1 180 1

View 1 180 1 flipbook.

1

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯMỤC LỤC Lời giới thiệu.................................................................................................................... 7 Phần I: THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM .......................... 9 GIA THẾ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM ...................................................................... 9 Đỗ Kiện Ảnh, .......................................................................................................... 9 Cháu GS Đỗ Quốc Sam ........................................................................................... 9 TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA GS. ĐỖ QUỐC SAM.................. 15 Phần II - KÝ ỨC VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM ..................................................... 17 CÔNG LAO VÀ SỰ NGHIỆP ................................................................................. 17 GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM – MỘT NHÀ TRÍ THỨC LỚN, MỘT NHÂN CÁCH ĐẸP VÀ MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG ............... 17 (Trích bài Điếu văn do Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Võ Hồng Phúc đọc tại Lễ tang Giáo sư Đỗ Quốc Sam) ......................................................................................... 17 NHỚ VỀ NGUYÊN BỘ TRƯỞNG, GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM - DẤU ẤN MỘT NHÀ KỸ TRỊ TRONG LĨNH VỰC HOẠCH ĐỊNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM ...................................................................................................................... 23 Ts. Cao Viết Sinh, ................................................................................................. 23 Nguyên Thứ trưởng thường trực............................................................................ 23 Bộ kế hoạch và Đầu tư........................................................................................... 23 CÂU CHUYỆN NHỎ VỀ MỘT NHÂN CÁCH LỚN ......................................... 27 Bùi Quang Vinh, ................................................................................................... 27 Nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ........................................................... 27 GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM, NGƯỜI THẦY, NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐÁNG KÍNH ..................................................................................................................... 35 ThS. Nguyễn Văn Công, ....................................................................................... 35 Nguyên Chủ tịch HĐQT CTCP Tư vấn công nghệ ................................................ 35 thiết bị và kiểm định xây dựng CONINCO, ........................................................... 35 Nguyên Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội Kết cấu ................................................ 35 và công nghệ xây dựng Việt Nam .......................................................................... 35 GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM, NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG HỢP TÁC GIỮA ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI VỚI ĐẠI HỌC BAUHAUS WEIMAR .................. 42 PGS. TS Tống Trần Tùng .................................................................................... 42 3

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMNguyên Trưởng bộ môn Kết cấu, ........................................................................... 42 Trưởng Khoa Công trình Trường ĐHGTVT ......................................................... 42 Nguyên Vụ trưởng Vụ KH&CN Bộ GTVT ............................................................. 42 CỐT CÁCH CỦA MỘT TRÍ THỨC VIỆT NAM ................................................ 47 Nhà báo Nguyễn Lưu ........................................................................................... 47 Em vợ GS Đỗ Quốc Sam ........................................................................................ 47 GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TRONG CON MẮT CỦA BẠN BÈ ......................... 50 VÀ KHÁCH QUỐC TẾ ............................................................................................ 50 GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TRONG KÝ ỨC CỦA BẠN BÈ VÀ ĐỒNG NGHIỆP ..................................................................................................................... 54 ĐỖ QUỐC SAM KHÔNG RA ĐI ..................................................................... 54 Trần Việt Phương (1928-2017) ............................................................................ 54 Nguyên Thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng .............................................. 54 MỘT VỊ THỦ TRƯỞNG RẤT CHU TOÀN .................................................... 55 Võ Hồng Phúc....................................................................................................... 55 Nguyên Bộ trưởng Bộ KH&ĐT ............................................................................. 55 XUÂN CHUNG .................................................................................................... 59 TS. Phạm Sỹ Liêm (1931-1918) ........................................................................... 59 Nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, ......................................................................... 59 Bạn học tại Đường Sơn, Trung Quốc cùng GS Đỗ Quốc Sam .............................. 59 CHUYỆN THỜI SINH VIÊN Ở ĐƯỜNG SƠN TRUNG QUỐC ................... 61 VĨNH BIỆT ANH ĐỖ QUỐC SAM .................................................................. 63 Dương Xuân Tấn .................................................................................................. 63 Câu lạc bộ Thơ Đường .......................................................................................... 63 KỶ NIỆM LẦN ĐẦU GẶP ANH SAM ............................................................. 64 VÀ NHỮNG NGÀY VỀ THĂM QUÊ ANH ..................................................... 64 Hoàng Như Tầng, ................................................................................................. 64 Bộ môn Thí nghiệm và Kiểm định công trình ........................................................ 64 Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ........................................................................ 64 VẪN TỨ, VẦN TRÊN CÕI BỒNG LAI .............................................................. 74 Phạm Xuân Thụ ................................................................................................... 74 Bạn đồng tuế, đồng nghiệp .................................................................................... 74 4

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNguyên cán bộ UBKHNN ...................................................................................... 74 VĨNH BIỆT GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM ............................................................. 75 TS. Lê Đăng Doanh .............................................................................................. 75 Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý ..................................................... 75 kinh tế Trung ương ................................................................................................ 75 VĨNH BIỆT GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM ............................................................. 77 GS.TSKH Nguyễn Quang Thái, ........................................................................... 77 Nguyên Phó Viên trưởng Viện Chiến lược ............................................................ 77 Bộ Kế hoạch và Đầu tư .......................................................................................... 77 Tổng thư ký Hội Kinh tế Việt Nam......................................................................... 77 VÀI DÒNG THƯƠNG NHỚ GS ĐỖ QUỐC SAM (1) ....................................... 78 GS.TS Nguyễn Quốc Đạt ...................................................................................... 78 Nguyên Trưởng Khoa Xây dựng ............................................................................ 78 Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ........................................................................ 78 VÀI KỶ NIỆM VỀ GS. ĐỖ QUỐC SAM, NGƯỜI THẦY VÔ CÙNG KÍNH MẾN ...................................................................................................................... 80 GS.TS Đoàn Định Kiến Sinh viên khóa 1 Khoa Xây dựng ĐHBK Hà Nội ....................................................................................... 80 Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Công trình Thép – Gỗ ............................................... 80 Nguyên Chủ nhiệm Khoa XD, Trường ĐHXD Hà Nội .......................................... 80 NHỮNG CÂU CHUYỆN NHỎ CỦA GIA ĐÌNH TÔI VỚI ANH ĐỖ QUỐC SAM....................................................................................................................... 84 GS. Nguyễn Đình Cống ........................................................................................ 84 Nguyên Trưởng Khoa Xây dựng DD&CN ............................................................. 84 Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ........................................................................ 84 ÂN TÌNH NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐỜI TÔI .......................................................... 89 Minh Thu .............................................................................................................. 89 Nguyên giảng viên Khoa Xây dựng DD&CN ........................................................ 89 Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ........................................................................ 89 MỘT VÀI KỶ NIỆM VỀ NGƯỜI TỔ TRƯỞNG BỘ MÔN ĐẦU TIÊN ........... 91 CỦA CHÚNG TÔI – GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM ............................................... 91 GS.TS Phạm Văn Hội.......................................................................................... 91 Nguyên Giảng viên Bộ môn Kết cấu Thép, ............................................................ 91 5

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMTrường Đại học Xây dựng Hà Nội ........................................................................ 91 Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Trường ĐHXDHN ................................................... 91 NGƯỜI THẦY NÂNG ĐỠ TÔI TRONG HÀNH TRÌNH NHẶT NGHỀ, GÓP NGHIỆP................................................................................................................. 94 PGS. TS Tống Trần Tùng .................................................................................... 94 Nguyên Trưởng bộ môn Kết cấu, ........................................................................... 94 Trưởng Khoa Công trình Trường ĐH GTVT ........................................................ 94 Nguyên Vụ trưởng Vụ KH&CN Bộ GTVT ............................................................. 94 NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM .......................................... 99 TS. Nguyễn Bá Phương ........................................................................................ 99 Nguyên giảng viên Giảng viên Trường ĐHXD Hà Nội ......................................... 99 Nguyên giảng viên Trường ĐH Kỹ thuật Quân sự Hà Nội ................................... 99 Nguyên cán bộ Văn phòng Chính phủ ................................................................... 99 NGƯỜI THẦY CỦA TÔI ................................................................................... 100 (Những ký ức không thể nào quên về Giáo sư Đỗ Quốc Sam) ...................... 100 Nguyễn Văn Khánh ............................................................................................ 100 Nguyên Giảng viên bộ môn Công trình Thép – Gỗ, ............................................ 100 Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ...................................................................... 100 Nguyên Giám đốc Công ty Tư vấn ĐHXD CCU ................................................. 100 KỶ NIỆM VỀ NGƯỜI THẦY ĐÁNG KÍNH, NGƯỜI ĐÃ GÓP PHẦN ......... 103 THAY ĐỔI CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH TÔI ....................................................... 103 ThS. Hoàng Văn Quang ..................................................................................... 103 Giảng viên Bộ môn Công trình Thép Gỗ ............................................................. 103 Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ...................................................................... 103 BIẾT ƠN THẦY.................................................................................................. 105 Đỗ Đức Thắng - Lưu Kim Hoan ........................................................................ 105 Cựu sinh viên K18XDC – Trường Đại học Xây dựng HN................................... 105 GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TRONG KÝ ỨC CỦA THÂN QUYẾN................. 107 ANH MÃI LÀ HẠNH PHÚC CỦA ĐỜI TÔI! ................................................... 107 NHỮNG VẦN THƠ “TÌNH” .............................................................................. 116 6

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ................. 117 Phần III DI SẢN CỦA GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM .............................................. 118 QUỸ HỌC BỔNG MANG TÊN GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM ........................... 118 TS. Lê Văn Thành, ............................................................................................. 118 Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng .............................................................. 118 GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM VỚI HẬU THẾ...................................................... 125 T.S Cao Văn Bản,................................................................................................ 125 Nguyên Vụ trưởng Vụ Giám sát........................................................................... 125 và Thẩm định đầu tư Bộ KH&ĐT ........................................................................ 125 HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM - MẠCH NGẦM DI SẢN VÀ KHÁT VỌNG CỦA NHỮNG THẾ HỆ "KẾ THỪA" ................................................................ 131 Bùi Quốc Huy, .................................................................................................... 131 Cựu SV khóa 62, .................................................................................................. 131 Giảng viên Khoa Xây dựng DD&CN .................................................................. 131 Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ...................................................................... 131 MỘT SỐ HÌNH ẢNH, BÚT TÍCH VÀ KỶ VẬT VỀ GIÁO SỰ ĐỖ QUỐC SAM ....................................................................................................................................... 134 HÌNH ẢNH GIÁO SƯ THAM GIA KHẢO SÁT CÁC DỰ ÁN QUAN TRỌNG QUỐC GIA .............................................................................................................. 134 MỘT SỐ BÚT TÍCH VÀ KỶ VẬT VỀ GS. ĐỖ QUỐC SAM............................ 138 PHỤ LỤC: DANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM ... 165 7

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMLỜI GIỚI THIỆU “Uống nước nhớ nguồn” là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là một giá trị văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua các thế hệ của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Trong hành trình 60 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, Nhà trường luôn trân trọng, ghi nhớ những đóng góp của các thế hệ nhà giáo, nhà khoa học, cán bộ quản lý và cựu sinh viên – những người đã đặt nền móng, vun đắp và làm nên những giá trị bền vững của Nhà trường. Trong không khí kỷ niệm 60 năm thành lập Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, là người được tiếp nối trọng trách xây dựng và phát triển Nhà trường, tôi vô cùng xúc động và vinh dự được viết những dòng giới thiệu đầu tiên cho cuốn sách về Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Đỗ Quốc Sam – nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đối với Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Giáo sư Đỗ Quốc Sam là một trong những nhà lãnh đạo có đóng góp quan trọng trong những năm tháng đầu xây dựng và phát triển Nhà trường. Thầy đồng thời là một nhà giáo, nhà khoa học có nhiều cống hiến cho ngành Xây dựng và nền giáo dục đại học Việt Nam. Cuốn sách vì thế không chỉ là sự tưởng nhớ đối với một người Thầy đáng kính, mà còn là lời tri ân của các thế hệ thầy và trò đối với một trí thức lớn, một nhà lãnh đạo có tầm nhìn và một nhân cách mẫu mực. Trong những năm tháng chiến tranh đầy gian khó, từ những ngày đầu giảng dạy tại Đại học Bách khoa Hà Nội, đảm nhiệm vai trò Chủ nhiệm Khoa Xây dựng, rồi trở thành Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng, Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã cùng các thế hệ cán bộ, giảng viên và sinh viên Nhà trường vượt qua muôn vàn thử thách, đặt những nền móng quan trọng cho sự phát triển của một cơ sở đào tạo đại học trọng điểm và dẫn dắt trong lĩnh vực kiến trúc và xây dựng. Không chỉ là một nhà giáo, nhà khoa học xuất sắc, Giáo sư Đỗ Quốc Sam còn là một nhà quản lý, một vị lãnh đạo tài ba, một Đại biểu Quốc hội đầy trách nhiệm của nhân dân. Từ bục giảng của Đại học Xây dựng Hà Nội, Thầy được Đảng và Nhà nước tín nhiệm giao nhiều trọng trách lớn lao: Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng Cơ bản Nhà nước, Trưởng ban Công nghiệp Trung ương và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Trên cương vị quản lý tầm vĩ mô, Giáo sư đã có những cống hiến to lớn cho công cuộc đổi mới, mở cửa và phát triển kinh tế của đất nước. Nét đặc biệt quý báu ở Thầy là tư duy chiến lược sâu sắc, khả năng "làm thực tiễn một cách khoa học và làm khoa học một cách thực tiễn". Thầy luôn biết cách khơi dậy sức mạnh của tập thể, bao dung, vị tha và luôn làm việc bằng "chữ Tín". Nhưng điều còn đọng lại sâu sắc trong ký ức của nhiều thế hệ không chỉ là những cống hiến về khoa học, giáo dục và quản lý, mà trước hết là hình ảnh một người Thầy 8

