Vutramy 0001492 EDB A2

View Vutramy 0001492 EDB A2 flipbook.

1

2

3 Mục Lục I. Tổng quan 1. Địa lý 2. khí hậu 3. Lịch sử II. Cộng đồng 1. NGƯỜI thái 2. NGƯỜI MÔNG 2. các dân tộc khác III. Văn hóa 1. điệu xòe cổ 2. lễ hội áp ho 3. rượu cần 4. chợ phiên IV. Ẩm thực 1. Nông sản 2. Món ăn 3. Gia vị

4 I. TỔNG QUAN Sơn La là một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Bộ, miền Bắc Việt Nam. 4

5 1. ĐỊA LÝ Tỉnh Sơn La có toạ độ địa lý: 20o37’ - 22o02’ vĩ độ Bắc và 103o11’ - 105o02’ kinh độ Đông. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Chiềng Cơi, nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 302 km. Sơn La có độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt biển, địa hình chia cắt sâu và mạnh, 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã, có 2 cao nguyên là Cao nguyên Mộc Châu và Cao nguyên Sơn La, địa hình tương đối bằng phẳng. Sơn La có dòng sông Mã, sông Đà đi qua, phù sa từ hai con sông này đã bồi nên những thung lũng, 2 dòng sông này còn gây ra tình trạng xâm thực, sức nước mạnh khoét sâu vào các ngọn đồi, làm sụp những phần đất cao và mở rộng thung lũng ra. Cùng với các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La là mái nhà của khu vực Bắc Bộ. Địa hình phần lớn là đồi núi, trong đó các đồi núi cao tập trung ở các huyện Sốp Cộp, Thuận Châu, Bắc Yên,... Phía Đông là các cao nguyên rộng lớn như cao nguyên Mộc Châu, đây là nơi có đồng cỏ lớn, là nơi chăn nuôi gia súc phù hợp.

6 Do địa hình bị chia cắt sâu và mạnh nên nơi đây hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu, cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú. Vùng cao nguyên Mộc Châu phù hợp với cây trồng và vật nuôi vùng ôn đới. Vùng dọc sông Đà phù hợp với cây rừng nhiệt đới xanh Mùa mưa kết thúc khá sớm vào khoảng đầu tháng 9 và bắt đầu một mùa khô kéo dài khốc liệt đến tận cuối tháng 4 năm sau gây ra tình trạng khô hạn và thiếu nước. Gió tây khô nóng vào những tháng cuối mùa khô đầu mùa mưa (tháng 4-6) là yếu tố gây ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Sương muối, mưa đá, lũ quét là yếu tố bất lợi. Tỉnh Sơn La có vị trí nằm trong khu vực thuộc đới gió mùa chí tuyến của miền khí hậu phía bắc, nên khí hậu mang sắc thái nhiệt đới, ẩm, gió mùa, có mùa đông lạnh với những nét đặc trưng riêng. 2. KHÍ HẬU

7 3. LỊCH SỬ Vào thời nhà Lý, thế kỷ 11-12, vùng trung tâm tỉnh Sơn La ngày nay (gồm thành phố Sơn La, các huyện Mường La, Thuận Châu (Mường Muổi), Mai Sơn,...) là khu vực lãnh thổ định cư của một vương quốc được ghi nhận trong Đại Việt sử ký toàn thư tên là Ngưu Hống. Ngày 24 tháng 5 năm 1886, thành lập châu Sơn La (thuộc phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hoá), tách từ tỉnh Hưng Hóa thành cấp tương đương với tỉnh. Thiếu tá De Chate- aurochet làm Phó công sứ Sơn La. Sau năm 1946, tỉnh Sơn La cùng với hai tỉnh Lai Châu và Phong Thổ (do Pháp lập ra) lập thành “Xứ Thái tự trị”nằm dưới sự chỉ đạo của Pháp. Bạc Cầm Quý làm tỉnh trưởng Sơn La. Từ năm 1948 đến 1953, thuộc Liên khu Việt Bắc. Ngày 3 tháng 9 năm 2008, chuyển thị xã Sơn La thành thành phố Sơn La.

