nam. Sang thời phong kiến, rồng trở thành biểu tượng của vương quyền, gắn liền với hình ảnh ông vua là đỉnh cao của khái niệm quyền uy. Dưới các thời Lý, Trần, Lê, Mạc, rồng trong mỹ thuật vào mỗi thời điểm cụ thể lại có những nhận xét khác nhau. Tuy nhiên, đến thời nhà Nguyễn (1802 - 1945) thì được thống nhất, rồng mang dáng vẻ uy nghi, tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng, sức mạnh của triều đại. Rồng là điểm hội tụ của ý nghĩa vũ trụ và nhân sinh quan, ngoài biểu tượng cho quyền lực và vương quyền, rồng còn là biểu tượng của nền văn minh lúa nước của người Việt. Các hoạ tiết Long trên án thờ tại Đình làng Vân Thê.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 42 43ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
lưỡng long chầu nguYỆt “Song long chầu nguyệt” hay còn có cách gọi khác là “Lưỡng long chầu nguyệt” hay “Rồng chầu mặt nguyệt”. Là hình tượng hai con rồng uốn lượn đối diện nhau, đối xứng qua mặt nguyệt ở giữa. Biểu tượng này có thể được kết hợp cùng các hoa văn khác như vân mây, hoa sen,… nhưng chi tiết chính vẫn là đôi rồng và mặt nguyệt. “Song long chầu nguyệt” trên bát hương mang ý nghĩa là sự quy tụ sức mạnh thiêng liêng phù trợ cho sự giao hòa, tương sinh, tương hợp của âm dương ngũ hành, cho sự sống và sự sinh sôi, tượng trưng cho tài lộc, mang lại đạt cát đại lợi, quyền lực và sức mạnh bảo vệ của gia tiên dành cho hậu thế. Trăng trong lưỡng long chầu nguyệt là biểu tượng của thánh thần và là đại điện cho năng lượng tâm linh của con người. Mặt Trăng có ý nghĩa rất sâu xa đối với người Việt cổ nên từ lâu. Không chỉ là biểu tượng dự báo thời tiết hay thời gian (tuần trăng), mặt trăng còn được dùng để tiên đoán vận mệnh của một đất nước, triều đại. Trong phong thủy, mặt nguyệt tượng Hình ảnh hai con rồng chầu vào vòng tròn chính giữa xuất hiện trên các nóc đình đền và chùa chiền một thời gây tranh cãi gay gắt trong giới khoa học. Nhiều người dùng thuật ngữ “Lương long chầu nguyệt” để chỉ đôi rồng chầu về mặt trăng. Nhưng nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng, đó là một sai lầm, vì vòng tròn ở giữa không phải mặt trăng, mặt trăng không thể có ánh lửa bùng cháy. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh giải Nếu hai con rồng đều ngậm châu thì đó là hình ảnh sai lầm do người làm ra thiếu hiểu biết hoặc rập khuôn theo mô-típ chung. Bởi không thể có hai vũ trụ, chỉ khi thể hiện một con rồng - tức là một âm (hoặc một dương) thì mới ngậm châu. Đây chính là biểu tượng của một trong hai thế lực âm (hoặc dương) đang chi phối vũ trụ (âm thịnh thì dương suy hoặc ngược lại). Như vậy, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh thì đôi rồng hướng về “quả cầu lửa” không phải là “Lưỡng long chầu nguyệt”. Có thể gọi đó là “Lưỡng long tranh châu” thì chính xác hơn. Ông Tuấn Anh cũng lưu ý, thuật ngữ “Lưỡng long chầu nguyệt” rất có thể bắt nguồn từ “lý ngư vọng nguyệt” (cá Và ngay trên các mái đình, đền, chùa, miếu, hình ảnh “Lưỡng long chầu nguyệt” cũng được thể hiện với đặc điểm là “đuôi chổng lên, đầu chúc xuống, mắt ngước lên nhìn mặt trăng với ý nghĩa thuần phục”. Đó là biểu tượng cho tâm linh thần phục thánh thần. Hình ảnh “Lưỡng long chầu nguyệt” đích thực theo khảo sát của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, hiện tại còn rất ít nếu không muốn nói là cực hiếm. Cho nên, nhiều người lầm tưởng hình ảnh giữa “Lưỡng long chầu nguyệt” và “Lưỡng long tranh châu” là điều khó tránh khỏi. trưng cho ngũ hành. Quy tụ sức mạnh thiêng liêng phù trợ sự tương sinh, tương hợp của hai thái cực âm dương. Mang lại sự sống và sự sinh sôi, tài lộc, đại cát đại lợi, quyền lực và sức mạnh bảo vệ của gia tiên dành cho hậu thế. Trong văn hóa của người Việt, trăng gắn liền với nền nông nhiệp từ lâu đời và là biểu tượng của sự sum vầy. Mùa trăng tròn cũng là lúc mùa màng kết thúc, gia đình đủ đầy lương thực, sung túc đủ đầy. Trăng tròn rằm tháng 8 cũng là thời điểm con cháu trong gia đình sum họp, quây quần bên mâm cỗ ngày rằm. thích, con rồng là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ mà cụ thể là hai lực tương tác Âm - Dương. Khi thể hiện hai con rồng thì không con nào ngậm châu cả. Vì sao? Vì hình tượng hai con rồng là biểu tượng lực Âm - Dương cân bằng mà hạt châu lại là biểu tượng của Thái cực, là biểu tượng của vũ trụ. chép ngóng về mặt trăng, tất nhiên mặt trăng ở đây là cái bóng dưới nước). Tuy nhiên, thuật ngữ “Lưỡng long chầu nguyệt” xuất hiện ngay từ những năm 1930. Trong một quyển sách nghiên cứu về văn hoá dân gian Việt Nam của nhà nghiên cứu Việt Nam học người Pháp là Le Brenton đã đề cập đến thuật ngữ này một cách rõ ràng. Trong đó, ông cho rằng, hình ảnh “Lưỡng long chầu nguyệt” là có thật và nó bị lai tạo hình ảnh rồng và tính đặc trưng trong quan niệm của người Trung Hoa.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 44 45ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
các lInh vật hoa vĂn hoạ tIết long mã Trong Tự điển Cao Đài, tác giả Nguyễn Văn Hồng viết: “Vào thời thượng cổ bên Tàu, đời vua Phục Hy (2852- 2737 trước TL), trên sông Hoàng Hà, thình lình một trận giông lớn nổi lên, nước sông dâng cao, có nổi lên một con quái đầu rồng mình ngựa, đứng khơi khơi trên mặt nước, trên lưng có nhiều đốm đen trắng xếp theo một trật tự đặc biệt và có mang một cây bửu kiếm. Dân chúng thấy chuyện lạ, vội cấp báo cho vua Phục Hy biết. Nhà vua liền đến nơi, đứng trên bờ sông quan sát. Vua Phục Hy là vị Thánh đế nên biết con quái ấy là con long mã, một loại thú linh hiếm có, ít khi xuất hiện. Ngài phán rằng: “Nếu phải nhà ngươi đem báu vật đến dâng cho Ta thì hãy lại đây, đến trước mặt Ta”. “Long mã như biết nghe tiếng người, từ từ đi vào bờ, đến trước mặt vua Phục Hy thì quỳ xuống. Vua Phục Hy thấy trên lưng Long mã có một bức đồ gồm 55 đốm, nhà vua ghi nhớ vị trí các đốm rồi gỡ lấy bửu kiếm. Xong, long mã liền trở ra khơi và đi mất. Mực nước sông Hoàng Hà sụt xuống như cũ. Vua Phục Hy vẽ lại những đốm trên lưng long mã, tạo thành một bức đồ, đặt tên là Hà đồ. Nhà vua quan sát các chấm này, kết hợp với sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên trong Trời Đất, nghĩ ra cách tượng trưng m Dương, Ngài vẽ ra được Bát Quái đồ, gọi là Tiên Thiên Bát Quái đồ”. Như vậy, ngoài các điển tích trên có ghi chép lại về sự xuất hiện của Long Mã, còn lại đều chỉ là mượn hình tượng Long Mã để nói về việc đúng sai của vua Phục Hy nhìn từ đồ hình trên lưng Long Mã mà vẽ ra Tiên Thiên Bát Quái. Song các tài liệu được ghi chép lại hầu như không hề có sự diễn tả rõ ràng về Long Mã, ngoài sách “Kỳ Môn Ngữ Tổng Qui” có miêu tả sơ về Long Mã, còn lại gần như chỉ biết nó là một con vật linh thiên trong truyền thuyết. Thông qua hình tượng long mã, người ta hiểu rằng: Rồng thường ở trên cao, khi ẩn khi hiện trong mây, vùng vẫy khắp không gian, biểu trưng cho những gì có tính chất cao thượng, mạnh mẽ, linh hoạt, thuộc Dương, và thuộc Tiên thiên, nghĩa là tung, tượng trưng cho kinh tuyến, thời gian. Mã là ngựa, tuy không thuộc linh vật, nhưng là vật rất hữu dụng trong nhân gian, di chuyển nhanh trên mặt đất theo đường thẳng ngang, chở nặng, có sức bền bỉ, có nghĩa khí, thuộc Hậu thiên, là hoành, tượng trưng cho vĩ tuyến, không gian. Như vậy, long mã tượng trưng cho sự tung hoành của nam nhi, cho thời gian và không gian, long mã chạy là biểu hiện cho vũ trụ vận động, đồng thời tượng trưng cho thánh nhân. Có thể nói, long mã tiêu biểu đầy đủ các phạm trù m Dương, Vũ trụ, sự kết hợp của Tiên thiên - Hậu thiên, và cuộc tiến hóa của vạn vật (ngựa hóa rồng). Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh, từ lâu Long Mã được Nho giáo xem như là một hình tượng trang trí biểu hiện ước vọng về thái bình, an lạc và phát triển. Chính vì thế, tất cả các di tích từ cung điện lăng tẩm cho đến đình miếu dân gian đều có khắc hình Long Mã phù hà đồ. Đồ hình ấy khái quát giai đoạn ban sơ của vũ trụ như vậy là tiếp nối một dòng chảy. Nó song song tồn tại bên cạnh những mô thức trang trí của Lão giáo còn có mô thức của Phật giáo. Long Mã được gửi gắm ước mơ cuộc sống thanh bình và lạc nghiệp. Các hoạ tiết Long Mã tại Đình làng Vân Thê.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 46 47ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
các lInh vật hoa vĂn hoạ tIết quY Rùa là con vật duy nhất trong tứ linh có thật được nâng lên thành con vật “vũ trụ”, trong khi ba linh vật kia chỉ là huyền thoại, chỉ nghe nói, xuất hiện trong tưởng tượng chứ chưa ai từng thấy. Dường như ở rùa đã hội tụ đầy đủ những đặc tính linh thiêng mà không cần phải “lắp ghép” mỗi thứ một tý như linh vật khác. Rùa được cư dân Đông Nam Á thờ từ thời cổ đại, dường như gắn với tối thượng thần Vishnu và được đưa vào trong tâm thức người Việt từ khá sớm. Rùa thần không chỉ có sức mạnh thần thông quảng đại, trừ yêu diệt quái (như trong truyền thuyết Nỏ thần) mà còn được xem là vật trân bảo, tầm cỡ quốc bảo, bắt được rùa lớn bắt buộc phải cống nạp cho hoàng đế. Hình tượng con rùa từ lâu đã ăn sâu vào văn hóa của người Việt; từ thờ cúng, lễ bái, cho đến cả trưng bày thì hình ảnh con rùa vẫn luôn là một trong những sự lựa chọn hàng đầu. GS Ngô Đức Thịnh nhận thấy: “Trong các đền, chùa của người Việt, ta thường bắt gặp hình ảnh rùa đội hạc. Đây là cặp biểu tượng cho sự điều hoà âm dương, vững bền. Hay biểu tượng rùa đội bia đá như bia Tiến sĩ trong Văn miếu – Quốc tử giám, cũng với ý nghĩa để nói rằng, những vị trạng nguyên, những tiến sĩ sẽ được ghi danh từ đời này sang đời khác, bền vững mãi mãi”. GS nói thêm: “Vì nó là con vật thiêng, nên người ta tỏ lòng kính trọng. Tuy nhiên, trước đây PGS Hà Đình Đức – một nhà rùa học – từng đề xuất nên xếp rùa Hồ Gươm vào danh sách những bảo vật quốc gia, thì tôi cho rằng chưa hợp lý. Bởi suy cho cùng, đó cũng chỉ là một sinh vật thôi, chứ đã là bảo vật quốc gia thì phải thực sự là vật quý, hiếm”. Rùa đã xuất hiện trong truyện cổ tích từ thời An Dương Vương, theo tạo hình, từ năm 1126 người ta bắt đầu để rùa đội bia xuất hiện lại chùa Linh Ứng – Thanh Hóa; đến khoảng thế kỹ 15 thì bắt đầu xuất hiện hình tượng rùa đội hạc. Các hoạ tiết Quy trên án thờ tại Đình làng Vân Thê. Rùa là biểu tượng cho sự tài phú, giàu có. Tuy nhiên, đặc điểm nổi trội nhất của loài vật này là sự trường thọ, “vì lẽ rùa sống đến cả ngàn năm hay hơn thế nữa”. Một con rùa đầy lông, mai rùa bám đầy rong tảo và rêu được xem là điềm báo sự trường thọ viên mãn nhất. Chính sự trường thọ đã khiến cho “trải qua bao thời đại, mai rùa, ném vào than hồng, đã luôn được xem là một phương thức để bói toán: các vết nứt mảnh rạn của mai rùa do lửa nóng sẽ chỉ ra những sự kiện trong tương lai” (L’Cadiere). Rùa như thế còn trở thành “sứ giả” của “ý trời”, báo trước điềm lành, điềm dữ…THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 48 49ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
hạc trên lưng rùa Trước tiên, theo quan điểm của người Việt, rùa là loài bò sát lưỡng cư, có tuổi thọ rất cao, thường được gọi là cụ rùa, thần rùa. Rùa có thân hình chắc chắn cộng với khả năng sống lâu cho nên được ví như biểu tượng của sự trường tồn. Bên cạnh đó, rùa là loài vật ăn ít, có khả năng nhịn đói tốt nên được coi là thoát tục. Chim hạc là loài đứng đầu trong họ lông vũ hay còn gọi là đại điểu hoặc nhất phẩm điểu, là con chim của vũ trụ, của tầng cao, là dấu hiệu báo hiệu sự chuyển mùa và là đại diện cho thế lực thiên nhiên đến từ trời xanh. Hạc là loài linh vật được cho là bất tử của loài chim, là loài chim có phẩm chất cao quý, có tính cách của một người quân tử, mạnh mẽ đương đầu với khó khăn, mang lại nhiều may mắn. Trong đạo giáo, đặc biệt là Đạo Phật rất coi trọng loài chim Hạc, coi đó là loài chim trên cao, loài chim của các đức tối cao và lấy đó là tượng trưng cho những thế lực siêu nhiên sự thanh cao , tinh túy và những mong ước tốt đẹp. Người ta trưng bày Hạc ở những nơi trang nghiêm, ở những vị trí quan trọng trong căn nhà, ở những nơi thờ, cúng. Bởi vậy, sự kết giữa 2 con vật linh là rùa và hạc này đội nhau đã tạo nên biểu tượng “thọ đội thọ”. Thể hiện cho khát vọng trường tồn, biểu tượng cho một sự may mắn. Đôi Hạc đứng trên lưng Rùa là khí cụ không thể thiếu trên bàn thờ cùng với lư hương đồng và đôi chân nến. Việc đặt một bộ Đỉnh đồng theo thứ tự: 1 Đỉnh đồng ở chính giữa, kế đó là đôi Hạc đồng cưỡi mu Rùa trầu đỉnh, sau đó tới đôi chân nến đồng . Việc đặt đôi Hạc đồng cùng với bộ đỉnh đồng như vậy theo phong thủy tạo nên một thế vững chắc, một sợi dây liên kết tâm linh huyền bí giống như trục liên kết trong vũ trụ. Hạc trên lưng Rùa trên án thờ tại Đình làng Vân Thê. Hình tượng của chim hạc là hình tượng gây ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa phương Đông nói chung và văn hóa Việt nam nói riêng. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh túy, thanh cao, thần tiên và thoát tục vì vậy mà nó còn được gọi là Tiên Hạc.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 50 51ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