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯgiản dị, khiêm nhường, thanh liêm và tận tâm. Thầy chân thành với đồng nghiệp, tận tình với học trò, luôn trách nhiệm với công việc và gần gũi, tôn trọng mọi người. Dù đảm nhiệm những trọng trách lớn của Nhà nước, Thầy vẫn giữ phong thái điềm đạm, không màng danh lợi, luôn dành sự quan tâm cho những người xung quanh. Qua những hồi ức chân thực của gia đình, đồng nghiệp và các thế hệ học trò được tập hợp trong cuốn sách, Giáo sư Đỗ Quốc Sam hiện lên ở nhiều phương diện: một nhà khoa học uyên bác, một nhà quản lý có tầm nhìn, một người lãnh đạo tận tâm; đồng thời là một người cha, người anh, người đồng nghiệp và người Thầy đáng kính. Những câu chuyện đời thường, những kỷ niệm giản dị trong cuốn sách giúp chúng ta hiểu hơn về một con người mà ở đó tài năng luôn đi cùng nhân cách, trí tuệ luôn gắn với trách nhiệm và lòng nhân ái. Tiếp nối di nguyện của Thầy và gia đình, Quỹ học bổng Đỗ Quốc Sam tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã được thành lập. Quỹ là sự tiếp nối một di sản tinh thần mà Thầy luôn coi trọng: khuyến học, khuyến tài và đồng hành cùng thế hệ trẻ trên hành trình chinh phục tri thức. Những giá trị Thầy vun đắp vì thế không chỉ được lưu giữ trong ký ức, mà còn tiếp tục được trao truyền và lan tỏa. Nhìn lại chặng đường 60 năm của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, chúng ta càng thấm thía ý nghĩa của sự kế thừa. Những thành quả hôm nay là kết tinh từ trí tuệ, tâm huyết và sự cống hiến của nhiều thế hệ. Trong dòng chảy ấy, Giáo sư Đỗ Quốc Sam là một dấu son đặc biệt, người đã góp phần đặt những viên gạch quan trọng cho nền móng của Nhà trường và để lại những giá trị vượt qua giới hạn của một thời kỳ. Thay mặt các thế hệ đang tiếp nối sự nghiệp xây dựng và phát triển Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, tôi trân trọng giới thiệu cuốn sách đến quý Thầy, Cô, các thế hệ cựu sinh viên, sinh viên và quý độc giả. Mong rằng, qua từng trang sách, mỗi chúng ta sẽ thêm hiểu, thêm trân trọng cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Đỗ Quốc Sam; đồng thời tìm thấy những giá trị có ý nghĩa đối với chính mình: trọng đức, luyện tài, tận tâm với công việc, trách nhiệm với cộng đồng và phụng sự đất nước. Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã đi xa, nhưng những giá trị Thầy để lại vẫn hiện hữu trong những thế hệ học trò, trong những con người từng được Thầy dìu dắt và trong chính sự phát triển của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Tinh thần, trí tuệ và nhân cách của Thầy sẽ tiếp tục được gìn giữ, lan tỏa và đồng hành cùng các thế hệ mai sau. NGƯT. PGS. TS Hoàng Tùng Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội 9

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMPHẦN I - THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM GIA THẾ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM Đỗ Kiện Ảnh, Cháu GS Đỗ Quốc Sam Giáo sư Đỗ Quốc Sam sinh ngày 29 tháng 5 năm 1929 tại xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình nhà giáo thanh bạch, được cha mẹ nuôi dưỡng và giáo dục, tiếp nhận truyền thống cách mạng của cha anh. Nhờ sự chuyên cần học tập và tự rèn luyện từ thời trẻ, ông trở nên một trí thức tiêu biểu và một con người có nhân cách đẹp, trong sáng. Giáo sư đã tham gia các hoạt động cách mạng từ tháng 3 năm 1945, được Nhà nước chứng nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa, được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam ngày 1 tháng 7 năm 1950. Giáo sư đã liên tục hơn 60 năm tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, đã kinh qua nhiều công việc và vị trí công tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau: Giáo dục, Nghiên cứu khoa học, Quản lý nhà nước và Hoạt động xã hội. Giáo sư có một Gia thế với truyền thống tốt đẹp và rất đáng tự hào. 1. Thân sinh (Bố, Mẹ) Thân phụ của GS Đỗ Quốc Sam là Cụ ông Đỗ Ngọc Toại, là Thứ nam trong gia đình Họ Đỗ. Cụ sinh ngày 22 tháng Hai, Bính Thân (1896); Cụ là người rất thông minh học đâu hiểu đấy và có một trí nhớ rất tuyệt vời, thuở nhỏ theo học Cụ Trịnh Xuân Nham, người bên họ ngoại, được thầy khen ngợi luôn, cụ am hiểu và sử dụng thành thạo các thể loại loại thơ văn như thi, từ, phú, lục, câu đối, văn tế, văn sách, chiếu biểu v.v. Năm 1915 cụ đi thi khóa cuối cùng của chữ Hán nhưng phạm trường quy nên bị đánh hỏng và cũng năm ấy cụ đã chuyển sang học chữ Pháp. Sau 2 năm học ở Trường Sư phạm, cụ đã chính thức trở thành một nhà giáo phụ trách một trường tiểu học ở thôn quê (làng Phương Lan. Yên Phong, Bắc Ninh). Ở đây cụ dạy cả 3 lớp (5, 4, 3). 15 năm dạy học ở một trường quê hẻo lánh, cụ luôn thể hiện là một nhà giáo nhiệt tình, mẫu mực nên học sinh rất quý trọng và phụ huynh tin yêu. 10

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNăm 1938 cụ chuyển về dạy ở trường Kiêm Bị, Đình Bảng (một trường lớn có 6 lớp) rất thuận tiện cho các con cụ học hành. Năm 1945 cách mạng Tháng Tám thành công, cụ công tác tại Ủy ban kháng chiến hành chính (UBKCHC) huyện Từ sơn rồi lên UBKCHC tỉnh Bắc Ninh phụ trách khối văn - xã. Thời gian từ tháng 5- 1955 đến 1962, cụ là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tỉnh Bắc Ninh , đến năm 1962 cụ về nghỉ hưu. Sau khi cụ nghỉ tham gia dạy học các lớp Hán - Nôm ở trường Đại học Tổng hợp, Uỷ ban Khoa học xã hội, Nhà Xuất bản Văn học, Nhà Xuất bản Văn hóa, tham gia biên dịch và dịch thuật trong vòng 18 năm đến lúc cụ ra đi (lúc 85 tuổi cụ mới nghỉ.) Dù ở giai đoạn lịch sử nào của đất nước, dù ở cương vị công tác nào cụ cũng luôn giữ được nhân cách của một người chân chính, mang hết tâm huyết ra để làm việc và để lại tiếng thơm cho muôn đời cho muôn đời sau. Cụ mất ngày 26 tháng Bảy tức ngày 6 tháng 9 năm1980), an táng tại Nghĩa trang thôn nhà. Di sản của cụ là các tác phẩm dịch từ tiếng Hán-Nôm của các danh sĩ như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Khuyến..., cùng một số danh tác của Trung Hoa thời trước. Học trò của cụ ở Viện Hán Nôm có những người thành danh như GS Huệ Chi, PSG Băng Thanh... Thân mẫu của GS. Đỗ Quốc Sam là cụ bà Trịnh Thị Cúc (1889-1970) thuộc gia tộc họ Trịnh nổi tiếng học hành giỏi đỗ đạt cao cùng quê Mai Lâm; là người phụ nữ đảm đang quán xuyến gia đình để cụ ông tập trung hoàn toàn vào công tác, cụ bà có công rất lớn trong việc nuôi dạy các con, các cháu nên người. Về làm dâu họ Đỗ từ năm 17 tuổi, cụ đã tỏ ra là một người phụ nữ đảm đang quán xuyến mọi việc chu đáo. Nhà nghèo cũng phải chạy chợ gần, chợ xa kiếm sống và nuôi chồng ăn học thành người tài. Đối với gia đình, cụ tỏ ra là một người nhân hậu, giàu lòng yêu thương. Trong nhà (khi đã ra ở riêng) cụ thường nuôi các cháu ở quê cho ăn học nên người, đối với anh em lúc khó khăn về kinh tế cụ rộng lòng giúp đỡ. Cụ mất năm 1970 và được an táng tại quê nhà. Hai cụ sinh được 6 người con 3 trai 3 gái; GS. Đỗ Quốc Sam là con út trong gia đình. 2. Huynh đệ (Anh chị em ruột): Chị gái cả Đỗ Thị Hảo (con gái đầu), mất từ năm 4 tuổi vì bệnh Cam Tẩu Mã. Anh trai cả Đỗ Ngọc Thường, khi đi hoạt động cách mạng có bí danh là Vương Mộ Thanh. Năm 1940 ông bị thực dân pháp bắt khi trong khi trong người mang nhiều truyền đơn kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp. Ông bị kết án 5 năm tù khổ sai và 5 năm quản thúc lần lượt ở các nhà lao Nam Định, Sơn La. Năm 1945 tham gia vượt ngục và đã ra khỏi nhà tù và lại tiếp tục đấu tranh. 11

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMHòa bình lập lại ông tham gia công tác ở nhiều nơi, như: Phó Chủ tịch Ủy ban thành phố Nam Định; Phó Bí thư, rồi Bí thư ở các huyện Mỹ Lộc- Giao Thủy; Tổng Biên tập Nhà xuất bản Thanh niên; Phó Vụ trưởng ban đối ngoại Trung ương. Ông vào Đảng từ năm 1940, nhận huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, được trao tặng Huân chương Chống Pháp, Mỹ hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng 3, ông được tôn vinh là Lão thành cách mạng. Ông bị bệnh mất năm 2001, hưởng thọ 80 tuổi. Chị gái thứ Đỗ Thị Nhu, sinh năm 1923, lúc còn nhỏ đi học, sau tốt nghiệp trường Hồng Thập Tự của Pháp và được điều lên công tác ở Lạng Sơn; năm 1945 lấy chồng quê Nam Định gốc Thiên chúa giáo, khi có chiến tranh ở lại trong thành, rồi đến năm 1975 đi Sài Gòn và hiện nay đang ở Mỹ Anh trai thứ là Đỗ Ngọc Đường (Đỗ Ngọc Đương), sinh năm 1923 (sinh đôi với bà Đỗ Thị Nhu). Thuở nhỏ đi học rất thông minh và chăm chỉ nên kết quả học tập tốt, tốt nghiệp tú tài toàn phần năm 1944 và được điều về dạy học ở trường Thiếu Sinh Quân, rồi đi bộ đội. Khi về hưu mang quân hàm đại tá. Trong kháng chiến chống mỹ ông đi chiến trường B, đã cùng tập thể nghiên cứu chế tạo thành công loại súng có khả năng phá hủy từ tầm xa. Công trình này đã được Nhà nước khen thưởng và cấp Bằng sáng chế. Khi nghỉ hưu ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và cũng đã hoàn thành được những tác phẩm có giá trị, như là: hai tập Từ điển quân sự, một tập Từ điển Hán – Nôm, một tập Ngữ pháp tiếng Việt dịch ra tiếng Pháp. Ông mất ngày … (không rõ ), được an táng tại Nghĩa trang Thanh Tước, Hà Nội. Chị gái Đỗ Thị Thận, sinh năm 1925, thuở nhỏ học ở Đình Bảng, tốt nghiệp năm 1938 trường Kiên Bị Pháp- Việt, trong kháng chiến cùng gia đình tản cư lên Bắc Giang- Thái Nguyên sinh sống. Ở trong vùng tản cư vẫn cùng bạn bè cùng trang lứa tham gia công tác: Bình dân học vu, Phụ nữ, v.v Hòa bình lập lại, về dạy học ở (cấp 1 và Yên Viên, Đình Bảng, Kẻ Sặt Hải Dương. Năm 1957 được cử đi học Sư phạm trung cấp ở Hải Dương, sau ra giảng dạy ở trường Sư phạm sơ cấp ở Hải Dương. Năm 1967 chuyển về công tác ở Vụ tổ chức cán bộ, Bộ Giáo dục. Được cử đi học Đại học Tổng hợp Khoa văn hàm thụ. Năm 1981 nghỉ hưu, tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ Thơ-Văn-Dịch ở nhiều nơi và đã in ấn xuất bản 13 tập thơ, trong đó có 2 tập thơ dịch Hàn Viêt - Pháp Việt. Bà được tặng Huân chương chống Mỹ hạng nhất và nhiều bằng khen của Bộ Giáo dục, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. 12