8 Truyền thuyết kể lại rằng: “Có một con rồng, ngao du khắp bốn phương trời, đi qua vùng này thấy sơn thuỷ hữu tình, cảnh vật như tranh, khí hậu ôn hoà bèn dừng lại làm chỗ nghỉ chân. Với diện tích 6.915m2, Hang Dơi xưa được người Thái gọi là hang Sa lai (Hang Nước) vì trong lòng núi có mạch nước ngầm lớn trong xanh mát lạnh chảy quanh năm không bao giờ cạn, là nguồn nước cho bà con thị trấn Mộc Châu. Sở dĩ có tên Hang Dơi vì xưa kia có những đàn dơi lớn cư ngụ trong hang, nay chúng đã di cư đi nơi khác, vì thế sau này Hang Dơi trong nhiều sách trải nghiệm mang một cái tên mỹ miều hơn là động Sơn Mộc Hương. là một trong những hang động đẹp nhất tỉnh Sơn La, một động đá tự nhiên nằm ở dưới dãy núi đá trùng điệp về phía Đông Bắc thị trấn Mộc Châu. Sơn Mộc Hương Động hay còn gọi là hang Dơi - “Tây Thiên Đệ Nhất Động” Dãy núi có hang động, được ví là nơi thân rồng nằm, cảnh sắc trong ngày thay đổi ngoạn mục, trắng ngần lúc ban mai, xanh biếc buổi trưa, rực hồng buổi chiều, tím biếc hoàng hôn. Sau rồng trả ơn cho vùng đất đã nhả 7 viên ngọc là 7 quả núi tạo nên hang đá. Khi tiến hành nghiên cứu, nhiều nhà khảo cổ học đã tìm thấy các hiện vật chứng minh người Việt cổ đã từng sống ở đây từ 10.000 đến 15.000 năm (thời kỳ văn hóa Hòa Bình) với những mảnh đá có hình dạng chiếc rìu, giáo, mác và một số đồ gốm hiện nay vẫn còn sót lại trong hang.

9

10 Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hang Dơi cũng là một cơ sở cách mạng, là nơi đóng quân, cất giấu vũ khí của quân đội. Đoàn quân Tây Tiến trung đoàn 174 thuộc sư 316 đã từng trú quân ở đây để tăng cường cho chiến dịch Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Hiện nay, trên vách đá cửa hang vẫn còn những bút tích của các chiến sỹ ghi lại, đánh dấu quãng thời gian lịch sử nơi đây: “Thà hy sinh tất cả để cho Tổ quốc quyết sinh”.

11 Được phát hiện năm 1965 ở lưng chừng ngọn núi Cằm, thuộc địa phận thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, đây là một chứng tích quý giá về công cuộc bảo vệ biên cương Tây Bắc của nhà Hậu Lê. Theo sử chép, vào năm 1440, Vua Lê Thái Tông cùng quân sĩ thân chinh trấn Miền Tây đi đánh thổ quân phản nghịch tên là Thượng Nghiễm ở Châu Mường Muổi (Nay là huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). Vua đi tới đâu cũng được nhân dân ủng hộ nên quân của triều đình đã nhanh chóng dẹp tan bọn phản loạn. Trên đường về, vua cùng quân sỹ nghỉ chân tại Động La, còn được người dân địa phương gọi là “Thẳm báo ké” (Hang trai già) hay “Thẳm mỏ tóm” (Hang nồi đồng). Vua thấy nơi đây cảnh đẹp, địa lý thuận lợi, nhà vua đã để lại bài thơ “Quế Lâm động chủ ngự chế” trên vách động và lời tựa gồm 14 dòng, mỗi dòng 10 chữ với 140 chữ Hán. văn bia Quế Lâm Ngự Chế

12 Đúng một năm sau, vua Lê Thái Tông lại kéo quân lên dẹp loạn nghịch Nghiễm ở châu Mường Muổi. Từ đây dải đất biên cương phía Tây Đại Việt đã được bình yên. Quế Lâm linh tự Được nhân dân ủng hộ, quân của triều đình đã nhanh chóng bắt được tướng Ai Lao là Đao Mông và con của Thượng Nghiễm là Sinh Tượng và Tràng Đồng ở Động La. Thượng Nghiễm ra hàng và chịu tội.

13 Để ghi nhớ công đức của vua Lê Thái Tông, văn bia Quế Lâm Ngự Chế đã được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia từ năm 1994. Phía dưới vị trí tìm thấy văn bia, tỉnh Sơn La đã cho xây dựng ngôi đền thờ Vua Lê Thái Tông và quân sỹ của ông. Ngôi đền khánh thành ngày 22/01/2003 có tên là “Quế Lâm linh tự” (Đền thiêng Quế Lâm).

14 II. Cộng đồngSơn La là ngôi nhà chung của 12 dân tộc anh em (chủ yếu là Thái, Mông, Kinh, Mường, Dao...), trong đó đồng bào dân tộc Thái chiếm phần lớn dân số. Cộng đồng các dân tộc tại đây cùng chung sống hòa hợp, tạo nên một bức tranh văn hóa Tây Bắc đa dạng, đậm đà bản sắc và gắn kết chặt chẽ.