các lInh vật hoa vĂn hoạ tIết phụng Chim phượng hoàng là sự kết hợp các đặc điểm xinh đẹp nhất của nhiều giống chim: đầu gà, chiếc cổ cao của chim hạc, và bộ đuôi thướt tha rực rỡ của loài công. Phụng có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, vẩy cá chép, móng chim ưng, đuôi công... Các bộ phận của phụng đều có ý nghĩa của nó: Đầu đội công lý và đức hạnh, mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, Bộ ngực là lòng nhân đạo và lòng Điều thú vị là trong cuộc đời của mình, khi ánh hào quang tỏa chiếu, lông vũ tung phần phật và những ngọn lửa rực cháy. Con chim tự đốt cháy mình và phân hủy thành tro. Tất cả rơi vào tĩnh mịch... thế nhưng, nó không tự diệt mà từ đống tro tàn và con phượng hoàng con được tái sinh. Vì thế, phượng hoàng còn là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt cùng khả năng tái sinh, hồi sinh. Ngoài ra, còn có quan niệm cho rằng phụng (Phượng) là tên con trống, con mái gọi là Loan. Vì vậy, hình ảnh loan - phụng hòa hợp, sum vầy được dùng cho hình ảnh đám cưới, hỉ sự trong gia đình, với mong muốn sinh sôi, nảy nở. Phượng thường kết đôi với rồng: trong đó rồng là người đàn ông, phượng biểu trưng cho người phụ nữ. Không khó để nhận thấy, phượng thường được trang trí cho lục bìn- h(vật mang tài lộc), dùng trang trí cho không gian phòng thờ, phòng khách; cùng với các họa tiết rồng (trang trí trong hoa văn trên các vật dụng thờ cúng) sẽ mang một ý nghĩa vô cùng độc đáo, hưng vượng cho gia chủ. Hoạ tiết Phụng trên án thờ tại Đình làng Vân Thê. trắc ẩn, lưng cõng bầu trời, cánh là gió, đuôi là tinh tú, lông là cây cỏ, chân là đất. Như vậy nó tượng trưng cho bầu trời, khi nó bay hoặc múa (phụng vũ) là tượng trưng cho sự hoạt động của vũ trụ. Theo truyền thuyết, nó xuất hiện trong thời kỳ hòa bình thịnh vượng. Tại thời cổ đại, có thể tìm thấy hình ảnh của Phượng Hoàng trong các trang trí của đám cưới hay của hoàng tộc cùng với Rồng.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 52 53ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
các lInh vật hoa vĂn hoạ tIết dơI Trong phong thủy con dơi là linh vật biểu tượng sự may mắn, an lành. Con dơi có âm Hán – Việt là phúc, đọc trùng âm với chữ phúc trong từ hạnh phúc, sung sướng. Vì thế người ta đã lấy con vật này để chỉ niềm hạnh phúc sung sướng, cầu mong hạnh phúc đến với mọi người. Thông thường để có hạnh phúc viên mãn người ta trang trí năm Hình ảnh con dơi đang bay, miệng ngậm đồng tiền lớn, hay hình ảnh con dơi ngậm chiếc khánh đá, con dơi ngậm chữ thọ, con dơi ngậm hoa cúc… được các nghệ nhân khắc hoặc đắp nổi có lẽ đều mang ý nghĩa nhất định. Con dơi ngậm khánh đá tức là con dơi ấy đang mang đến niềm may mắn, bởi chữ khánh có nghĩa là vui vẻ, hạnh phúc, phần thưởng. Khi nó kết hợp với con dơi tức là Phúc Khánh có ý nghĩa càng làm tăng sự hạnh phúc sung Hoạ tiết Dơi trên án thờ tại Đình làng Vân Thê. con dơi tượng trưng cho ngũ phúc. Năm điều phúc đó là, thọ tức là sống lâu, phú tức là giàu có, khang ninh tức là yên ổn và có sức khỏe, du hảo đức tức là yêu mến đức hạnh, khảo chung mệnh tức là chết mà không bệnh tật khi tuổi già. sướng và may mắn gấp bội. Con dơi ngậm chữ thọ khi người ta kết hợp hai chữ phúc và thọ lại để chỉ một thông điệp mà ai ai cũng mong muốn có được. Đó là sự giàu có sung sướng hạnh phúc và sống lâu trăm tuổi. Hình ảnh con dơi ngậm tiền cũng không nằm ngoài ý nghĩa ấy. Như vậy, có thể thấy sự phối hợp giữa hình ảnh con dơi và các hình tượng đi kèm nó để làm tăng sức biểu cảm của hình tượng mà không làm mất đi tính thẩm mỹ.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 54 55ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
các lInh vật hoa vĂn hoạ tIết la hầu Dân gian Việt Nam từ xa xưa đã truyền tụng những câu chuyện về một thế giới tâm linh u hiển. Không chỉ những thần tích của “Tứ bất tử”, mà những tinh linh, hình tướng ma quỷ cũng trở nên một tín ngưỡng phổ biến. Gương mặt La Hầu, hay còn được gọi là Hổ phù, là một trong những hình ảnh dữ tợn nhất trong số đó. La Hầu bao giờ cũng được nhìn chính diện, có mắt quỉ tròn, mũi sư tử, sừng nai, tai thú, má bạnh, miệng nhe và hàm nở rộng ngậm mặt trăng hay chữ thọ, hai chân bành ra hai bên bám chặt vào những đám mây. Tuy thế, hình ảnh này lại được phổ biến trên hầu hết các không gian tín ngưỡng từ đình, đền, miếu, cho đến các đồ lễ khí như ngai kiệu, hương án, sập đá bia đá… Hình tượng La Hầu góp phần khẳng định nghệ thuật trang trí cổ truyền Việt Nam nói chung và nghệ thuật trang trí kiến trúc thời Nguyễn nói riêng mang những giá trị đặc biệt, thể hiện cốt cách và tâm hồn của dân tộc. Có thể nói, hình tượng La Hầu là sự đan xen của hai hệ thống thẩm mỹ Trung Hoa và Ấn Độ, góp phần khẳng định nghệ thuật trang trí cổ truyền Việt Nam nói chung và nghệ thuật trang trí kiến trúc thời Nguyễn nói riêng, đồng thời mang những giá trị đặc biệt, thể hiện cốt cách và tâm hồn của dân tộc. Lý giải việc hình tượng La Hầu được sử dụng rộng khắp trong các không gian tín ngưỡng từ cung đình tới nhà dân, PGS. TS Đinh Hồng Hải trong buổi Tọa đàm “La Hầu và hình tượng La Hầu trong văn hoá - kiến trúc cổ Việt Nam” đã nói về tích cổ về La Hầu, để thấy đây là nhân vật sau “phạm tội và được giáo hóa”, đã quay trở lại bảo vệ chính phép, được coi như vị thần hộ pháp, được người thợ dân gian đưa vào rất nhiều công trình tín ngưỡng, đồ thờ tự… Như vậy, hình tượng La Hầu là một trong những chi tiết thể hiện rõ sự giao lưu văn hóa, qua thời gian, đã được Việt hóa, kết tinh thành những giá trị văn hóa truyền thống, tinh hoa của người Việt. So với hệ thống thần linh và các con vật linh của người Việt, đồ án La Hầu hình thành tương đối muộn, manh nha từ thời Lê Trung Hưng và phát triển mạnh vào thời Nguyễn. Có thể nói, hình tượng La Hầu là sự đan xen của hai hệ thống thẩm mỹ Trung Hoa và Ấn Độ, góp phần khẳng định nghệ thuật trang trí cổ truyền Việt Nam nói chung và nghệ thuật trang trí kiến trúc thời Nguyễn nói riêng mang những giá trị đặc biệt, thể hiện cốt cách và tâm hồn của dân tộc. Hoạ tiết La Hầu trên án thờ tại Đình làng Vân Thê.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 56 57ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
các lInh vật hoa vĂn hoạ tIết nghê Xuyên suốt văn hóa dân gian, Nghê đóng vai trò là biểu tượng bảo vệ, giữ nhà cửa và xua đuổi tà ma. Vì vậy, từ xa xưa biểu tượng chó bằng đá đã được xây dựng trước cổng làng, cổng đình, nhà riêng ở nhiều làng vùng Bắc Bộ. Những chú chó đá này hiện diện đáng kể trong các không gian như cung điện, đền chùa, đình, miếu, tăng dần phát triển thành những thực thể tâm linh. Được điều hành bởi các nghệ sĩ dân gian tài năng qua các thời đại khác nhau, những bức tượng này có thể hiện tính thẩm mỹ uy chất Nghê tại Đình làng Vân Thê. béo và dũng cảm, hòa quyện hoàn hảo với môi trường xung quanh và thể hiện phong thái chuyên nghiệp. Nghê là một con vật thần thoại trong văn hóa Việt Nam, là biến thể của từ sư tử (hoặc sư tử) và chó (có thể là Đường Ngao hoặc Ngao Tang), thường được dùng làm linh vật trước các chùa, đền, miếu ở Việt Nam. Nghê là linh vật bản địa hóa Kỳ Lân do người Việt sáng tạo ra, khác hẳn với kỳ lân hay sư tử. Là con vật canh giữ về mặt tinh thần, chống lại các thứ tà ma, ác quỷ. Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật, TS Trần Hậu Yên Thế - chủ biên cuốn sách “Phác họa Nghê - gã linh vật bên rìa” (nhìn từ đền Vua Đinh, Vua Lê) và cuốn sách “Nghê Việt tinh tuyển” do NXB Thế giới ấn hành nêu rõ: “Con nghê nơi lăng mộ, xét trong ý nghĩa tâm linh hơi khác những con nghê chúng ta vốn quen thuộc thân thiết ở các đình làng, bởi thường thể hiện một lòng kính cẩn thương xót, bày tỏ một niềm đau đớn. Bởi lẽ, trong mỹ thuật cổ truyền vùng Viễn Đông, người ta không làm hình người khóc lóc ở lăng miếu, thay vào đó là hình các con thú. Con nghê của người Việt không có biểu hiện hung dữ, ghê gớm, hăm dọa, mà gần gũi, thể hiện tâm thức người Việt, phù hợp cảnh quan, nhân tình thế thái của người Việt. Như vậy, hình tượng nghê trong văn hóa Việt mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, từ sự bình dị, gần gũi, đến sự chính trực, ngay thẳng, dũng mãnh, quyền uy, linh thiêng và lòng trung thành. Đây là những nét đặc trưng, độc đáo, sức hấp dẫn mà hiếm linh vật nào có được.”THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 58 59ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Chuyện kể rằng: Mùa Hạ 1806 khi vua Gia Long trong một lần đi kinh lý phía Nam Kinh thành Phú Xuân khi qua vùng đất Vân Thê thấy những người nông dân đang mải miết tát nước từ con lạch khô cho những thửa ruộng mới cấy, nhà vua dừng lại và hỏi những người nông dân có muốn đào con sông ở đây không? Như bắt được vàng bà con đều đồng thanh hô có, sau đó nhà vua giao cho quan phụ trách Thuỷ lợi khảo sát triển khai đào con sông này nhưng phải đảm bảo hai mục đích: một lấy nước phục vụ nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân trong vùng, hai là tăng cường củng cố tuyến phòng thủ phía Nam kinh thành Huế. Một vấn đề lớn đặt ra nếu con sông được đào thì sẽ đi qua trước mặt đình làng Vân Thê và như vậy đình làng phải dời chuyển đến một vị trí khác phù hợp hơn. Đứng trước vấn đề quan trọng đó hội đồng tộc trưởng cùng các cụ cao niên trong làng đã họp bàn và cuối cùng đi đến thống nhất vì lợi ích của con dân các dòng họ trong làng, trong vùng, vì lợi ích của quốc gia, các cụ nhất trí chuyển đình làng đến một vị trí mới và con sông Như Ý, con sông của lòng dân có tên từ đó. Sông Như Ý như dải lụa ôm trọn làng Vân Thê nối liền sông Vân Dương, sông Lợi Nông, lên Huế, từ đó trở đi dân làng Vân Thê và các làng xung quanh không còn lo thiếu nước mỗi mùa hè đến, phục vụ sản xuất, sinh hoạt, sông Như Ý còn mở ra khả năng giao lưu thông thương giữa Huế và các vùng xung quanh với Huế. Giờ đây mỗi khi hỏi về lịch sử sông Như Ý mọi người dân trong làng đều dành cho con sông những tình cảm trân trọng, biết ơn. sông như ý hoa vĂn hoạ tIếtthanh vân hưu lơ, chí vân thê |ếình làng vân thê 60 61ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
bát bửu hoa vĂn hoạ tIết Bát bửu là bộ đồ thờ bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, gồm 8 vũ khí thời cổ, thường bài trí ở gian giữa trước hậu cung các ngôi đình, đèn, miếu, nghe, chùa. Bát bửu là một trong những kiểu trang trí trong các cơ sở thờ tự của người Trung Hoa, được người Việt tiếp biến và chuyển hóa. Bộ bát bửu ở các không gian thờ tự khác nhau cũng có mô típ khác nhau, có thể phân ra thành 3 loại: trong cơ sở thờ tự của tín ngưỡng dân gian, trong chùa của Phật giáo và trong văn miếu của Nho giáo, đạo quán của Đạo giáo. Bộ bát bửu ở những nơi thờ tự này thường có: mâu, đao, thương, kích, chấp, chùy, trượng, mác. Chúng được bày ở gian giữa, trước hậu cũng theo thế thẳng đứng và cắm trên hai giá. (nếu những loại binh khí này được bày trong phủ đường của các viên quan đứng đầu phủ, đầu tỉnh và bày trên một giá gỗ hình giẻ quạt thì được gọi là bộ chấp kích hay lỗ bộ). Trong Phật giáo, bộ bát bửu bao gồm: lá đề, tù và, tàn lọng, cờ, hoa sen, nậm nước cam lộ, cá và dây kết nút; hoặc là bánh xe pháp, tù và ốc, tàn lọng, hoa sen, chữ “vạn”, độc lư bốn chân, dậy kết nút. Hình tượng lá đề tượng trưng cho sự giác ngộ, hoa sen thể hiện ước muốn về miền cực lạc, bánh xe pháp tượng trưng cho sự nghiệp chuyển pháp luân của đức Phật, chữ “vạn” biểu thị cho sự tốt lành, công đức viên mã, dây kết nút mang ý nghĩa cuộc đời có nhiều phiền não, cần được cởi bỏ, bình nước cam lộ biểu thị cho sự cứu độ chúng sinh của đức Phật Như Lai. Các hình tượng còn lại như tù và ốc, tàn lọng, cá, độc lư bốn chân... không phải chỉ có ở chùa mà có thể có mặt ở những cơ sở thờ tự khác nữa.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 62 63ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
hoành phI hoa vĂn hoạ tIết Hoành phi là tấm biển có hình chữ nhật được trưng bày ngang và treo trên cao, bên ngoài các gian thờ tại đình chùa, gia tiên từ đường. Trên bức hoành phi được khắc 3-4 chữ đại tự. Bức Hoành phi được treo cao nhất tại không gian thờ cúng hơi nghiêng về phía trước để người nhìn dễ quan sát và tạo sự cân đối. Hoành phi có nhiều loại, nhiều dạng như sau: - Dạng chữ nhật. - Hình cuốn thư, chân thư cổ. - Dạng chiếc khánh. - Dạng hình ô van. Hiện nay truyền thống sử dụng cuốn thư hoành phi không phổ biến như trước, nhưng ngoài di tích hoặc những ngôi nhà cổ truyền thống, những người hoài cổ thường vẫn treo ở trên bên bàn thờ gia tiên. Không chỉ mang nét đẹp truyền thống sang trọng, hình ảnh cây bút và thanh kiếm trên cuốn thư tượng trưng cho trí tuệ và sức mạnh giúp ngăn chặn tà khí, mang đến thanh tịnh trong không gian thờ cúng. Hoành phi tại Đình làng Vân Thê.THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ 64 65ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
đình làng vân thê hương án thờ
hương án thờ bẢn vẽ kỹ thuật 80cm 2cm 3.5cm 3.5cm 3cm 15cm 7cm 39cm 5cm 40.5cm 47.5cm 30.5cm 11.5cm 11.5cm 28.5cm 15.5cm 28cm 27.5cm 15.5cm 15cm 1.5cm 7.5cm 1.5cm 116.5cm 86cm 30.5cm 16.5cm 12.5cm 45.5cm 25cm 30cm 9cm 87cm
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu nguYỄn thị tuYết ngân Chuyến đi nghiên cứu vốn cổ tại đình làng Vân Thê, thuộc thành phố Huế, là một trải nghiệm tuyệt vời và đầy ý nghĩa đối với nhóm chúng em. Đình làng Vân Thê nằm ẩn mình giữa những cánh đồng xanh mướt, mang trong mình nét đẹp truyền thống và lịch sử lâu đời của vùng đất cố đô. Qua lời kể của ông Chế Công Bản, chúng em được biết thêm nhiều điều thú vị về lịch sử hình thành, phát triển của ngôi đình cũng như các giá trị văn hóa, tâm linh mà nó đại diện. Trong suốt chuyến đi, chúng em đã được chiêm ngưỡng những kiến trúc cổ kính với các họa tiết chạm khắc tinh xảo, lắng nghe những câu chuyện dân gian đầy màu sắc, và cảm nhận sự gắn kết chặt chẽ giữa con người và không gian văn hóa truyền thống ở nơi đây. Chuyến đi không chỉ giúp chúng em mở rộng hiểu biết về văn hóa dân tộc mà còn tạo động lực để thế hệ chúng em tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa quý báu của đất nước. 71ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
tuYết ngân “Long” trên mái lầu Ngũ Phụng thuộc cổng Ngọ môn - Đại nội Huế. “Lưỡng Long chầu nguyệt” tại Cổng Tam Quan - Lăng Khải Định.