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ3. Gia đình (Vợ, con, cháu): Vợ GS Đỗ Quốc Sam là bà Nguyễn Phương Nhã, sinh năm 1937, là con gái của Giáo sư Nguyễn Xiển (1907-1997) một trí thức tên tuổi của thế kỷ XX và cụ bà Nguyễn Thúy An (1907–1998), người Hà Nội, nổi tiếng là người phụ nữ đảm đang, luôn đồng hành, hỗ trợ Giáo sư Nguyễn Xiển trong suốt cuộc đời. Bà theo nghề dạy học từ trẻ đến lúc nghỉ hưu, dạy học tại các trường phổ thông Hà Nội. Từ năm 1968 dạy Trường Đại học Xây dựng và Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và Huy hiệu Vì sự nghiệp giáo dục và gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam năm 1960. Con trai GS. Đỗ Quốc Sam là Đỗ Quốc Anh, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1980. Quốc Anh có khả năng học tập từ nhỏ từ cấp 1 đến cấp 3 qua các lớp chuyên toán. Năm 1996 đạt Huy chương Đồng tại Olympic quốc tế tại Ấn Độ, năm lớp 11; Năm 1997 đạt Huy chương Vàng toán quốc tế tại Argentina với số điểm tuyệt đối 42/42 Nam 1998 được tuyển thẳng vào Đại học Bách khoa Paris Pháp sau đó học cao học tại Pháp và đỗ Tiến sĩ kinh tế tại đại học Harvard ở Mỹ, là Phó Giáo sư giảng dạy và nghiên cứu tại Học viện Sciens - po của Pháp, hiện nay là Giáo sư tại Đại học Monash Melbourne, Úc. Con dâu là Nguyễn Kiều Trang, vợ Đỗ Quốc Anh, sinh năm 1987. Kiều Trang học tốt từ nhỏ đã tốt nghiệp đại học ở Mỹ năm 2008, từng làm việc tại Công ty tư vấn quốc tế, lấy bằng Tiến sĩ ở London (Anh) và nay là Assistant Professor ở Melbourne Univercity Úc. Cháu nội là Đỗ Quốc Thành, con trai của Đỗ Quốc Anh và Nguyễn Kiều Trang, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2015 tại Paris, Cộng hoà Pháp. Giáo sư Đỗ Quốc Sam cùng vợ và con trai (ảnh 2001) 13

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMBà Nguyễn Phương Nhã cùng Vợ chồng Đỗ Quốc Anh và cháu nội Đỗ Quốc Thành (ảnh năm 2020) 4. Giáo sư Đỗ Quốc Sam -Tư chất của một nhà khoa học Thời còn học tiểu học ở Đình Bảng học trò Đỗ Quốc Sam luôn đứng đầu lớp. Khi học ở trường E.P.S.I. (École Primaire Supérieur de Indochinoise – Cao đẳng tiểu học Đông Dương, tương đương trung học cơ sở ngày nay), theo lời cụ Đỗ Hạp là lớp trưởng, thì sinh viên Đỗ Quốc Sam người luôn đứng đầu lớp, giỏi toán nhất trong toàn khóa. Sau đó, GS Đỗ Quốc Sam theo học trường Trung học kháng chiến ở Đào Giã. Sau này thầy Ngô Thúc Lanh kể lại: sinh viên Đỗ Quốc Sam mới học năm thứ hai nhưng đòi thi năm thứ ba, và khi được nhà trường cho phép dự thi, thầy đã thi đỗ. Thời sinh viên Giáo sư học trường Khoa học cơ bản Nam Ninh, Trung Quốc, là học trò của cố Giáo sư Nguyễn Xiển. Những năm 1953-1958, Giáo sư theo học Học viện Cầu Đường ở Đường Sơn. Ông Đặng Hữu Chủ nhiệm UBKHNN là bạn học cùng Học viện cho biết, ông và GS Đỗ Quốc Sam là hai sinh viên xuất sắc trong số ba sinh viên giỏi nhất khóa bấy giờ (người còn lại là sinh viên Trung Quốc), và chỉ có GS Đặng Hữu và GS Đỗ Quốc Sam là đạt điểm tối đa 5/5. Sau khi tốt nghiệp Học viện này, thầy đã làm nghiên cứu sinh ở Viện Kỹ sư xây dựng Qui-bi-sep, Mát-xcơ-va Liên Xô và bảo vệ xuất sắc luận án Phó Tiến sĩ kỹ thuật với luận án “Kết cấu kim loại trong xây dựng dân dụng và công nghiệp vận dụng vào hoàn cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Luận án của Giáo sư được các nhà khoa học Liên Xô đánh giá rất cao. 14

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯTháng 11/1996, sau khi thôi chức vụ Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Giáo sư được bổ nhiệm làm Chủ tịch hội đồng thẩm định Nhà nước về các Dự án đầu tư và Ủy viên Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 1/2007. Khi về hưu, thầy rất quan tâm nghiên cứu lịch sử quê hương, đặc biệt là vùng Mai Lâm, Đông Anh. Cố Giáo sư Phan Huy Lê Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam từng coi thầy Đỗ Quốc Sam là “người bạn thân thiết của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam”. Về hoạt động khoa học, Giáo sư rất được kính trọng vì sự am hiểu và kiến thức sâu rộng của mình. Ông Việt Phương, nguyên là Thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đã viết trong bức thư tay gửi gia đình Giáo sư Đỗ Quốc Sam: “Nét đặc biệt quý báu của người trí thức Đỗ Quốc Sam là làm thực tiễn một cách khoa học và làm khoa học một cách thực tiễn, tự trọng đàng hoàng, an nhiên tự tại, tuân thủ chặt chẽ kỷ luật của tổ chức mà vẫn giữ được tư duy phóng khoáng để có nhiều lần nhạy cảm nắm bắt cái mới ngay từ lúc sơ khai...”. TS Lê Đăng Doanh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – trong bài viết tiễn đưa Giáo sư viết: “Anh Đỗ Quốc Sam là một “chung gia” (Genaralist) hàng đầu ở Việt Nam, là người có hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực khoa học-kỹ thuật, xây dựng, đầu tư và chiến lược phát triển, có năng lực kết hợp nhuần nhuyễn các lĩnh vực khác nhau để vận dụng vào thực tế Việt Nam. Anh đã phát triển tư duy chiến lược ở tầm kinh tế quốc dân, là người đã trực tiếp thúc đẩy quá trình mở cửa, bình thường hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế với các đối tác chủ chốt…” Với sinh viên, đồng nghiệp, trong những năm làm công tác quản lý và giảng dạy, Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn bè đồng nghiệp, học trò và các nhà khoa học. 15

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMTÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA GS. ĐỖ QUỐC SAM GS. Đỗ Quốc Sam sinh ngày 29 tháng 5 năm 1929, quê ở Thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tham gia các hoạt động cách mạng từ tháng 3 năm 1945, là cán bộ thời kỳ Tiền khởi nghĩa. Từ năm 1948 đến năm 1950 làm giáo viên trường Trung học Phúc Yên và trường Trung học Hoàng Hữu Nam, Bắc Ninh; Từ năm 1951 đến năm 1958 học tại các trường Khoa học Cơ bản Nam Ninh -Trung Quốc và trường Đại học đường sắt Đường Sơn -Trung Quốc; Từ năm 1958 đến năm 1961 giảng dạy tại khoa Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, làm Tổ trưởng bộ môn Công trình, Bí thư Chi bộ, liên Chi uỷ viên Khoa Xây dựng. Từ năm 1961 đến năm 1964 Giáo sư bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học kỹ thuật tại Đại học xây dựng Mạc Tư Khoa, Liên Xô (cũ). Từ năm 1965 đến năm 1982 Giáo sư công tác tại trường Đại học Xây dựng, lần lượt làm Tổ trưởng bộ môn công trình, Chủ nhiệm Khoa xây dựng. Năm 1977, ông được bầu là Hiệu trưởng trường Đại học Xây dựng Hà Nội (nhiệm kỳ 1977–1982) và được phong hàm Giáo sư năm 1980. Ông là Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khoá VII (1977–1981). Tháng 6 năm 1982 từ trường Đại học Xây dựng, ông chuyển sang làm công tác quản lý nhà nước, giữ các chức vụ sau: - Chủ nhiệm Uỷ ban Xây dựng cơ bản nhà nước 30/10/1982 – 10/5/1988; - Năm 1988–1989, ông giữ chức Trưởng ban Công nghiệp Trung ương Đảng, rồi Phó Chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (tiền thân của Bộ Kế hoạch Đầu tư), kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư. - Tháng 8 năm 1991 đến 21 tháng 10 năm 1995 ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, và từ 21/10/1995 đến 6/11/1996 là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. - Năm 1996, ông thôi chức Bộ trưởng, và chuyển sang giữ chức Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Nhà nước về các Dự án đầu tư (1996-2007) và Ủy viên Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia cho đến khi nghỉ hưu, tháng 1 năm 2007. Ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI (12/1986 – 6/1991); ông được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VII (6/1991– 6/1996) Giáo sư được bầu làm Đại biểu Quốc hội các Khóa VIII, IX và X (giai đoạn 1987- 2007), đồng thời là ủy viên Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội Khóa X. 16

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯHiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng HN qua các thời kỳ (Từ trái qua phải: GS. TSKH Nguyễn Văn Chọn, GS.TSKH.NGND Phạm Ngọc Đăng, NGND Nguyễn Sanh Dạn, GS.TSKH Đỗ Quốc Sam, GS.TSKH.NGUT Nguyễn Văn Khải ) 17

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMPHẦN II - KÝ ỨC VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM CÔNG LAO VÀ SỰ NGHIỆP GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM – MỘT NHÀ TRÍ THỨC LỚN, MỘT NHÂN CÁCH ĐẸP VÀ MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG (Trích bài Điếu văn do Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Võ Hồng Phúc đọc tại Lễ tang Giáo sư Đỗ Quốc Sam) Giáo sư Đỗ Quốc Sam sinh ngày 29 tháng 5 năm 1929 tại xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội, thường trú tại số 9 phố Huỳnh Thúc Kháng Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình nhà giáo thanh bạch, được cha mẹ nuôi dưỡng và giáo dục, tiếp nhận truyền thống cách mạng của cha anh. Nhờ sự chuyên cần học tập và tự rèn luyện từ thời trẻ, ông trở nên một trí thức tiêu biểu và một con người có nhân cách đẹp, trong sáng. Ngay từ thời niên thiếu, Giáo sư đã tham gia các hoạt động yêu nước của học sinh: - Tháng 3 năm 1945 đã tham gia bãi khóa ở trường Đỗ Hữu Vị, bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà pha Hưng Yên; - Tháng 5 năm 1946 tham gia học sinh cứu quốc trường Nguyễn Trãi, Hà Nội. Giáo sư được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam ngày 1 tháng 7 năm 1950. Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã liên tục hơn 60 năm tham gia các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý Nhà nước và hoạt động xã hội: - Từ năm 1948 đến năm 1950 làm giáo viên trường Trung học Phúc Yên và trường Trung học Hoàng Hữu Nam, Bắc Ninh; - Từ năm 1951 đến năm 1958 học tại các trường Khoa học Cơ bản Nam Ninh - Trung Quốc và trường Đại học đường sắt Đường Sơn -Trung Quốc; -Từ năm 1958 đến năm 1961 giảng dạy tại khoa Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, làm Tổ trưởng bộ môn Công trình, Bí thư Chi bộ, liên Chi uỷ viên Khoa Xây dựng. - Từ năm 1961 đến năm 1964 Giáo sư bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học kỹ thuật tại Đại học xây dựng Mạc Tư Khoa, Liên Xô (cũ). - Từ năm 1965 đến năm 1982 Giáo sư công tác tại trường Đại học Xây dựng, lần lượt làm Tổ trưởng bộ môn công trình, Chủ nhiệm Khoa xây dựng, rồi Hiệu trưởng 18