15 người THÁI Từ thế kỷ XI, người Thái sinh tụ ở Việt Nam trong một cộng đồng được sử sách cũ gọi là nước Ngưu Hống. Thực thể này đãđược Đại Việt Sử ký Toàn Thư (Bảnkỷ, Q.4a) ghi nhận: “Đinh Mùi/Long Chương Thiên Tự/năm thứ 2 [1067]. Mùa xuân, tháng 2, các nước Ngưu Hống, Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi và các thứ sản vật địa phương”. Ngưu Hống được phiên âm từ Ngu Hấu trong tiếng Thái, có nghĩa là Rắn Hổ Mang, một biểu trưng của lá cờ trận thời cổđại của người Thái Đen. Nhắc đến văn hóa Thái là nhắc đến những nếp nhà sàn hình mái túp cống úp súp bên dòng suối, chiếc khăn Piêu thêu tay tinh xảo và điệu Xòe cổ đã được UNESCO ghi danh.

16 Đồng bào dân tộc Mông là cộng đồng dân tộc thiểu số lớn thứ hai tại Sơn La, sinh sống tập trung chủ yếu ở các vùng cao, vùng sâu và vùng xa có địa hình hiểm trở. Cuộc sống của họ gắn liền với tập quán canh tác trên nương rẫy, trồng ngô, cây ăn quả và phát triển chăn nuôi gia súc lớn. Người Mông vẫn bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống độc đáo, tiêu biểu là tiếng khèn, nghệ thuật thêu hoa văn trên trang phục và lễ hội Gầu Tào. NGƯỜI MÔNG

17 CÁC DÂN TỘC KHÁC Các dân tộc còn lại như Kinh, Mường, Dao, Xinh Mun, La Ha và Khang cùng chung sống đan xen, đóng góp vào sự đa dạng của phong tục, tiếng nói và hoạt động sản xuất.

18 III .VĂN HÓA Sơn La - vùng đất có nền văn hóa đa dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc; là nơi hội tụ, sinh sống từ lâu đời của 12 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có một kho tàng di sản văn hóa đặc sắc mang sắc thái riêng. Những giá trị tinh thần quý báu đó đã được truyền qua bao thế hệ con người Sơn La, được hun đúc và trở thành truyền thống tốt đẹp của văn hóa, con người Sơn La.

19 1. ĐIỆU XÒE CỔ Xòe cổ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh vào năm 2021, đóng vai trò là “linh hồn” trong đời sống tinh thần của người Thái vùng Tây Bắc. Xòe cổ luôn phát triển theo vòng tròn uốn lượn quanh đốm lửa trại hoặc vò rượu cần, mở rộng dần không giới hạn số lượng người tham gia. Gốc của nghệ thuật Xòe gồm 6 điệu Xòe cổ kinh điển, phản ánh trọn vẹn triết lý nhân sinh, lòng hiếu khách và tính cộng đồng

20 2. LỄ HỘI ÁP HOLễ hội Áp Ho (Lễ hội Gội đầu) là nghi thức độc đáo của người Thái Trắng tại Sơn La, diễn ra bên bến sông Đà vào chiều 30 Tết. Sử dụng nước thảo mộc từ gạo nếp ủ chua và lá rừng, người phụ nữ xõa tóc gột rửa hết những muộn phiền, xui xẻo của năm cũ để đón may mắn cho năm mới. Đây là nét văn hóa tâm linh rực rỡ, tôn vinh trọn vẹn vẻ đẹp thuần khiết và kiêu hãnh của phụ nữ miền sơn cước.

21 3. RƯỢU CẦN Trong văn hóa ẩm thực Sơn La, rượu nếp cẩm không đơn thuần là thức uống lên men, mà là “sợi dây mềm” kết nối tình thân. Được ủ từ những hạt nếp cẩm than dẻo thơm trồng trên nương cao kết hợp với men lá rừng truyền thống, rượu nếp cẩm mang sắc đỏ tím sánh đậm, vị ngọt hậu nồng nàn và êm dịu. Người Sơn La hiếu khách nghiêng vò rượu cần nếp cẩm bên bếp lửa hồng nhà sàn. Tiếng cụng chén, lời hát Khắp Thái ngân nga cùng nhịp xòe nồng nàn khiến chén rượu nếp cẩm trở thành biểu tượng cho sự chân thành, đậm đà tình nghĩa vùng cao.