tuYết ngân “La Hầu” trên phía bên trái mái đình làng Vân Thê. “La Hầu” trên mái đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu phan thuý ngỌc Là một người con của xứ Huế, môn học nghiên cứu vốn cổ này không chỉ là một dịp để trở về thăm quê hương mà còn là một chuyến đi thú vị để khám phá sâu hơn về ý nghĩa văn hóa truyền thống của các công trình trên đất cố đô. Trước chuyến đi, tụi em đã có thời gian để tìm hiểu thông tin cũng như dữ liệu cho quá trình nghiên cứu nhưng khi đặt chân tới, tận mắt thấy, tận tay sờ thì mới cảm nhận được vẻ đẹp của các tác phẩm mỹ thuật truyền thống tại đây. Môn học này khá ý nghĩa khi tạo điều kiện cho chúng em biết, hiểu, từ đó, vận dụng vẻ đẹp hoa văn, đường nét các họa tiết cổ đó vào những sản phẩm hiện đại. Một tuần rong ruổi đi, vui có, mệt có, nhưng đây không chỉ là một chuyến đi trải nghiệm thực tế để nghiên cứu mà còn là chuyến đi lưu lại những kỷ niệm thầy trò đẹp đẽ. Chân thành cám ơn thầy Thi và tập thể nhóm 17 nhiều nhiều!!! 77ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
thuý ngỌc “Long” trên án thờ đình làng Vân Thê. “Long Mã” trên án thờ đình làng Vân Thê.
thuý ngỌc “Phụng” trên án thờ đình làng Vân Thê. “Quy” trên án thờ đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu huỳnh bùI ngỌc Chuyến tham quan và học tập tại thành phố Huế do trường tổ chức đã mang đến cho sinh viên khoa Mỹ Thuật và Thiết Kế chúng em một cơ hội quý báu để khám phá nghệ thuật và kiến trúc truyền thống Việt Nam. Hành trình bắt đầu với lăng Khải Định, chúng em được chiêm ngưỡng chi tiết điêu khắc tinh xảo và hoa văn trang trí công phu. Tiếp theo là Đại Nội Huế, những kiến trúc cổ kính mang đến tư liệu quý giá cho chúng em trong việc nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật. Quý thầy cô cũng đã giới thiệu chi tiết về lịch sử và giá trị văn hóa của di sản, giúp chúng em cảm nhận sâu sắc hơn. Điểm cuối cùng là đình làng Vân Thê nơi nghiên cứu chính của nhóm, một ngôi đình mang đậm nét kiến trúc truyền thống Việt Nam. Chúng em được học hỏi về cách bố trí không gian đình làng và vai trò của ngôi đình trong đời sống cộng đồng. Chuyến tham quan không chỉ là một chuyến đi thực tế mà còn là dịp để chúng em trau dồi kiến thức và kinh nghiệm, khơi gợi đam mê và tình yêu đối với văn hóa dân tộc. 83ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
bùI ngỌc “Long” trên mái Điện Kiến Trung - Đại nội Huế. “Long” trên mái đình làng Vân Thê.
bùI ngỌc “Phụng” trên mái đình làng Vân Thê. “Phụng” trên mái đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu maI nguYên quý ngỌc Môn nghiên cứu vốn cổ của Trường Đại học Văn Lang đã mang đến cho em những trải nghiệm sâu sắc và ý nghĩa. Nhờ sự hướng dẫn tận tình của thầy Thi và chuyến đi thực tế tại Huế, em được khám phá ba địa điểm lịch sử vô cùng quý giá: Đại Nội, Lăng Khải Định và Đình làng Vân Thê. Tại đây, chúng em không chỉ có cơ hội tìm hiểu sâu rộng về di sản văn hóa mà còn nhận thấy được sự trân quý, bảo tồn của những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Đây thực sự là một trải nghiệm đáng nhớ và là nguồn cảm hứng vô tận cho sự nghiên cứu và sáng tạo của em trong tương lai. Nhờ sự hướng dẫn tận tình của thầy Thi, chúng em đã có cơ hội khám phá và chiêm ngưỡng những nét đẹp tinh tế của hoa văn truyền thống tại đình làng Vân Thê. Đình làng Vân Thê không chỉ là một nơi lưu giữ di sản văn hóa quý báu mà còn là điểm đến thu hút những ai yêu thích và đam mê nghiên cứu văn hóa. Trải nghiệm này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn khơi gợi cho em về sự sáng tạo và lòng tự hào về văn hóa dân tộc Việt Nam. 89ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
quý ngỌc “La Hầu” trên án thờ đình làng Vân Thê. “La Hầu” trên án thờ đình làng Vân Thê.
quý ngỌc “La Hầu” trên án thờ đình làng Vân Thê. “La Hầu” trên án thờ đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu lê hoàI thẢo vY Chuyến đi học tập trải nghiệm môn Vốn Cổ lần này là một trải nghiệm tuyệt vời và đáng nhớ trong đời sinh viên của em. Huế không chỉ là một thành phố lịch sử mà còn là nơi có sự gắn kết sâu sắc với nghệ thuật và văn hoá truyền thống. Cảm giác được đắm mình trong không gian văn hóa Huế, từ những món ăn đặc sản Huế đến những đền chùa lăng miếu cổ kính, thực sự là một trải nghiệm tuyệt vời. Em đã có cơ hội thực hành trực tiếp các bài vẽ, khám phá những họa tiết truyền thống, làm việc nhóm với các bạn, được trải nghiệm tham quan, được vui, được cười, được cảm nhận mùa hè tuổi trẻ năm 20 tuổi. Chuyến đi này không chỉ mở rộng kiến thức chuyên môn của em mà còn giúp em hiểu rõ hơn về giá trị của nghệ thuật và văn hóa trong thiết kế. Em cảm ơn thầy Thi, người thầy đồng hành cùng tụi em trong môn Vốn Cổ lần này, thầy còn dắt tụi em đi ăn chè, quá là tuyệt! Cảm ơn các bạn trong team, mọi người làm việc nhóm rất tốt, ai cũng đáng yêu và giỏi cả. Đây là kỉ niệm đáng trân trọng, luôn biết ơn và cảm ơn những người đã đồng hành cùng em thời sinh viên này. 95ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
“Nghê” ở lăng Khải Định. thẢo vY “Nghê” ở đình làng Vân Thê.
“Nghê” ở đình làng Vân Thê. thẢo vY “Long Mã” ở đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu đInh ngỌc bẢo trân Em nghe nhiều về Huế, nhiều nhất chắc là qua những áng thơ ca. Huế có thật sự đẹp như vậy không, có cổ kính, hoài niệm và khiến người ta thương nhớ như bao thi sĩ từng viết? Sau chuyến đi thực tế này, em dường như có đáp án cho riêng mình. Huế cổ kính và trầm mặc, nhẹ nhàng và lãng du. Huế đẹp trong từng con phố, từng góc nhỏ. Con người Huế dịu dàng, thanh lịch và mến khách. Ẩm thực Huế tinh tế, phong phú với những món ăn mang đậm hương vị đặc trưng. Nhưng khiến em ấn tưởng hơn cả là kiến trúc Huế, lộng lẫy, cổ kính và nhuốm màu lịch sử. Mọi người đều nói thế hệ trẻ bây giờ thích những điều mới mẻ, đặc biệt thay những thứ xưa cũ đầy ắp câu chuyện như này lại mới mẻ với em. Em chưa từng thấy qua Đại nội tráng lệ mang bao thăng trầm của triều Nguyễn. Em chưa từng thấy vẻ đẹp tinh xảo của các lăng tẩm. Và cũng chưa thấy vẻ bình dị nhưng trang nghiêm của các đình làng nơi đây. Chuyến đi này cho em rất nhiều trải nghiệm và bài học mới. Dưới mái đình nhuốm màu thời gian, em học được về những điều đẹp đẽ xưa cũ, những điều mà em mong rằng nó có thể sống mãi với thời gian. 101ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
“Long Mã cưỡi sóng” ở đình làng Vân Thê. bẢo trân “Long Mã cưỡi mây” ở đình làng Vân Thê.