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯtrường Đại học Xây dựng; và được phong hàm Giáo sư năm 1980. Giáo sư còn là Chủ tịch sáng lập Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng; đồng chủ tịch Diễn đàn giao lưu và đối thoại kinh tế và tài chính Việt – Pháp; thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ; thành viên Hội đồng chính sách khoa học quốc gia, v.v. Bên cạnh các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, Giáo sư còn trực tiếp tham gia công tác quản lý Nhà nước công tác Đảng với các cương vị quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Từ tháng 11 năm 1982 đến tháng 8 năm 2006 Giáo sư lần lượt giữ cương vị quản lý Nhà nước, bao gồm Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng Cơ bản Nhà nước, Trưởng ban Công nghiệp Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Nhà nước các dự án đầu tư. Giáo sư đã tích cực tham dự tham gia các hoạt động tại cơ quan quyền lực cao nhất khi liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội các Khóa VIII, IX và X, đồng thời là ủy viên Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội Khóa X. Giáo sư được Đại hội Đảng bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI năm 1986 và Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, năm 1991, Dù ở cương vị là nhà giáo hay nhà quản lí, Giáo sư cũng đã mang hết tâm trí đóng góp cho công việc chung của đất nước. Trong thời kỳ chiến tranh, Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã chủ trì và tham gia nghiên cứu nhiều đề tài khoa học phục vụ sản xuất và chiến đấu, trong đó nổi bật hệ kết cấu có thể có thanh căng làm cơ sở cho nhiều kết cấu hiện đại trong các lĩnh vực xây dựng cơ bản sau này. Giáo sư đã chỉ đạo việc nghiên cứu về dàn thép tròn dùng xây dựng các nhà máy dã chiến, các cơ sở sơ tán, thay thế cho thép hình rất hiếm lúc đó. Ở cương vị quản lý, Giáo sư luôn có những đề xuất mới mẻ, sâu sắc và trực tiếp tham gia triển khai các vấn đề đổi mới công tác lập chiến lược, quy hoạch và kế hoạch; Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa; huy động các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA từ hội nghị đầu tiên nam 1993 ở Paris; Huy động và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI; Quản lý công tác đấu thầu; Công tác vay trả nợ nước ngoài và cả việc triển khai các dự án đầu tư lớn để Quốc hội xem xét và giám sát thực hiện,... Trong suốt cuộc đời công tác, Giáo sư đã đúc kết nhiều kinh nghiệm trong công tác lý luận và thực tiễn, nhất là trong công tác đào tạo cán bộ về lĩnh vực xây dựng, trong 19

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMcông tác kế hoạch đầu tư, trong quản lý Nhà nước và nhiều năm gắn bó với Trường Đại học Xây dựng, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước sau này là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Trên mọi cương vị công tác được giao, Giáo sư luôn phấn đấu, luôn tìm tòi, sáng tạo thực hiện tốt nhất nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng Ngành Kế hoạch - Đầu tư và đã có những đóng góp vào những thành công của Ngành Kế hoạch - Đầu tư của cả nước. Những kết quả nghiên cứu khoa học này đã được trực tiếp công bố trên nhiều ấn phẩm, một số tài liệu quan trọng đã được tập hợp lại trong cuốn sách “Vài vấn đề về phát triển và đổi mới”, phản ánh các đóng góp rất quý giá của Giáo sư đối với khoa học và đất nước và đã được nhà xuất bản Chính trị - Hành chính ấn hành năm nay. Nghĩ về Giáo sư Đỗ Quốc Sam, chúng ta nghĩ tới một trí thức lớn có ý chí phấn đấu cao về chuyên môn khoa học và nghề nghiệp, có sự hiểu biết uyên thâm và sâu rộng nhưng cực kỳ khiêm tốn, được các học trò, bạn bè và đồng nghiệp trong và ngoài nước tôn trọng. Với lòng say mê khoa học và cháy bỏng, dù trên cương vị nào, Giáo sư cũng đã tự rèn luyện, tự học tập, học ở mọi nơi mọi lúc. Với tài năng sẵn có và sự khiêm nhường mẫu mực của nhà trí thức lớn, Giáo sư là một trong những nhà khoa học đã đạt đến đỉnh cao của nghề nghiệp cả trong công tác giảng dạy và trong công tác quản lý. Hơn 20 năm làm công tác giảng dạy đại học và trên đại học, với tư cách là một nhà trí thức giàu kiến thức khoa học, Giáo sư đã đem hết kiến thức của mình đào tạo nhiều lớp cán bộ để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, là thầy của nhiều thế hệ Giáo sư và chuyên gia giỏi trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Đối với Đảng, Giáo sư luôn là một Đảng viên gương mẫu trung thành với sự nghiệp của Đảng Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Giáo sư luôn là nhà lãnh đạo có phẩm chất đạo đức trong sáng, tác phong giản dị, tinh thần nhiệt tình hăng say công tác, luôn luôn động viên và dẫn dắt Bộ hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao phó. Giáo sư đã đào tạo nhiều cán bộ để bổ sung vào đội ngũ cán bộ chủ chốt của Bộ, của Chính phủ. Với anh em, đồng chí trong cơ quan Giáo sư luôn tin tưởng, hướng dẫn tận tình chu đáo, truyền đạt nhiều kinh nghiệm, sống có nghĩa có tình. Giáo sư luôn được mọi người tin yêu quý trọng, xứng đáng là tấm gương mẫu mực về tinh thần đạo đức, về lối sống và tác phong làm việc để cán bộ công chức trong cơ quan noi theo. Với quê hương Giáo sư là người trọn nghĩa vẹn tình với bà con lối xóm, Giáo sư luôn gần gũi, chân thành, chan hòa cởi mở được mọi người yêu mến. Trong gia tộc, Giáo sư là người con hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, họ hàng nội ngoại. Với gia đình nhỏ 20

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯbé của mình, Giáo sư là người chồng thủy chung sắt son; là người cha mẫu mực, nhân từ hết lòng vì tương lai các con. Khi biết mình bệnh nặng, Giáo sư đã nhờ bác sĩ tư vấn và tự tìm các tài liệu, các biện pháp để chữa trị. Trong 7 năm gian nan chữa bệnh và kiên cường chịu đựng, có sự chia sẻ, chăm sóc tận tình của người vợ đã 50 năm chung sống và hết lòng tận tụy, cùng các con giúp Giáo sư vượt qua từng chặng đường gian khó. Vì vậy, mặc dù biết rằng quỹ thời gian không còn bao nhiêu, Giáo sư vẫn lạc quan hy vọng và dành thời gian trí tuệ làm được nhiều việc, cố gắng đóng góp cho ngành và các công tác chuyên môn, mà tác phẩm cuối cùng vừa được ấn hành là “Vài vấn đề về cải cách và đổi mới”. Nhìn lại cuộc đời cao đẹp và đầy ý nghĩa của Giáo sư Đỗ Quốc Sam, với 53 năm công tác, 59 năm tuổi Đảng, nay Giáo sư mất đi, Đảng mất một cán bộ tận trung, gương mẫu; Giới khoa học của đất nước mất đi một nhà nghiên cứu khoa học, quản lý khoa học và nhà sư phạm xuất sắc; Ngành Kế hoạch và Đầu tư mất một cán bộ lãnh đạo dày kinh nghiệm, có tầm nhìn xa và luôn luôn có lý lẽ thuyết phục; Gia đình mất đi một người chồng, người cha nhân từ, yêu thương, đầy trách nhiệm; Đồng chí, đồng nghiệp mất một người cộng sự nhiệt tình, tận tụy, nghiêm túc và cả sự thấu hiểu, lòng vị tha; Bạn bè mất một người bạn chí tình, chí nghĩa. Hơn nửa thế kỷ qua, với lòng say mê khoa học, trí thông minh và những kiến thức khoa học đã được tích lũy từ tích lũy đã nở hoa, kết trái thành nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao, Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã đóng góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước. Giáo sư đã được Đảng, Nhà nước, tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân huy chương khác. Giáo sư cũng được nước Cộng hòa Pháp trao tặng Huân chương Quốc công vì những đóng góp cho sự nghiệp ngoại giao kinh tế giữa hai nước. 21

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGiáo sư Đỗ Quốc Sam cùng lãnh đạo Chính phủ tiếp khách nước ngoài tại Văn phòng Chính phủ 22

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ23

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMNHỚ VỀ NGUYÊN BỘ TRƯỞNG, GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM - DẤU ẤN MỘT NHÀ KỸ TRỊ TRONG LĨNH VỰC HOẠCH ĐỊNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM Ts. Cao Viết Sinh, Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ kế hoạch và Đầu tư Nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Giáo sư Đỗ Quốc Sam là người tạo nhiều dấu ấn trong công tác kế hoạch hóa phát triển đất nước, là một trong những nhà lãnh đạo kinh tế rất có uy tín trong Chính phủ, từng tham gia vào giai đoạn xây dựng và hoạch định chiến lược phát triển của Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi và phát triển đất nước. Quá trình công tác của ông gắn liền với lĩnh vực kế hoạch, đầu tư và điều hành kinh tế vĩ mô, ông thuộc thế hệ những nhà quản lý góp phần đặt nền móng cho tư duy phát triển dài hạn của Việt Nam. Trong nhiều thập niên, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước trước đây, sau đó là Bộ Kế hoạch và Đầu tư giữ vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng các Chiến lược phát triển, kế hoạch trung hạn, hằng năm và phân bổ nguồn lực đất nước. Đây cũng là cơ quan tiền thân của hệ thống quản lý kế hoạch kinh tế, xã hội và đầu tư công ngày nay. Trong bối cảnh đất nước trải qua nhiều giai đoạn phát triển với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, công tác kế hoạch không chỉ còn là việc xây dựng các chỉ tiêu kinh tế, mà còn hướng tới việc cân đối giữa tăng trưởng, ổn định xã hội và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Những người làm công tác kế hoạch thời kỳ đó phải đồng thời nhìn được nhu cầu trước mắt và định hình tầm nhìn dài hạn. Tên tuổi của Giáo sư Đỗ Quốc Sam thường được nhắc đến cùng hình ảnh một nhà lãnh đạo kinh tế có tư duy nghiên cứu, chú trọng tính hệ thống và vai trò của chiến lược phát triển đất nước. Trong cách tiếp cận quản lý, việc xây dựng kế hoạch không đơn thuần là lập con số, mà còn là lựa chọn ưu tiên phát triển, xác định động lực tăng trưởng và chuẩn bị cho các thay đổi của nền kinh tế. Nhìn lại chặng đường phát triển của ngành kế hoạch, có thể thấy đóng góp của thế hệ lãnh đạo đi trước không chỉ nằm ở các văn bản hay chỉ tiêu, mà còn ở việc hình thành nền tảng tư duy quản trị phát triển – nơi Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều phối và định hướng cho nền kinh tế. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước sau này được tổ chức lại và phát triển thành Bộ Kế hoạch và Đầu tư và hiện nay được sáp nhập với Bộ Tài chính như hiện nay. Dù mỗi thời kỳ có điều kiện và cách tiếp cận khác nhau, những kinh nghiệm tích lũy từ thế hệ làm công tác kế hoạch trước đây vẫn là một phần của hành trình xây dựng chiến lược phát triển đất nước trong thời đại mới. Cảm nhận về tính cách và phong cách của nguyên Bộ trưởng, Giáo sư Đỗ Quốc Sam, khi nhắc đến những người làm công tác hoạch định chiến lược phát triển, người ta thường nghĩ nhiều đến những con số, kế hoạch và các quyết sách lớn. Nhưng phía sau 24