22 4. CHỢ PHIÊN Gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc Sơn La, chợ phiên từ lâu đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa đặc sắc, không thể thiếu. Đây vừa là nơi giao thương, trao đổi mua bán sản vật địa phương, vừa là không gian văn hóa sống động, nơi kết nối cộng đồng và trở thành điểm đến du lịch đặc sắc thu hút đông đảo du khách.

23 Chợ phiên quyến rũ bởi mùi thơm của thắng cố, chảo rượu ngô bốc khói, sắc váy áo rực rỡ của các cô gái H’Mông và tiếng khèn Mông dạo đà hẹn hò. Đến chợ phiên là chạm vào nhịp sống nguyên bản, hồn nhiên và sinh động nhất của con người miền Tây Bắc. Cứ đến ngày thứ Bảy hằng tuần, bà con từ các bản của xã Chiềng Lao trong trang phục truyền thống mang theo các sản vật về chợ phiên tại trung tâm xã để trao đổi, mua bán. Tại đây, mọi người không chỉ đến để mua sắm các sản vật địa phương, như rau củ, gia súc, đến trang phục thổ cẩm, mà còn để gặp gỡ, giao lưu và trao đổi văn hóa, tạo nên một bức tranh sinh động và đầy sức sống.

24 III. ẨM THỰC Ẩm thực Tây Bắc tận dụng triệt để nguồn nguyên liệu tự nhiên từ núi rừng như rau rừng, măng đắng, cá suối và lợn bản. Các món ăn luôn nổi bật với hệ gia vị đặc trưng mang hương vị nồng nàn, cay ấm như mắc khén, hạt dổi và sả. Phương pháp chế biến chủ đạo rất mộc mạc, giữ trọn vị nguyên bản qua các kỹ thuật như nướng than hồng, gói lá vùi tro hay gác bếp hun khói.

25 1. NÔNG SẢN Táo Mèo (Bắc Yên, Mường La): Quả nhỏ rám vàng mọc trên đỉnh núi cao, vị chua chát đặc trưng là nguyên liệu vàng để ủ nên những vò rượu Táo Mèo thơm nồng. Xoài tròn Yên Châu: Giống xoài bản địa trái nhỏ, vỏ xanh ngả vàng, tỏa mùi thơm nồng nàn cùng vị ngọt đậm đà khó lẫn. Chè Shan Tuyết Tà Xùa: Búp trà phủ lớp lông tuyết trắng mịn, thu hoạch từ những cây trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi trên đỉnh núi cao. Nếp nương Sông Mã: Hạt tròn mẩy, dẻo thơm ngào ngạt, là nguyên liệu cốt lõi tạo nên xôi ngũ sắc, cơm lam và rượu cần.

26 CÁC MÓN ĂN NỔI BẬT Pa pỉnh tộp (Cá gập nướng): Cá suối mổ lưng, ướp mắc khén, mầm măng và rau rừng rồi gập đôi nướng trên than hồng béo ngậy. Nộm da trâu: Da trâu sơ chế giòn sần sật, ngâm qua nước măng chua thanh dịu rồi trộn cùng hoa chuối và hạt dổi. Thịt trâu gác bếp: Thịt bắp trâu tươi ướp gia vị đậm đà, thắm đượm mùi khói bếp gỗ rừng, khi xé nhỏ có màu đỏ quạch quyến rũ. Bê chao Mộc Châu: Thịt bê sữa mềm ngọt, chao nhanh qua chảo dầu sôi để giữ trọn độ mọng nước, chấm cùng tương gừng ấm nồng. 2.

27 Rêu đá nướng là món đặc sản độc đáo của đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc, được chế biến từ rêu suối tươi sạch trộn gia vị mắc khén rồi gói lá nướng thơm phức trên than hồng, ăn kèm xôi nếp nương.

28

29 3. GIA VỊMắc khén: “Vua gia vị Tây Bắc” với vị tê nhẹ nơi đầu lưỡi và mùi thơm tinh dầu nồng nàn đặc trưng. Hạt dổi: Loại hạt được mệnh danh là “vàng đen”, khi nướng trên than hồng tỏa hương thơm ngậy, ấm áp cho các món nướng và chấm. Chẩm chéo: Thứ nước chấm huyền thoại kết hợp từ mắc khén, ớt nướng, tỏi, muối hột và các loại rau thơm rừng, làm nên bản sắc cho mọi món ăn Sơn La.

30 Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi --- Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Phù Lưu Chanh, 1948 TÂY Quang Dũng TIẾN

31

32