“Lưỡng Long chầu nguyệt” tại Cổng Tam Quan - Lăng Khải Định. bẢo trân “La Hầu” trên mái đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu trần nguYỄn bẢo trâm Trong chuyến đi Huế vừa qua để học môn “Nghiên Cứu Vốn Cổ” em đã được tham quan nhiều di tích lịch sử. Điểm đến đầu tiên là Lăng Khải Định em đã bị cuốn hút bởi kiến trúc độc đáo kết hợp giữa nghệ thuật truyền thống Việt Nam và phương Tây, tạo nên một công trình tuyệt mỹ và độc đáo. Tiếp theo, em đã được ghé thăm Kinh thành Huế. Nơi đây đã đưa em trở lại không gian lịch sử uy nghi của triều Nguyễn. Cung điện, đền đài, và các khu vực trong kinh thành đều toát lên vẻ uy nghi và trang trọng. Và điểm dừng chân cuối cùng, cũng là nơi mà nhóm em đã nghiên cứu trong chuyến đi này “đình làng Vân Thê”, một ngôi đình cổ kính mang đậm nét văn hóa truyền thống. Đình làng là nơi thờ cúng Thành Hoàng làng và là nơi tổ chức các lễ hội, hoạt động cộng đồng. Những bức hoành phi, câu đối và các tác phẩm điêu khắc trong đình đều mang đậm nét nghệ thuật dân gian, thể hiện sự phong phú và đa dạng của văn hóa truyền thống Việt Nam. Chuyến đi Huế đã mang đến cho em nhiều trải nghiệm quý giá và những cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp văn hóa và lịch sử của vùng đất cố đô. 107ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
Tượng Kỳ lân trong Hoàng thành Huế. bẢo trâm “Long” trên mái đình làng Vân Thê.
“Phụng” trên mái đình làng Vân Thê. bẢo trâm “Quy” trên mái đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu hoàng dIỆp thanh tâm Chuyến đi nghiên cứu vốn cổ ở Huế là một chuyến đi mà em đã mong chờ từ lâu, chuyến đi đã để lại trong em những ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp và giá trị văn hóa của cố đô. Từng bước chân trên những con đường cổ kính, em như được sống lại với không khí của một thời vang bóng. Các di tích lịch sử, đền đài, lăng tẩm đều toát lên vẻ đẹp trang nghiêm, uy nghi, thể hiện sự tinh tế trong nghệ thuật kiến trúc cổ. Huế còn mang lại cho em cảm giác yên bình lắng đọng. Những con người ở Huế nhẹ nhàng và luôn nhiệt tình giúp, những món ăn địa phương mang hương vị đậm đà mang một chất riêng mà riêng Huế mới có. Đình Văn Thê đã cho em cái nhìn sâu sắc hơn về một loại hình kiến trúc đặc trưng của Huế. Đình Văn Thê với kiến trúc độc đáo, những họa tiết chạm khắc tinh xảo trên các cột kèo, những bức hoành phi, câu đối cổ kính đã cho thấy sự giao thoa giữa văn hóa dân gian và bác học. Qua chuyến đi này, em càng thêm trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa. 113ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
“Hoành phi” ở cửa chính đình làng Vân Thê. thanh tâm “Hoành phi” ở cửa phụ đình làng Vân Thê.
“Long Mã cưỡi sóng” ở đình làng Vân Thê. thanh tâm “Long Mã cưỡi mây” ở đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu nguYỄn thị mInh thư Sau khi được trải nghiệm một tuần ở Thành phố Huế, cảm nhận của em là một hành trình văn hóa và lịch sử sâu sắc. Thành phố Huế không chỉ mang lại cho em những bất ngờ về di tích lịch sử và văn hóa lâu đời mà còn có một vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời và con người thân thiện, hiếu khách. Được tham quan những địa danh như Cố đô Huế, Đại Nội, Lăng vua,....cảm nhận được sự vĩ đại của lịch sử, sự linh thiêng, uy nghi của các kiến trúc cổ xưa. Bên cạnh đó, Huế còn là nơi em được trải nghiệm nhiều hơn về ẩm thực miền Trung tuyệt vời. Những món ngon như bánh ép, bánh bèo, bánh lọc… đã để lại dấu ấn tuyệt vời trong ký ức. Vừa ngon miệng mà còn biết thêm một phần của văn hóa ẩm thực đậm đà của người Huế. Cuối cùng, không thể không nhắc đến sự hiếu khách và thân thiện của người dân Huế. Họ luôn nhiệt tình, sẵn sàng giúp đỡ và chia sẻ những câu chuyện thú vị về đời sống, lịch sử và văn hóa địa phương. Tóm lại, tuần đi học thực tế ở Huế không chỉ là một trải nghiệm học thuật mà còn là một hành trình khám phá lịch sử văn hóa và con người, để lại nhiều kỉ niệm thú vị cho em về thành phố này. 119ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
“Hoành phi” ở cửa chính đình làng Vân Thê. “Hoành phi” ở cửa phụ đình làng Vân Thê. mInh thư
mInh thư “Long” trên mái Nhật Thành Lâu - Đại nội Huế. “Long” trên mái Điện Thái Hoà - Đại nội Huế.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu lương thị quỳnh như Điều đầu tiên khi nhắc đến chuyến đi trải nghiệm học môn Vốn cổ tại Huế mà mình không thể quên được, đó chính là cái nắng nóng tháng 6 tại đây. Khi tới nơi, mình ngỡ là bản thân đang ở trong một cái phòng xông hơi có sức nóng lên đến 40 độ. Nhưng điều này cũng khiến cho trải nghiệm của mình ở Huế thêm một chút thú vị hơn. Huế được biết đến là một thành phố cổ kính, có bề dày lịch sử lâu đời. Mình đã liên tục thốt lên từ “quao” vì sự đẹp cổ kính của thành phố thơ mộng này. Những ngày nghiên cứu tại Đình làng Vân Thê – một nơi cách rất xa trung tâm thành phố, tuy vất vả vì cái nóng kinh hoàng của Huế, thì nhóm chúng mình đã làm việc rất năng suất và hiệu quả. Được biết thêm nhiều câu chuyện lịch sử mà trước đây chưa ai kể cho mình nghe là điều thu hút cho bản thân mình nhất trong trải nghiệm 7 ngày 6 đêm này. 125ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
“Long” trên án thờ ở đình làng Vân Thê. quỳnh như “Long Mã” trên án thờ ở đình làng Vân Thê.
“Quy” trên án thờ ở đình làng Vân Thê. quỳnh như “Phụng” trên án thờ ở đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu nguYỄn phạm phú vInh Chuyến đi nghiên cứu ở Huế là một trải nghiệm tuyệt vời mà em không thể quên. Đến với thành phố cổ này, em đã được chìm đắm trong không khí lịch sử và văn hóa rất đặc trưng. Từ những di tích cổ xưa như Cố đô Huế, Lăng Khải Định, đến những đền, miếu linh thiêng như Vân Thê, mỗi nơi đều là một trải nghiệm về sự giàu có văn hóa và truyền thống nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Cảm giác yên bình và thanh tịnh của Huế cũng là điều khiến em ấn tượng mạnh. Những con đường ven sông Hương, những buổi sáng sớm trong lành hay những bữa ăn với những món ăn đậm đà hương vị địa phương đều là những kỷ niệm đẹp không thể nào quên được. Không chỉ vậy, những cuộc trò chuyện với các bạn chung nhóm, những người bạn tin cậy cũng đã giúp em mở rộng tầm nhìn và củng cố kiến thức chuyên môn của mình. Chuyến đi nghiên cứu vốn cổ ở Huế không chỉ là việc tìm hiểu kiến thức mà còn là một hành trình khám phá bản thân và tìm lại sự bình yên trong cuộc sống hối hả ngày nay. 131 ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
“Nghê” tại đình làng Vân Thê. phú vInh “Nghê” tại đình làng Vân Thê.
“Phụng” trên mái đình làng Vân Thê. phú vInh “La Hầu” trên mái đình làng Vân Thê.
hoạ tIết cá nhân nghIên cỨu nguYỄn trần gIa hân Chuyến đi nghiên cứu vốn cổ tại Huế năm 2024 là một trải nghiệm rất đặc biệt và tuyệt vời. Thành phố cổ này nổi tiếng với di sản văn hóa lịch sử lâu đời và em đã hân hạnh được khám phá di tích lịch sử như Cố đô Huế và Lăng Khải Định có giá trị văn hóa sâu sắc. Ngoài ra còn được ghé thăm đình làng Vân Thê ở xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy. Em cảm thấy rất may mắn khi được đến và nghiên cứu thêm về nơi đây. Đình làng Vân Thê có một kiến trúc đẹp và có lịch sử lâu đời. Nơi này đang thờ ông Chế Văn Kiệt, bổn thổ thành hoàng làng và tám vị khai canh thuộc họ Chế, Nguyễn, Phan, Đỗ, Trần, Hoàng, Văn, Lê. Những vật ở nơi đây đều được chạm khắc vô cùng tỉ mỉ và đẹp mắt. Thông qua chuyến đi này em không chỉ được học thêm nhiều kiến thức mà còn được thưởng thức những món đặc sản ngon miệng và ngắm nhìn cảnh quan thơ mộng, yên bình của nơi đây. Cám ơn thầy cô và ban giám hiệu trường Đại học Văn Lang đã cho chúng em cơ hội để đến thăm xứ Huế mộng mơ. 137ĐÌNH LÀNG VÂN THÊ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
“Long” trên án thờ đình làng Vân Thê. gIa hân “Long Mã” trên án thờ đình làng Vân Thê.