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯnhững bản kế hoạch ấy vẫn luôn là con người – với tư duy, bản lĩnh và cách nhìn về đất nước. Với Giáo sư Đỗ Quốc Sam, điều để lại ấn tượng không chỉ là vị trí công tác, mà còn là hình ảnh của một người làm quản lý mang tinh thần trách nhiệm và tư duy dài hạn. Điều dễ cảm nhận ở những người gắn bó với lĩnh vực kế hoạch, là sự điềm tĩnh và thói quen nhìn vấn đề theo tổng thể. Thay vì chỉ tập trung vào kết quả trước mắt, ông thường đặt câu hỏi: điều này sẽ ảnh hưởng thế nào đến tương lai, đến xã hội và đến sự phát triển chung. Qua những gì biết đến về thế hệ lãnh đạo kinh tế thời kỳ đó, có thể thấy ở ông hình ảnh của một người đề cao sự cẩn trọng, suy nghĩ có hệ thống và làm việc dựa trên nền tảng nghiên cứu thấu đáo các vấn đề. Có những con người khi còn đương chức, tên tuổi gắn với những quyết định, những bản kế hoạch và những cuộc họp dài. Nhưng khi thời gian đi qua, điều còn đọng lại trong ký ức người khác đôi khi lại là phong thái sống, cách đối nhân xử thế và một tinh thần làm việc đáng kính. Mỗi lần nhớ về nguyên Bộ trưởng, Giáo sư Đỗ Quốc Sam, điều hiện lên trước tiên không phải là chức danh hay những con số của một thời kỳ phát triển, mà là hình ảnh một người làm công tác kế hoạch với vẻ điềm đạm, suy nghĩ sâu và luôn dành sự quan tâm cho những câu chuyện lớn của đất nước. Người làm kế hoạch thường quen với việc nhìn xa hơn hiện tại. Có lẽ vì thế mà ở ông luôn toát lên sự chắc chắn và thận trọng. Trong những câu chuyện được chứng kiến, thấy ở ông không phải kiểu quyết liệt bằng lời nói lớn, mà là sự kiên trì với điều mình tin là đúng, là cần cho tương lai lâu dài. Thành quả của nó ít khi hiện ra ngay trước mắt. Có những bản đề xuất hôm nay phải nhiều năm sau mới thấy ý nghĩa. Có những quyết định khi đưa ra chưa được hiểu hết, nhưng rồi thời gian lại trở thành câu trả lời. Và có lẽ chính vì hiểu điều đó mà những người như Giáo sư Đỗ Quốc Sam chọn cách làm việc lặng lẽ hơn là tìm kiếm sự ghi nhận. Điều khiến người khác kính trọng không chỉ nằm ở tri thức hay kinh nghiệm, mà còn ở thái độ với công việc công. Một đời dành cho những bài toán phát triển đất nước chắc hẳn cần kiên nhẫn, nhiều suy tư và cả sự chấp nhận đứng phía sau thành quả chung. Giờ đây, khi nhìn lại một chặng đường phát triển của đất nước, những con người thuộc thế hệ làm kế hoạch năm ấy gợi nhớ đến một thời kỳ nhiều trăn trở nhưng cũng đầy khát vọng. Dẫu thời gian đã đổi thay, điều còn lại vẫn là hình ảnh những con người làm việc bằng trách nhiệm, bằng niềm tin rằng từng quyết định sẽ góp phần tạo nên tương lai. Trong ký ức của nhiều người từng làm việc và tiếp xúc, nguyên Bộ trưởng, Giáo sư Đỗ Quốc Sam hiện lên trước hết như một người trí thức đúng nghĩa – điềm đạm, sâu sắc và luôn tiếp cận công việc bằng tư duy khoa học. Ở ông có dáng vẻ của một nhà nghiên cứu nhiều hơn một nhà điều hành theo nghĩa thông thường. Mỗi vấn đề đều được nhìn từ gốc rễ, đặt trong mối liên hệ rộng hơn với thực tiễn phát triển của đất nước. Ông không thích những kết luận vội vàng, càng không quen với cách làm dựa vào cảm tính. Điều ông thường quan tâm là dữ liệu nói gì, thực tế đang diễn ra như thế nào và quyết định hôm nay sẽ để lại điều gì cho ngày mai. Trong công việc, ông rất nghiêm túc. Đã họp là tập trung, đã nghiên cứu là đi đến tận cùng vấn đề. Ông không dễ chấp nhận những báo cáo sơ sài hay những lập luận thiếu căn cứ. Với ông, mỗi quyết định đều cần được suy nghĩ kỹ và dựa trên thực tiễn. Vì thế, 25

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMnhững người làm việc cùng ông, thường vừa kính trọng vừa có phần dè chừng bởi sự chuẩn xác và yêu cầu cao của ông. Trong những lần làm việc với cấp dưới, ông luôn giữ thái độ lắng nghe, trao đổi trên tinh thần cùng tìm lời giải chứ không áp đặt. Ông hiểu rằng phía sau mỗi bản báo cáo là công sức, là trách nhiệm và đôi khi là cả những trăn trở của người thực hiện. Khi chỉ đạo công việc, ông có cách làm rõ ràng và mạch lạc. Việc nào ra việc đó, mục tiêu cụ thể, trách nhiệm cụ thể. Ông không thích sự chung chung. Người làm việc cùng thường có cảm giác rằng sau mỗi cuộc họp, ai cũng hiểu mình cần làm gì và vì sao phải làm như vậy. Một hình ảnh còn đọng lại là những lần ông trả lời trước Quốc hội. Không vòng vo, không né tránh. Ông đi thẳng vào vấn đề bằng lập luận chặt chẽ, ngôn ngữ dễ hiểu nhưng vẫn giữ chiều sâu chuyên môn. Sự thuyết phục không đến từ những lời lẽ mạnh mẽ mà đến từ sự chuẩn bị kỹ, từ việc nắm chắc thực tế và khả năng giải thích để người nghe thấy được logic của chính sách. Điều đáng quý hơn cả là sự gần gũi với đời sống cán bộ và thực tiễn xã hội. Ông không nhìn các con số như những con số vô cảm. Đằng sau kế hoạch, đằng sau chỉ tiêu phát triển, ông luôn quan tâm đời sống con người sẽ thay đổi ra sao. Ông hiểu khó khăn của người làm việc ở cơ sở, hiểu áp lực của bộ máy thực thi và vì thế thường nhắc rằng chính sách chỉ có ý nghĩa khi đi vào cuộc sống. Khi tôi mới về nhận công tác tại Ủy ban Kế hoạch nhà nước, là Vụ Phó vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân, đơn vị được Bộ trưởng trực tiếp chỉ đạo. Có một lần ông gọi tôi xuống phòng nói về cách chuẩn bị báo cáo nhanh, đáp ứng mọi yêu cầu của cấp trên. Khi nói về công tác báo cáo phục vụ điều hành nền kinh tế, ông đưa ra một cách ví von rất dễ nhớ. Ông nhắc rằng báo cáo không thể làm theo kiểu mỗi lần có yêu cầu mới lại bắt đầu thu thập, tổng hợp từ đầu thì khó mà đáp ứng được yêu cầu nhanh. Ông nói đại ý rằng cần tổ chức dữ liệu theo các “ô”, các nhóm thông tin chuẩn hóa – giống như người thầy thuốc chuẩn bị sẵn các loại thuốc trong tủ thuốc. Khi bệnh nhân đến, tùy triệu chứng cụ thể mà lựa chọn, kết hợp và xử lý ngay. Điều hành kinh tế cũng vậy: tình huống mỗi lúc một khác, nhưng “dữ liệu nền” phải luôn sẵn sàng để phân tích và ra quyết định nhanh. Nghe qua một ví dụ giản dị, nhưng phía sau là một tư duy quản lý rất khoa học và hiện đại. Ông nhìn dữ liệu không phải là sản phẩm cuối cùng của báo cáo, mà là nguyên liệu cho việc ra quyết định. Nếu dữ liệu được chuẩn hóa, phân loại tốt và cập nhật liên tục, người điều hành sẽ không bị động trước biến động của thực tế. Khi cần trả lời một câu hỏi mới, không phải mất nhiều ngày đi gom số liệu mà có thể nhanh chóng tổ hợp, so sánh và đưa ra phương án. Điều đó cũng cho thấy phong cách làm việc của ông: đề cao tính khoa học nhưng không xa rời thực tiễn. Ông không yêu cầu cán bộ làm nhiều báo cáo hơn, mà yêu cầu làm thông minh hơn. Không chạy theo hình thức trình bày, mà tập trung xây dựng một hệ thống thông tin có khả năng phục vụ nhiều tình huống khác nhau. Ngày nay nhìn lại, cách nghĩ ấy càng cho thấy tầm nhìn đi trước thời đại. Điều mà hiện nay gọi là cơ sở dữ liệu, bảng điều khiển quản trị, dữ liệu thời gian thực hay năng lực phản ứng chính sách – ở mức độ nào đó – đều mang tinh thần của tư duy mà ông từng nhắc: chuẩn bị thật tốt dữ liệu nền để khi cần có thể hành động nhanh, nhưng vẫn dựa trên căn cứ vững chắc. Đó không chỉ là một cách làm báo cáo, mà còn là một triết lý quản trị: chuẩn bị kỹ để ứng biến linh hoạt. 26

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNgoài công việc ra, Giáo sư Đỗ Quốc Sam lại có những nét rất đời thường. Những lúc nghỉ giải lao, ông thích nghe kể chuyện “tiếu lâm”. Không phải để cười cho vui rồi thôi, mà dường như ông xem đó cũng là một cách quan sát cách con người suy nghĩ và nhìn nhận cuộc sống. Lãnh đạo cấp vụ kể chuyện, ông chăm chú lắng nghe, rồi mỉm cười nhận xét. Có lần nghe xong một câu chuyện tiểu lâm hơi “tục”, ông dí dỏm nói: “Chuyện này hàm lượng chất xám hơi ít”. Mọi người bật cười. Câu nhận xét vừa nhẹ nhàng vừa tinh tế. Không phải chê bai, mà giống như một cách nhắc vui rằng ngay cả sự hài hước cũng có nhiều cấp độ, có tiếng cười đến từ bất ngờ đơn thuần, nhưng cũng có tiếng cười khiến người ta phải nghĩ thêm một chút. Câu nói ấy rất giống con người và tính cách của ông. Một người làm khoa học nên quen tìm chiều sâu trong mọi việc; một người trí thức nên thích sự thông minh hơn sự ồn ào; và một người từng làm công tác hoạch định nên luôn có thói quen nhìn xem phía sau mỗi câu chuyện còn điều gì đáng suy ngẫm. Sự nghiêm túc trong công việc và sự hóm hỉnh trong đời thường tưởng như đối lập, nhưng ở ông lại hòa hợp tự nhiên. Có lẽ chính điều đó làm cho hình ảnh của ông trong ký ức đồng nghiệp trở nên gần gũi: một con người kỷ luật nhưng không khô cứng, sâu sắc nhưng vẫn giữ được sự vui vẻ và tinh thần đời sống. Có lẽ vì vậy mà sau nhiều năm, điều người ta nhớ về ông không chỉ là chức vụ từng đảm nhiệm, mà là hình ảnh một nhà khoa học mang tinh thần phụng sự; một người trí thức biết lắng nghe; một người lãnh đạo nghiêm túc trong công việc nhưng giàu sự tôn trọng và tình cảm với con người. Những ký ức ấy, theo thời gian, không chỉ còn là ký ức về một cá nhân, mà còn là lời nhắc về giá trị của trí tuệ, trách nhiệm, nhân cách và sự tử tế trong công việc và cuộc sống./. 27

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMCÂU CHUYỆN NHỎ VỀ MỘT NHÂN CÁCH LỚN Bùi Quang Vinh, Nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Năm 1984, sau khi tốt nghiệp khóa học nâng cao về quản lý kinh tế tại Liên Xô trở về, tôi được phân công trở lại làm Giám đốc Nông trường quốc doanh Phong Hải (Bảo Thắng - Lào Cai). Trong thời gian học tập tại Matxcơva (1982-1984) cũng là thời điểm các nhà quản lý kinh tế ở đây nhận ra những hạn chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp và gợi mở nhiều lý luận, mô hình đổi mới. Chính vì thế, luận văn tốt nghiệp của tôi là: "Đổi mới phương thức quản lý trong xí nghiệp nông nghiệp quốc doanh tại Việt Nam". Trong hơn 2 năm làm giám đốc nông trường (1984-1986) tôi đã đưa hàng loạt các thay đổi, cải cách trong phương thức quản lý sản xuất, quản lý kinh tế của Nông trường, thay vì trả lương cho cán bộ, công nhân viên chức bằng ngày công và thang bậc lương sang khoán sản phẩm và trả lương theo số lượng, chất lượng sản phẩm làm ra. Tiếp theo là khoán sản phẩm cho phân xưởng, đội sản xuất, rồi mạnh hơn nữa là giao khoán đồi chè, dứa, trại chăn nuôi cho hộ, nhóm hộ công nhân tự chủ. Kết quả là năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của nông trường tăng trưởng mạnh mẽ. Báo Hoàng Liên Sơn (cơ quan ngôn luận của Đảng bộ tỉnh) khi đó đã có những bài viết về việc làm của nông trường và gây tiếng vang lớn. Đoàn đại biểu Sở Nông nghiệp tỉnh Hà Nam Ninh và Hoàng Liên Sơn lên thăm Nông trường ngày 18/7/1985. 28

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯBộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Ngọc Trìu cùng 7 vụ, cục lên thăm nông trường Phong Hải, cùng đi có ông Hoàng Kim Phấn, Phó chủ tịch và ông Nguyễn Quí Đăng giám đốc sở nông nghiệp (22/3/1986) Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn lần thứ IV (10-13/10/1986) tôi được phân công phát biểu tham luận về vấn đề này. Bài phát biểu nêu lại những cách làm, đổi mới tại Nông trường, đồng thời cũng đề nghị nhân rộng mô hình không chỉ trong các xí nghiệp quốc doanh mà cả những đổi mới cho phương thức kế hoạch hóa của toàn tỉnh. Tại đại hội này, tôi được bầu tham gia Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh và sau đó được điều động về giữ chức Phó chủ nhiệm thường trực Ủy ban kế hoạch tỉnh Hoàng Liên Sơn (1986-1990) Đó là cơ duyên giúp tôi được gặp ông, một con người mà tôi vô cùng kinh trọng, biết ơn: Giáo sư Đỗ Quốc Sam Ngày 21/4/1991, tôi cùng anh Đỗ Tuế, phó chủ tịch UBND tỉnh, kiêm chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch tỉnh, được phân công đón, tiếp Ủy viên dự khuyết TW, Phó chủ nhiệm thứ nhất UBKH Nhà nước Đỗ Quốc Sam về dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn lần thứ V (Vòng I: 22-24/4/1991) và để bầu tham gia đoàn Đại biểu của tỉnh Đảng bộ về dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Lần đầu tiên được gặp GS. Đỗ Quốc Sam tôi rất ấn tượng về một người lãnh đạo có dáng người cao lớn, ăn mặc chỉnh tề, có giọng nói trầm ấm, dễ gần. Tôi nói với anh Đỗ Tuế: " Em thấy bác Sam có phong thái của một người thầy giáo uyên thâm, đức độ và khá kiệm lời". Anh Tuế nói: "Thế cậu không biết, trước 29

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMkhi là lãnh đạo Ủy ban kế hoạch nhà nước anh Sam từng là giáo sư, Hiệu trưởng trường Đại học Xây dựng à". Tôi nói: "Em không biết, em chỉ cảm nhận vậy thôi." Sau 3 ngày đại hội, thay vì trở về Thủ đô Hà Nội, bác Sam có nói với tôi muốn được đi thăm huyện Lục Yên, dự buổi thông xe kỹ thuật cầu Tô Mậu và lên thăm thị xã biên giới Lào Cai cũ. Đó là một chặng đường dài, đầy khó khăn và bất trắc ở thời điểm bấy giờ. Tôi báo cáo với anh Đỗ Tuế và nêu những băn khoăn của mình, nhất là việc lên tận thị xã Lào Cai cũ, giáp biên giới Trung Quốc khi đó vẫn còn hoang tàn, đổ nát, đầy rẫy bom mìn, cấm người qua lại. Tối hôm ấy, sau bữa tối liên hoan mừng Đại hội Đảng thành công, chúng tôi gặp lại bác Sam và báo cáo tường tận những khó khăn, trắc trở sẽ phải đối mặt. Giáo sư nở một nụ cười rất vui vẻ nói rằng: "Thôi các anh về nghỉ đi, sáng mai ta xuất phát sớm nhé, tôi đi được mà." Hôm sau, mặc dù xuất phát từ sớm nhưng đến tận buổi trưa Đoàn mới tới địa phận huyện Lục Yên, anh Vũ Tiến Chiến nguyên là Phó giám đốc Sở giao thông được luân chuyển về làm chủ tịch UBND huyện ra tận bến phà Tô Mậu đón đoàn. Đêm đó, bác Sam nói tôi ngủ cùng phòng với bác, hai anh em tâm sự với nhau nhiều về gia đình, về công việc. Hóa ra, gia đình bác Sam và gia đình anh Vũ Tiến Chiến là chỗ quen biết, thân tình từ rất lâu rồi. Bác Sam có một người con trai cũng trạc tuổi với con trai của tôi. Sáng hôm sau, sau buổi lễ thông xe kỹ thuật cầu Tô Mậu, đoàn chúng tôi lại hành quân lên thị xã Cam Đường. Quốc lộ 70 khi đó đầy những ổ voi, ổ trâu, gồ ghề, đường quanh co, dốc ngược, chỉ hơn 100km mà chúng tôi phải đi mất gần 7 tiếng mới lên đến nơi. Đó thực sự là một thử thách không nhỏ đối với một người đã ngoài 60 tuổi như giáo sư Đỗ Quốc Sam. Khi ông bước xuống xe, tôi để ý thấy dáng điệu mệt mỏi trên khuôn mặt và bước đi của ông không còn được thanh thoát. Trong bữa ăn tối hôm đó, anh Trần Đình Sự - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Cam Đường nói: "Đoạn đường từ đây lên thị xã Lào Cai cũ khoảng hơn 10 cây số, nhưng chỉ đi ô tô được một nửa còn lại phải đi bộ. Mấy hôm trước mưa nhiều đường đất đỏ rất lầy lội, còn trên thị xã cũ cây cối rậm rạp, đầy rẫy bom mìn, phải đi theo những lối mòn. Hay đoàn kết thúc chuyến đi ở đây thôi, đây cũng là khu vực giáp biên giới của tỉnh Hoàng Liên Sơn rồi?". Tôi và anh Tuế cũng đồng tình: "Có lẽ như vậy cũng hợp lý anh ạ!". Bác Sam trầm ngâm một chút rồi nói "Tại sao ta đã vượt qua gần 200 cây số để tới đây mà chỉ còn hơn 10 cây số nữa lại bỏ cuộc". Tất cả im lặng, không ai nói gì thêm nữa. Sáng hôm sau 28/4/1991, đoàn chúng tôi gồm 5 người, cùng anh Trần Đình Sự và mấy anh em công an, bộ đội biên phòng lên đường. Xe ô tô đi được khoảng 3-4 cây số thì không thể đi tiếp vì đường đất lầy lội, trơn trượt, xe bị patine trong các rãnh sâu. Tất cả phải xuống xe đi bộ, khi mở cửa xe xuống, tôi thấy bác Sam nhăn mặt, bước đi tập 30

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯtễnh. Tôi lại gần hỏi thì bác cúi xuống nói rất nhỏ vừa đủ cho tôi nghe: "Tớ bị đau ở hông và chân bên phải, có lẽ bị đau thần kinh tọa, cậu cho tớ vịn để đi qua đoạn dốc này nhé". Từng bước, từng bước chậm rãi, ông bền bỉ vượt qua đoạn đường còn lại, thậm chí còn yêu cầu chúng tôi đưa ông qua phà Cốc Lếu, sang tận đầu cầu Hồ Kiều. Cây cầu đường sắt bắc qua dòng sông Nậm Thi nối liền thị xã Lào Cai với thị trấn Hà Khẩu, Vân Nam, Trung Quốc đã bị đánh sập trong chiến tranh biên giới 1979. Trong ảnh từ trái sang: anh Trần Đình Sự (thứ 2), bác Đỗ Quốc Sam (thứ 4), anh Đỗ Tuế (thứ 5), tôi thứ 6 _ Ảnh chụp trưa ngày 28/4/1991 tại đầu cầu Hồ Kiều Sau lần đầu tiên được gặp và tháp tùng ông trong chuyến công tác ấy, tôi cảm nhận được rất nhiều điều: không dùng những lời đao to, búa lớn để nói về mục đích chuyến đi, âm thầm vượt qua những giới hạn về sức khỏe và cả những khắc nghiệt của môi trường để đạt được mục tiêu đề ra. Tôi cảm nhận được cái ân tình khi ông đến thăm Lục Yên, cái tầm của người lãnh đạo cấp cao khi quyết tâm đến vùng địa đầu biên giới tổ quốc. Tôi vô cùng ngưỡng mộ ông, một con người kiên định, phi thường. Sau chuyến đi tròn 2 tháng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII được tổ chức (24-27/6/1991), GS.Đỗ Quốc Sam được bầu vào Ban chấp hành Trung ương đảng và giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước. Cũng vào thời gian này, kỳ họp thứ 9 quốc hội khóa VIII đã ra nghị quyết bắt đầu từ ngày 01/10/1991 chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh: Lào Cai và Yên Bái. 31

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMTôi được phân công trở về miền biên ải Lào Cai, được bầu vào Ban thường vụ tỉnh ủy và giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch tỉnh. Trong năm đầu mới tái lập (1992), do chưa xác định được vị trí đóng tỉnh lỵ, tỉnh phải chia các cơ quan xây dựng lán trại, ở tạm tại 3 địa điểm cách rất xa nhau: Phố Lu - Tằng Loỏng - Cam Đường. Khi ấy, Ủy ban kế hoạch của chúng tôi ở tạm trong khu Kho lương thực ở Cam Đường. Để làm việc với các sở, ngành phải xuống Phố Lu, rồi đến Tỉnh ủy, Ủy ban làm việc tại Tằng Loỏng, rồi về cơ quan vừa tròn 100 km. Cả cơ quan chỉ có 01 chiếc xe Uoat cũ, cán bộ phải tự đi xe đạp, xe máy, gian khổ và tốn kém vô cùng. Tháng 6/1992, sau chuyến thăm Lào Cai của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, Trung ương quyết định: Tỉnh lỵ Lào Cai đặt tại thị xã biên giới Lào Cai cũ. Thị xã Lào Cai khi đó hoang tàn, đổ nát, cây cối rậm rạp, đầy rẫy bom mìn, chỉ còn duy nhất tháp chuông nhà thờ Cốc Lếu chưa bị đánh sập. Cầu Cốc Lếu, cầu Hồ Kiều, ga Lào Cai, Phố Mới đều bị tàn phá. Người Lào Cai khi đó thường nói với nhau là xây dựng lại thị xã tỉnh lỵ không phải từ Cốt 0 mà là từ Cốt âm (-). Trong 6 tháng còn lại của năm 1992, việc đầu tiên quan trọng nhất là quy hoạch lại thị xã tỉnh lỵ Lào Cai. Viện Quy hoạch đô thị - nông thôn và Bộ Xây dựng đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Tất cả mọi công việc đều phải làm cùng một lúc, vừa làm vừa điều chỉnh. Cuối năm 1992, sau khi quy hoạch thị xã tỉnh lỵ cơ bản hình thành, được tỉnh và Bộ Xây dựng đồng ý, Ủy ban kế hoạch tỉnh đã đề xuất phương án di chuyển toàn bộ các cơ quan của tỉnh từ 3 địa điểm tập kết lên làm việc tại Thị xã. Cùng lúc đó Thị xã Lào Cai cũng chính thức được tái lập. Vừa rà phá bom mìn, vừa xây dựng. Việc phân chia đất, xây dựng lán trại tạm cho hàng trăm cơ quan, ban ngành của tỉnh, của thị xã, rồi xây dựng đường phố, nhà cửa cho cán bộ tập kết, trụ sở cơ quan, bệnh viện, trường học, nước ăn, cầu đường, ga tầu,.. tất cả đều cần thiết. Thiếu đơn vị tư vấn thiết kế, thiếu lực lượng xây dựng có tay nghề nhưng cái thiếu lớn nhất là tiền vốn. Tháng 12/1992, sau khi nghe tôi báo cáo về việc chính phủ giao kế hoạch năm 1993 cho tỉnh, anh Nguyễn Quí Đăng chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nói: "Năm 93 là năm đầu đột phá của tỉnh với hàng loạt những công trình cơ bản, thiết yếu mà vốn liếng thế này thì làm sao được". Tôi báo cáo: "Kế hoạch năm 1993 được xây dựng từ giữa năm 1992, khi đó ta chưa hoàn thành qui hoạch thị xã tỉnh lỵ, chưa xác định được vị trí, qui 32