“Quy” trên án thờ làng Vân Thê. gIa hân “Phụng” trên án thờ đình làng Vân Thê.
Ứng dụng bộ vĂn phòng phẩmbộ tem “vân thê” travel kIt
quá trình, và so sánh, nhận định, đánh gIá
đình làng vân thê sơ lược Đình làng Văn Thê đang thờ ông Chế Văn Kiệt, bổn thổ thành hoàng làng và tám vị khai canh thuộc họ Chế, Nguyễn, Phan, Đỗ, Trần, Hoàng, Văn, Lê. so sánh nhà thờ hỌ chế vân thê sơ lược Nhà thờ họ Chế Vân Thê là đền thờ riêng biệt của họ Chế thay vì cả tám vị khai canh như đình làng Vân Thê. Có 2 lễ lớn được tổ chức hàng năm ở đây, đầu tiên là lễ cúng cá đặc trưng của người Champa vào tháng 2 hàng năm và lễ cúng thành hoàn Chế Văn Kiệt vào ngày 14.7 hàng năm. 146 147 THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
đình làng vân thê kIến trúc Đình làng Vân Thê là một công trình kiến trúc đẹp, gồm có La thành, Long đình, Tiền đàn với các trụ biểu chầu rồng chạm khắc tỉ mỉ...đặc biệt là Nội đình gồm ba gian hai chái dựng theo kiểu nhà rường được các nghệ nhân khắc trổ tinh vi. Trên nóc tiền đàn đình Vân Thê có bộ tứ linh và Rồng chầu mặt nguyệt. Mái lợp ngói âm dương, các quyết đều có giao hóa. Mái trước tiền đàn bố trí rèm tàu theo đường hoa văn nhích nhắc. Bốn trụ trước có long phụng quấn quanh. Các trụ phía sau và hai cửa hông có các câu đối bằng chữ Nho. Trên 3 cửa vào ra nội đình bố trí ba bức hoành phi bằng chữ Nho. Tất cả các kết cấu trang trí của tiền đàn đều gắn mẻ sành, mẻ chai, kính tráng thủy có màu sắc rực rỡ. THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ so sánh nhà thờ hỌ chế vân thê kIến trúc Về nhà thờ họ Chế Vân Thê, khác với đình làng, nhà thờ họ chế được xây dựng theo kiến trúc đặc trưng của Champa, được làm từ chất liệu gạch nung, có màu đỏ sẫm kết hợp với dạng khối hình trụ, vuông,... đặc trưng. Phần lớn công trình kết cấu, lắp xếp bằng gạch thẻ không trát vữa đặc trưng nét văn hóa Chăm. Những cổng vòm, khung vòm đặc trưng cùng các đường nét hoa văn, phù điêu độc đáo. Khi chuẩn bị xây dựng ngôi nhà thờ Chăm, con cháu dòng họ Chế đã đặt mua các nguyên vật liệu “đặc biệt”, các phù điêu hoa văn, tượng trang trí, gạch không trét mạch... ở tận tỉnh Ninh Thuận. Tại nhà thờ họ Chế này lưu giữ kha khá những hiện vật Chămpa quý hiếm như: cặp voi thần Gadixi, 2 bức tượng ở trụ chính nhà thờ, cùng với một phiến đá cổ có khắc chữ viết mà người Champa xưa từng sử dụng. QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ 148 149
đình làng vân thê kIến trúc THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ so sánh nhà thờ hỌ chế vân thê kIến trúc 150 151
đình làng vân thê hoạt động vĂn hoá tín ngưỡng Tại đình làng Vân Thê có 2 lễ chính được tổ chức tại làng, ngày 4 tháng Giêng hàng năm có lễ Sum Tụ với mục đích để cầu bình an, và mùng 5 mùng 6 tháng 7 âm lịch hàng năm có lễ Thu Tế. THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ so sánh nhà thờ hỌ chế vân thê Có 2 lễ lớn được tổ chức hàng năm ở đây, đầu tiên là lễ cúng cá đặc trưng của người Champa vào tháng 2 hàng năm và lễ cúng thành hoàn Chế Văn Kiệt vào ngày 14 tháng 7 hàng năm. QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ hoạt động vĂn hoá tín ngưỡng 152 153
nhận định gIá trị đình làng vân thê vĂn hoá - lịch sử Trong quá trình tồn tại và phát triển, đình Vân Thê đã để lại những dấu ấn lịch sử - văn hoá quan trọng, hun đúc nên truyền thống đoàn kết gắn bó giữa các dòng họ ngay từ những ngày đầu lập làng. Truyền thống đó không ngừng được phát huy qua các thời kỳ lịch sử, trong cuộc đấu tranh chống lại thiên nhiên và các thế lực ngoại xâm xây dựng và bảo vệ cuộc sống. Có thể nói đình Vân Thê ngay sau khi hình thành đã trở thành trung tâm nơi tổ chức, khơi dậy và bảo lưu một cách tốt nhất, đầy đủ nhất những giá trị văn hoá truyền thống của một cộng đồng dân cư, hình thành nên những quan niệm tình cảm lối sống, những thuần phong mỹ tục, tình làng nghĩa xóm giữa con người với quê hương đất nước. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình làng Vân Thê đã trở thành một địa danh lịch sử tiêu biểu có nhiều đóng góp quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Đặc biệt trong cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1968, đình Vân Thê đã có những đóng góp xứng đáng góp phần tạo nên những thắng lợi quyết định mà cụ thể là trụ sở cánh Nam của mặt trận Huế 68, là nơi khai sinh ra tiểu đội 11 cô gái Vân Dương và điều đáng nói là cả 11 cô gái đều là con em của làng Vân Thê anh hùng mà những chiến công của họ đã vượt biên giới quốc gia, là niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam anh hùng, sinh ra trong thời đại anh hùng tô điểm thêm truyền thống vẻ vang xứng danh là con cháu bà Trưng, bà Triệu... Những giá trị lịch sử văn hoá đó sẽ tồn tại mãi mãi với thời gian và sẽ có tác dụng thiết thực trong việc giáo dục tinh thần đoàn kết, truyền thống đấu tranh kiên cường của các thế hệ cha anh lớp trước đối với thế hệ con cháu mai sau. Giờ đây đình Vân Thê đã và đang phát huy vị trí vai trò của mình trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới, góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Những giá trị khoa học, lịch sử ở đình Vân Thê sẽ là bài học kinh nghiệm quý báu, góp phần làm phong phú thêm lịch sử quân sự nước nhà đó là chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện, lấy dân làm gốc. Vì vậy việc Bảo tàng tỉnh Thừa Thiên Huế tiến hành nghiên cứu xây dựng hồ sơ di tích lịch sử đình Vân Thê đề nghị Nhà nước công nhận xuất phát từ yêu cầu khách quan, từ những giá trị lịch sử, khoa học của di tích mà đó còn là nguyện vọng tha thiết chính đáng của đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Thuỷ Thanh nói chung và con dân các dòng họ ở làng Vân Thê nói riêng. Và chúng ta tin rằng ở bên kia thế giới những đồng bào, đồng chí thân yêu của chúng ta đã ngã xuống vì nền độc lập của dân tộc vì một nước Việt Nam hoà bình giàu mạnh chắc hẳn cũng đồng tình và mãn nguyện. kIến trúc - nghỆ thuật Kiến trúc của đình làng Vân Thê là một biểu tượng tuyệt vời của nghệ thuật truyền thống và sự khéo léo của các nghệ nhân Việt Nam. Mái đình được thiết kế theo kiểu “chồng diêm” với ngói âm dương đặc trưng, tạo nên vẻ bề thế và thanh thoát cho công trình. Hệ thống cột gỗ lim vững chắc, 16 cột được kết cấu chặt chẽ với 2 dàn kèo chắc chắn. Phần mái của đình được chia làm 2 phần: Nhà tiền đường tiếp giáp nội đình được lợp bằng ngói ống, nhà nội đình được lợp ngói liệt, bờ nóc, dải đầu dao, máng sối được trang trí rất khéo léo, tỉ mỉ từng chi tiết, long chầu nhật, cá chép vượt vũ môn, chim, phụng, kỳ lân. Không chỉ thể hiện sự tài hoa của người thợ mà còn mang đậm giá trị tâm linh và thẩm mỹ. Các bức hoành phi, câu đối, và các bức chạm khắc miêu tả cảnh sinh hoạt dân gian được bố trí hài hòa, tạo nên một không gian trang nghiêm mà gần gũi. Kiến trúc đình làng Vân Thê không chỉ đáp ứng nhu cầu thờ cúng và sinh hoạt cộng đồng, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, phản ánh sâu sắc đời sống văn hóa và tinh thần của người dân địa phương. 154 155 THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ