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯmô các dự án nên chưa có cơ sở báo cáo trung ương phân bổ vốn được. Giờ qui hoạch duyệt xong thì kế hoạch lại giao rồi". - Vậy chú phải đi thôi, làm sao phải mời được anh Đỗ Quốc Sam, chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước lên thăm Lào Cai để chia sẻ và tìm cách tháo gỡ vấn đề hóc búa này. - Thưa anh, anh Sam đã lên thị sát tận nơi, thậm chí còn đi phà sang tận đầu cầu Hồ Kiều cách đây mới hơn một năm thôi ạ. Tất cả những khó khăn của việc xây dựng lại thị xã Lào Cai bác ấy quá hiểu, với lại công việc của bác ấy bây giờ bận lắm, không chắc bác ấy lên được đâu ạ. Tuy vậy, sau tết nguyên tiêu năm Quí Dậu (15 tháng giêng, tức 6/2/1993) tôi về Hà Nội đến gặp bác Sam tại phòng làm việc ở tầng 2, trụ sở 6B Hoàng Diệu. Tôi trình bày ngắn gọn những khó khăn, áp lực và những công việc tỉnh Lào Cai đang phải đối mặt. Đồng thời chuyển công văn của Lãnh đạo tỉnh mời bác lên thăm, tháo gỡ giúp Lào Cai. Bác chăm chú lắng nghe, vẻ mặt rất đăm chiêu và không nói gì. Một lúc sau bác chậm rãi nói: "Thời điểm này tôi rất bận, không biết có thu xếp để lên Lào Cai được một chuyến nữa không?" - Dạ tỉnh và bọn em hiểu ạ. Nếu không lên được, mong bác cử một lãnh đạo hoặc các cục, vụ có liên quan lên nghiên cứu, giúp đỡ cho tỉnh ạ. Vừa lúc đó, có mấy cán bộ gõ cửa xin vào gặp bác, tôi liền đứng dậy chào và xin phép ra về. Vừa ra khỏi cửa, đột nhiên bác gọi tôi quay lại và bảo: "Việc tháo gỡ cho Lào Cai là cần thiết và chính đáng. Nhưng kế hoạch 1993 đã giao rồi, vốn dự phòng không có nhiều. Việc này muốn giải quyết được phải có sự hợp tác của Bộ Tài chính, cậu có quen biết anh Hồ Tế - Bộ trưởng Bộ Tài chính không?" - Dạ, em chưa từng gặp bác ấy ạ. - Không sao cả, cậu cứ sang trình bày và nói Lãnh đạo tỉnh mời lên giúp Lào Cai. Có gì tôi sẽ điện thoại nói thêm với anh ấy. - Hai đoàn đi cùng nhau ạ? - Đi cùng chứ sao, đi cùng nhau thì mới thảo luận giải quyết được." Bước ra khỏi phòng ông, tôi vừa mừng vừa lo và thật sự bất ngờ trước quyết định của ông. Không hiểu đã có tiền lệ nào vì một địa phương vùng biên giới mà hai vị Bộ trưởng đứng đầu hai bộ, ngành thành lập đoàn chung lên tháo gỡ cho tỉnh không? Và liệu tôi có thuyết phục được Bộ trưởng Hồ Tế không, khi mà tôi chưa từng gặp ông. Ngoài việc điện khẩn cho Lãnh đạo tỉnh làm công văn mời đem xuống Hà Nội, tôi sực nhớ đến anh Vũ Văn Liên, một kiến trúc sư đang tham gia thiết kế các công trình trên Lào Cai. Anh Hồ Tế với anh Liên là anh em đồng hao, anh Tế lấy chị gái, anh Liên lấy em gái, có một lần anh Liên nói với tôi như vậy. Hôm sau, tôi nhờ anh Liên dẫn tôi đến gặp anh Hồ 33

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMTế để báo cáo. Cũng như anh Sam, anh Hồ Tế chia sẻ: "Công việc của tớ ngập cả đầu, cả việc đối nội, cả đối ngoại, không biết có đi được không, có gì tớ sẽ trao đổi với anh Đỗ Quốc Sam và thông báo sau nhé." Tôi ở Hà Nội thêm 3 ngày để chạy đi, chạy lại giữa Ủy ban kế hoạch nhà nước và Bộ Tài chính để nghe ngóng, nói thêm với các đơn vị trực thuộc. Ngay sáng trước khi trở lại Lào Cai, tôi nhận được thông tin Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước Đỗ Quốc Sam và Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Tế sẽ lên thăm và làm việc với tỉnh Lào Cai vào ngày 22/2/1993. Chiều ngày 22/2/1993, anh Tráng A Pao, Bí thư tỉnh ủy; anh Nguyễn Quí Đăng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, cùng các đơn vị có liên quan đã đón đoàn tại ngã 3 Bắc ngầm. Mặc dù trải qua quãng đường rất dài, mệt mỏi, nhưng ngay tối hôm đó đoàn đã làm việc luôn với tỉnh Lào Cai đến gần nửa đêm. Sáng hôm sau 23/2, đoàn đi thăm các công trình đang xây dựng: Nhà máy nước, cầu Cốc Lếu, ga Lào Cai, Hải quan cửa khẩu và những công trình thiết yếu khác. Buổi chiều cùng ngày, đoàn tiếp tục làm việc với Lãnh đạo tỉnh và khẳng định sẽ báo cáo Chính phủ hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn cho Lào Cai. Sau 2 ngày thăm và làm việc, Đoàn không chỉ thống nhất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, bố trí thêm nguồn lực để Lào Cai hoàn thành các công trình thiết yếu mà còn có ý kiến với các Bộ, ngành khác có liên quan, hỗ trợ Lào Cai sớm khôi phục lại đường Quốc lộ 70, cầu Cốc Lếu, đường sắt Phố Lu - Lào Cai, lưới điện và nhiều hạ tầng quan trọng khác. Với sự hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, các Bộ ngành cộng với sự phấn đấu nỗ lực của tỉnh, sau gần 3 năm (1993-1995) diện mạo thị xã tỉnh lỵ Lào Cai đã hình thành, các tuyến quốc lộ đến Lào Cai được nâng cấp, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Khẩu được liên thông. Tỉnh biên giới Lào Cai bắt đầu bước vào giai đoạn ổn định và phát triển. Đến nay, đã 32 năm trôi qua, những ký ức về chuyến thăm, làm việc của 2 vị đứng đầu ngành Kế hoạch đầu tư và Tài chính vẫn in đậm trong tâm khảm tôi. Sau này, tôi được điều động về làm Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tôi càng hiểu và thấm thía hơn, để có được quyết định chuyến đi Lào Cai cùng nhau vào năm ấy thật hiếm có. Hai vị Bộ trưởng, hai người đứng đầu hai ngành đã gạt sang một bên cái tôi, cái quyền riêng của mỗi ngành, vì một địa phương vùng biên giới khó khăn, mà cụ thể hơn là vì nhân dân - Họ đã hợp tác, cống hiến. Những câu chuyện, những ký ức về Giáo sư Đỗ Quốc Sam với tôi còn rất nhiều, rất đậm nét. Càng gần ông sau này tôi càng thêm quí mến, kính trọng ông. Ông mất ngày 24/6/2010 hưởng thọ 82 tuổi, nhưng với tôi hình ảnh về ông vẫn sống mãi. Hà Nội, ngày 30/6/2025 34

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯBí Thư tỉnh ủy Tráng A Pao (ngoài cùng bên phải), Chủ nhiệm UBKH Nhà nước Đỗ Quốc Sam (thứ hai từ phải sang), Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Quý Đăng (thứ ba từ phải sang), Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Tế (thứ tư từ phải sang) và Tôi (ngoài cùng bên trái) thăm Hải quan cửa khẩu Lào Cai ngày 23/2/1993 35

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM NGƯỜI THẦY, NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐÁNG KÍNH ThS. Nguyễn Văn Công, Nguyên Chủ tịch HĐQT CTCP Tư vấn công nghệ thiết bị và kiểm định xây dựng CONINCO, Nguyên Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội Kết cấu và công nghệ xây dựng Việt Nam I. GIAI ĐOẠN CÔNG TÁC TẠI ỦY BAN XÂY DỰNG CƠ BẢN NHÀ NƯỚC (1982 - 1988) VÀ HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH NHÀ NƯỚC VỀ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ (1996 - 2007) Trong ký ức của nhiều thế hệ học trò, đồng nghiệp và những người yêu khoa học, Giáo sư Đỗ Quốc Sam không chỉ là một nhà khoa học uyên bác, mà còn là một người thầy mẫu mực, một con người tận tụy với trí tuệ và trái tim đầy nhân hậu. Giáo sư Đỗ Quốc Sam không chỉ để lại dấu ấn trong khoa học mà còn trong cách đối nhân xử thế. Giáo sư luôn khuyến khích lớp trẻ dấn thân, không ngại sai lầm và coi trọng sự chân thành trong học thuật. Với học trò, thầy là người thầy đôn hậu; Với đồng nghiệp, thầy là một người bạn lớn, một người lãnh đạo gương mẫu. Những năm đầu của thập kỷ 80, đây là thời kỳ đất nước đang bước vào công cuộc khôi phục và phát triển sau chiến tranh, với nhiều thách thức về cơ sở hạ tầng, quy hoạch đô thị và phát triển công nghiệp. Năm 1982, Đảng và Nhà nước đã tín nhiệm điều động Giáo sư Đỗ Quốc Sam - Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng, đến nhận công tác và giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước (từ tháng 7/1982 đến tháng 3/1988). Là một trong những sinh viên mới tốt nghiệp Trường Đại học Xây dựng, công tác tại Viện Nghiên cứu về cơ giới hóa và công nghệ xây dựng thuộc Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, tôi đã rất vinh dự được Giáo sư lựa chọn tham gia giúp việc (cùng anh Vũ Quốc Khánh - Viện Tiêu chuẩn hóa và điển hình hóa xây dựng). Điều đó đã nói lên, ngày từ những ngày đầu làm việc tại Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Giáo sư đã chú trọng, quan tâm đến công tác đào tạo thế hệ trẻ chúng tôi. Trong quá trình công tác Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Giáo sư đặc biệt quan tâm đến khoa học kỹ thuật trong xây dựng và đào tạo cán bộ kỹ thuật. Thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại trong thiết kế và thi công xây dựng ở Việt Nam. Góp phần vào việc biên soạn các chính sách pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm, định mức, đơn giá, v.v... cho toàn ngành xây dựng cơ bản. 36

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯGiáo sư có tầm nhìn chiến lược, nhấn mạnh vai trò của thiết kế quy hoạch xây dựng tổng thể quan trọng: Các vùng lãnh thổ, vùng công nghiệp và đô thị, phát triển bền vững, đồng thời kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong quá trình xây dựng cơ bản. GS Đỗ Quốc Sam, Chủ nhiệmUBXDCB nhà nước tại Hội nghị Đánh giá kết quả vấn đề Nghiên cứu khoa học định mức lao động thi công thống nhất trong xây dựng 37

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGiáo sư Đỗ Quốc Sam cũng là một chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực kinh tế và quản lý phát triển. Khi đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Nhà nước về các vụ án đầu tư, ông có đóng góp quan trọng trong việc định hình cơ chế thẩm định và nâng cao chất lượng các quyết định đầu tư công tại Việt Nam. Giáo sư Đỗ Quốc Sam giữ vai trò then chốt trong việc thiết lập quy trình, tiêu chí đánh giá và tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các dự án đầu tư nhà nước. Dưới sự chủ trì của ông, Hội đồng Thẩm định đã từng bước xây dựng được quy chuẩn nhằm đảm bảo: Tính hiệu quả kinh tế và tính khả thi kỹ thuật của dự án; Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong thẩm định đầu tư. Giáo sư là người có tinh thần làm việc kỹ lưỡng và độc lập. Ông là người tiên phong trong việc lồng ghép các yếu tố phát triển bền vững vào quá trình thẩm định, đặc biệt là: Mức độ phù hợp với quy hoạch phát triển vùng, ngành; Tác động đến môi trường và an sinh xã hội; Đầu tư công là trách nhiệm đối với tương lai đất nước. Ngoài công tác chuyên môn, ông thường xuyên đào tạo và truyền cảm hứng cho thế hệ chuyên gia. Với vai trò của một nhà khoa học và nhà quản lý, Giáo sư đã đóng góp vào việc hình thành đội ngũ cán bộ thẩm định có năng lực, thông qua các buổi giảng dạy, hội thảo, tư vấn chính sách; Tạo dựng môi trường làm việc đề cao tính học thuật gắn với thực tiễn; Khuyến khích phản biện khoa học trong quá trình ra quyết định đầu tư. Trong giai đoạn này, tôi được tháp tùng Giáo sư trong nhiều chuyến công tác (Thủy điện Thác Mơ, thăm và làm việc tại các công trình dầu khí...) và đã tiếp thu được ý tưởng, tầm nhìn của Giáo sư để xây dựng CONINCO như ngày hôm nay. Có thể kể đến một ví dụ cụ thể: Giáo sư đã có lần trao đổi với tôi về quan điểm "Công ty kiểm định phải có phòng thí nghiệm", lĩnh hội được ý kiến quý báu đó, năm 1998, CONINCO đã được Bộ Xây dựng đồng ý thành lập Phòng Thiết bị - Thí nghiệm và đến nay đơn vị này vẫn phát huy hiệu quả hoạt động. 38

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯGS. Đỗ Quốc Sam, Chủ tịch Hội đồng Thẩm định nhà nước về các dự án đầu tư, chủ trì Hội nghị thẩm định dự án quan trọng quốc gia Trong quá trình công tác, với những kinh nghiệm và mong muốn đóng góp vào việc xây dựng pháp luật, Giáo sư đã đã tổng kết, đánh giá những yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa để hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, điều này thể hiện qua các bài viết "Về Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa ở Việt Nam" - Tạp chí Cộng sản Điện tử, Số 108 năm 2006; "Lại bàn về cải cách hành chính" - Tạp chí Cộng sản Điện tử, Số 151 năm 2008... Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã để lại dấu ấn lớn trong giai đoạn công tác tại Hội đồng Thẩm định Nhà nước về các Dự án đầu tư. Ông không chỉ là người "gác cổng" hiệu quả trong đầu tư công mà còn là kiến trúc sư về tư duy thẩm định hiện đại, đặt nền móng cho cơ chế đánh giá dự án công minh bạch, hiệu quả và hướng tới phát triển bền vững. 39