đánh gIá quá trình làm vIỆc nhóm Huế mang vẻ đẹp trầm mặc và kiêu hùng của cố đô và qua chuyến đi chúng em cảm nhận rõ được điều đó. Từ Đại Nội Huế sừng sững, uy nghi với những bức tường thành cổ kính, mái ngói cong cong rêu phong đến các tẩm của các vị vua nhà Nguyễn với sự uy nghi tráng lệ, đều khiến chúng em học thêm được nhiều điều về kiến trúc cũng như văn hoá lịch sử đất nước ta. Bên cạnh đó để lại nhiều ấn tượng nhất là đình làng Vân Thê, nơi nghiên cứu và làm việc chính của chúng em trong những ngày ờ Huế. Không quá đồ sộ như những công trình kiến trúc lớn, đình làng tuy cổ kính, mộc mạc nhưng vẫn mang đậm vẻ đẹp của kiến trúc xưa với các hoạ tiết chạm khắc tinh tế, khảm sành sứ đặc trưng,..Từ đó, khiến chúng em hiểu rõ hơn về những nét đẹp của kiến trúc và trạm khắc. Đồng thời cũng cảm nhận được phần nào sự tỉ mỉ, kỳ công để tạo ra những nét đẹp trường tồn đến hiện nay của các nghệ nhân. 157156 QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊTHANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ
159 QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ | THANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊTHANH VÂN HỮU LỘ, CHÍ VÂN THÊ | QUÁ TRÌNH, SO SÁNH, NHẬN ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ 158
“Thanh vân hữu lộ, chí vi thê” Huế và những công trình ở Huế, cổ kính nhưng đầy mới mẻ và bất ngờ. Mới mẻ cho những ai lần đầu đến, bất ngờ cho những ai đào sâu vào những câu chuyện để tìm kiếm các giá trị xưa cũ. Như đình làng Vân Thê nằm ở một góc nhỏ của Huế lặng lẽ qua năm tháng nuôi dưỡng những nét văn hoá tín ngưỡng từ ngày xưa. Kiến trúc cổ kính với những nét nghệ thuật đặc trưng của thời đại từ nghệ thuật khảm sành sứ đến các hoạ tiết quen thuộc trong văn hoá nước ta. Đình làng cũng mang những câu chuyện, câu chuyện của quá khứ ẩn trong sông núi kề bên, câu chuyện của đình trong những hoạ tiết. Cả câu chuyện vừa rồi về đình mà nhóm chúng em gửi đến người đọc.
nộI dung Đinh Ngọc Bảo Trân phỏng vấn Đinh Ngọc Bảo Trân Ứng dụng Nguyễn Thị Tuyết Ngân hình Ảnh Nguyễn Thị Tuyết Ngân Huỳnh Bùi Ngọc Phan Thuý Ngọc Lê Hoài Thảo Vy dỰng phIm Nguyễn Thị Tuyết Ngân Huỳnh Bùi Ngọc Lương Thị Quỳnh Như Trần Nguyễn Bảo Trâm đo đạc số lIỆu Nguyễn Phạm Phú Vinh Nguyễn Trần Gia Hân Mai Nguyên Quý Ngọc Trần Nguyễn Bảo Trâm vector nhóm Nguyễn Phạm Phú Vinh Nguyễn Trần Gia Hân Mai Nguyên Quý Ngọc Trần Nguyễn Bảo Trâm Lê Hoài Thảo Vy Lương Thị Quỳnh Như Hoàng Diệp Thanh Tâm Nguyễn Thị Minh Thư laYout Nguyễn Thị Tuyết Ngân Phan Thuý Ngọc Mai Nguyên Quý Ngọc mInh hoạ Hoàng Diệp Thanh Tâm Nguyễn Thị Minh Thư thIết kế bìa Nguyễn Thị Tuyết Ngân Hoàng Diệp Thanh Tâm Nguyễn Thị Minh Thư CHÚNG EM TRÂN TRỌNG CẢM ƠN SỰ ĐỒNG HÀNH CỦA THẦY TRẦN VĂN THI
tàI lIỆu tham khẢo Ô Châu Cận Lục - Dư Văn An Việt Sử xứ đàng trong - Phan Khoang Phủ biên tạp lục - Lê Quý Đôn Sự thật về “Lưỡng long chầu nguyệt” - Báo Vietnam.net Song Long Chầu Nguyệt - Biểu Tượng Của Tín Ngưỡng Thờ Cúng - Gốm Sứ Long Loan Hình tượng rồng trong kiến trúc di tích cố đô Huế - ashui Những thần thú trong tâm thức Việt: Rùa trường thọ - hiện thân của đất trời - Báo Pháp luật Con rùa và tín ngưỡng Việt - Báo Ngành Báo Chí Ý nghĩa hình ảnh Hạc Đứng Trên Lưng Rùa trong Văn Hoá Việt - Đồ đồng Dung Quang Hà Ý nghĩa của Hạc Đứng Trên Lưng Rùa trong thờ cúng - Đồng Đông Sơn Hà Đồ, Lạc Thư ẩn tàng chữ Vạn của Phật gia, Thái cực của Đạo gia - Báo Tri Thức Hình ảnh chim phượng (phụng) trong văn hoá, tín ngưỡng - Gốm sứ Hà Thành Bát Bửu và ý nghĩa của dàn Bát Bửu - Đồ gỗ Hưng Long Nét độc đáo của nghệ thuật khảm sành sứ Huế qua một số công trình kiến trúc thời Nguyễn tiêu biểu - Trang thông tin điện tử Văn nghệ Huế Nghề khảm sành sứ - Nghệ thuật từ mảnh vỡ ghi dấu ấn trường tồn lên những công trình trăm tuổi đặc trứng xứ Huế - Cổng thông tin điện tử Bộ Văn Hoá, Thể Thao và Du Lịch Di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia Đình Làng Vân Thê, xã Thuỷ Thanh, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế - UBND Thuỷ Thanh thị xã Hương Thuỷ Giải mã hình con dơi trên các ngôi đình - Báo Đắk Lắk điện tử Hình tượng La Hầu trong văn hoá kiến trúc dân gian - Sở Văn Hoá và Thể Thao Thành Phố Hà Nội Hình tượng con nghê trong văn hoá Việt - Báo Thanh Hoá hình Ảnh Tổ Quốc - Báo điện tử của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Báo VN Express Báo Hà Nội mới Morin Hotel Nhiếp ảnh gia Lê Văn Anh Tài
Mọi người thường nghĩ gì khi nhắc về Huế? Đại Nội Huế, các kiến trúc lăng tẩm hay chùa chiền? Hay dòng sông Hương trải dài góp mặt trong vô vàn các áng văn chương? Đây đều là những nét đẹp đặc trưng ở Huế, nhưng mọi người có từng nghĩ, đình làng thì sẽ mang những nét đẹp về kiến trúc, nghệ thuật và văn hoá như thế nào hay không? Đình làng Vân Thê là một phần nhỏ của nét đẹp Huế, đình làng này thờ bổn thổ thành hoàng làng và tám vị khai canh, và là nơi sinh hoạt cộng đồng cũng như sinh hoạt tín ngưỡng của dân làng. Đình làng Vân Thê mang trên mình những nét đặc sắc của kiến trúc Huế, từ kiến trúc cho đến nghệ thuật khảm sành sứ đặc trưng của thời Nguyễn hay những họa tiết hoa văn đặc trưng trong văn hoá dân tộc. Đây sẽ là một hành trình để tìm hiểu về những nét đẹp đó, đi nguồn gốc ban sơ đến làm rõ từng nét đẹp của kiến trúc và nghệ thuật nơi đây qua hình ảnh cụ thể và những nét văn hoá tín ngưỡng gắn liền với nó.