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGS Đỗ Quốc Sam khảo sát dự án Thủy điện Yaly II. GIAI ĐOẠN CÔNG TÁC TẠI HỘI KẾT CẤU VÀ CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG VIỆT NAM (1984 - 2010) Những năm đầu thập kỷ 80, nhu cầu tái thiết, phát triển cơ sở hạ tầng, nhà ở, công trình công cộng là rất lớn. Tuy nhiên, ngành xây dựng còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu sự phối hợp giữa các tổ chức, cá nhân trong ngành. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước chủ trương thúc đẩy các hội nghề nghiệp, nhằm tập hợp lực lượng chuyên môn để đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Ngày 25/5/1984, tại Hà Nội, Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng Việt Nam ra đời (tên ban đầu là Phân Hội Kết cấu xây dựng) và là một trong những hội khoa học kỹ thuật chuyên ngành xây dựng cơ bản được thành lập sớm nhất ở nước ta. Giáo sư Đỗ Quốc Sam là vị Chủ tịch đầu tiên, sáng lập Hội. Mục tiêu của việc thành lập Hội là tập hợp nguồn lực các nhà trí thức, khoa học, góp phần phục vụ sự phát triển kinh tế đất nước sau hòa bình và phổ biến, trao đổi kinh nghiệm, kiến thức khoa học trong lĩnh vực kết cấu và công nghệ xây dựng. Hội đã quy tụ được nhiều các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật hoạt động của các trường Đại học, Viện nghiên cứu, các Công ty Tư vấn lớn trên toàn quốc thuộc các chuyên ngành: Xây dựng, Giao thông, Thuỷ lợi, Năng lượng, đã và đang tham gia nhiều lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân. 40

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯVới nhiều người, việc thành lập Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng, Giáo sư là minh chứng sống động cho niềm đam mê trọn đời của thầy đối với khoa học và sự nghiệp phát triển ngành xây dựng nước nhà. Giáo sư với vai trò của một “người kết nối” - kết nối các nhà khoa học lớn tuổi với lớp trẻ, kết nối giới nghiên cứu với thực tiễn sản xuất, kết nối các doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu. Kể từ những ngày đầu thành lập, Giáo sư Đỗ Quốc Sam - Chủ tịch Hội luôn xác định lấy công tác sinh hoạt học thuật làm trọng tâm,với mục tiêu không ngừng phát triển nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực kết cấu và công nghệ xây dựng, tích cực tham gia tư vấn, phản biện một số dự án cấp ngành và Nhà nước, chủ trì, đồng tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị khoa học; triển khai thực hiện các đề tài khoa học công nghệ, phổ biến các thành tựu mới về lĩnh vực chuyên môn để ứng dụng vào thực tiễn. Để phù hợp với sự phát triển của xã hội nói chung và ngành Xây dựng nói riêng, trong giai đoạn làm Chủ tịch Hội (từ 1984 đến 2005) và Chủ tịch Danh dự (từ 2005 đến 2010), Giáo sư luôn quan tâm chỉ đạo việc kiện toàn cơ cấu tổ chức bằng việc thành lập các tổ chức trực thuộc: Câu lạc bộ Kết cấu và công nghệ xây dựng (2005); Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh (2006); Trung tâm Đào tạo và tư vấn xây dựng (2007); Tạp chí Kết cấu và công nghệ xây dựng (2009). Các tổ chức trên đã giúp thế hệ trẻ học hỏi kinh nghiệm, khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, là cầu nối giữa Doanh nghiệp - Chuyên gia - Trường đại học, Viện nghiên cứu và nâng cao uy tín của Hội trong mắt nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Công tác tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học được tổ chức thường xuyên hàng năm. Tuy nhiên, để tạo ra một tạo ra một không gian sinh hoạt học thuật, nghề nghiệp và là cầu nối giữa các kỹ sư kết cấu, nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và doanh nghiệp, năm 2005, Giáo sư đã có sáng kiến thành lập Câu lạc bộ Kết cấu và Công nghệ xây dựng. Các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ được tổ chức ở các Trường Đại học, Viện Nghiên cứu đã tạo cơ hội, nâng cao năng lực cho sinh viên, kỹ sư trẻ tiếp cận thực tiễn ngành nghề sớm, phát triển kỹ năng mềm (giao tiếp, tư duy phản biện...), tăng cơ hội việc làm, thực tập, kết nối với doanh nghiệp và góp phần xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp. Sự ra đời của Câu lạc bộ Kết cấu và Công nghệ xây dựng không chỉ là một bước tiến chuyên môn mà còn là biểu hiện của tầm nhìn dài hạn trong việc kiến tạo một cộng đồng xây dựng, liên kết và phát triển bền vững. Những năm cuối đời, mặc dù sức khỏe đã yếu, Giáo sư vẫn tâm huyết, khuyến khích hội xuất bản tạp chí khoa học chuyên ngành, đặc biệt định hướng không chạy theo lợi nhuận. Năm 2009, Tạp chí Kết cấu và Công nghệ Xây dựng đã xuất bản số đầu tiên theo đúng mong 41

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMước của Giáo sư. Tạp chí Kết cấu và Công nghệ xây dựng là một diễn đàn khoa học, đã lan tỏa tri thức chuyên sâu đến cộng đồng kỹ sư, giảng viên, sinh viên, nhà nghiên cứu; là bộ mặt học thuật của hội, thể hiện uy tín và năng lực chuyên môn, tạo diễn đàn học thuật độc lập và định hướng chuyên sâu và là nơi công bố các nghiên cứu có giá trị... Trong quá trình hơn 40 năm xây dựng và phát triển của Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng, dấu ấn của Giáo sư vẫn còn được duy trì, điều đặc biệt đó là "Sự tham gia hoạt động Hội của Nhóm Trung kiên". Nhóm Trung kiên gồm những Hội viên kỳ cựu, tham gia hoạt động Hội từ những ngày đầu thành thành lập, có thể kể đến các vị: GS.TS. Nguyễn Văn Phó, GS.TS. Đoàn Định Kiến, PGS.TS. Phan Vị Thủy, KS. Trương Nguyên Mân, PGS.TS. Trần Chủng...hiện nay vẫn là nòng cốt tham gia sinh hoạt hội. Giai đoạn làm Chủ tịch Hội là một minh chứng nữa cho phong cách sống và làm việc nhất quán của Giáo sư Đỗ Quốc Sam. Với bản thân tôi, đã theo học và giúp việc Thầy từ những ngày đầu tham gia sinh hoạt Hội, Thầy đã để lại ấn tượng "không ngừng học hỏi, không ngừng chia sẻ, không ngừng tin tưởng vào con người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Thầy đã gieo mầm cho một thế hệ những người làm khoa học và kỹ thuật, không chỉ bằng kiến thức, mà bằng lòng tin và sự bao dung". Ngoài chuyên môn và công tác quản lý, Thầy còn quan tâm và tham gia nhiều lĩnh vực: viết bài trong cuốn sách "Về quê hương nhà Lý", sở thích sưu tầm các loại sách (khoa học, quản lý, văn học...). Trước khi nghỉ hưu, Thầy đã tặng cho Công ty CONINCO một khối lượng lớn các loại sách mà Thầy đã sưu tầm, đây là nguồn tư liệu quý hiếm và mong ước thế hệ trẻ qua đó sẽ học tập và phát huy các giá trị tinh thần. 15 năm, kể từ ngày Giáo sư Đỗ Quốc Sam - người Thầy, người Lãnh đạo đáng kính ra đi, trong suốt cuộc đời cống hiến không mệt mỏi, giáo sư không chỉ là một nhà khoa học uyên bác mà còn là người thầy mẫu mực, một tấm gương sáng về nhân cách, trí tuệ và lòng yêu nước. Trong ký ức của học trò và đồng nghiệp, Giáo sư là người nghiêm khắc nhưng đầy tình cảm, luôn khơi dậy khát vọng học hỏi, sáng tạo. Ông không chỉ truyền dạy tri thức mà còn truyền cảm hứng sống và làm việc với lý tưởng. Những di sản trí tuệ và tinh thần mà ông để lại sẽ mãi mãi sống cùng thời gian, soi đường cho các thế hệ mai sau. 42

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯGIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM, NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG HỢP TÁC GIỮA ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI VỚI ĐẠI HỌC BAUHAUS WEIMAR PGS. TS Tống Trần Tùng Nguyên Trưởng bộ môn Kết cấu, Trưởng Khoa Công trình Trường ĐHGTVT Nguyên Vụ trưởng Vụ KH&CN Bộ GTVT Trên ấn phẩm Der Bogen - Journal der Bauhaus-Universität Weimar số 1/2007 có bài viết “Engere Beziehungen zu Vietnam knüpfen Fakultät Bauingenieurwesen organisiert 2007 Summer School und Alumni-Treffen in Hanoi” (Xây dựng mối quan hệ bền chặt hơn với Việt Nam, khoa Xây dựng tổ chức Trường hè 2007 và gặp gỡ cựu sinh viên tại Hà Nội). Bài viết này có nhắc đến việc “unsere beiden Universitäten verbinden langjährige gute Beziehungen, die seit 1979 durch einen Partnerschaftsvertrag untermauert sind – hai trường đại học của chúng ta có mối quan hệ tốt đẹp và lâu dài trên nền tảng thỏa thuận hợp tác từ năm 1979”. Bài viết còn cho biết “Während des Besuchs unterzeichnete der Rektor der HUCE einen Vertrag zur Ausbildung vietnamesischer Studenten an der Bauhaus-Universität Weimar - Trong chuyến thăm này, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã ký thỏa thuận đào tạo sinh viên Việt Nam tại Đại học Bauhaus Weimar”. Hiệu trưởng trường Đại học Xây dựng ký văn kiện này là Giáo sư Đỗ Quốc Sam. Tuy vậy ít ai biết được hay còn nhớ chính Giáo sư Đỗ Quốc Sam là người đã đặt nền móng cho sự hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm trong chuyên môn … giữa trường Đại học xây dựng Hà Nội với trường Đại học Kiến trúc và Xây dựng Weimar trước đây, nay là Đại học Bauhaus Weimar và một số trường đại học khác của nước Đức. Bài viết xin được kể thêm về quá trình hình thành và phát triển của mối quan hệ hợp tác hiệu quả và tốt đẹp đã trải qua gần một nửa thế kỷ này. Từ năm 1978, ý tưởng gắn kết hai trường Đại học Kiến trúc và Xây dựng Weimar (Hochschule für Architech und Bauingenieurwesen Weimar - HAB Weinmar) với Đại học Xây dựng Hà Nội – HUCE đã được hai chúng tôi (tôi và anh Nguyễn Văn Nghiễm, chuyển tiếp sinh làm Tiến sĩ lĩnh vực Toán ứng dụng) bàn với nhau. Năm đó là 43

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMnăm HAB Weimar cùng với Bauakademie der DDR-Viện Hàn lâm khoa học Xây dựng Cộng hòa Dân chủ Đức - tổ chức “8th Internationaler Kongress uber Anwendungen der Mathematik in den Ingenieurwissenschaften – Hội nghị Quốc tế lần thứ 8 về ứng dụng toán học trong Khoa học Kỹ thuât”, được viết tắt là IKM. Giáo sư hướng dẫn anh Nghiễm ở trong ban tổ chức IKM nên anh Nghiễm đã nói với ông ấy, còn tôi thì nói với Giáo sư Grönwald, ngày ấy là Bí thư Đảng bộ SED của HAB Weimar, đề nghị Lãnh đạo HAB Weimar gửi giấy mời Giáo sư Đỗ Quốc Sam, Hiệu trưởng HUCE sang Weimar với tư cách là khách mời danh dự của IKM đồng thời sẽ bàn về việc hợp tác giữa HAB Weimar và HUCE. Đề nghị của chúng tôi đã được Giáo sư Karl-Albert Fuchs, Hiệu trưởng HAB Weimar và GS Grönwald rất hoan nghênh. Giáo sư Karl-Albert Fuchs trước khi về làm Hiệu trưởng HAB Weimar là Thứ trưởng Bộ Khoa học, Kế hoạch dự án và Hợp tác quốc tế CHDC Đức. Ông còn là Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xây dựng và Chủ tịch Phòng Công nghệ. Việc mời Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã được HAB Weimar nhanh chóng thực hiện. Năm 1978 cũng là năm tôi được thầy hướng dẫn nghiên cứu làm luận án, Giáo sư Tiến sĩ Habil E. Hampe khuyến khích và cho tôi được về nước nghỉ hè 1 tháng. Tôi còn được ông Pohl, trưởng ban hợp tác quốc tế của HAB Weimar giao nhiệm vụ mang Giấy mời về Việt Nam trao tận tay cho Giáo sư Đỗ Quốc Sam. Thế nhưng Thầy đã không sang dự Hội nghị được, hình như do không kịp làm thủ tục. Sang năm 1979, HAB Weimar gửi giấy mời Giáo sư Đỗ Quốc Sam, Hiệu trưởng và anh Nguyễn Xuân Trọng, Bí thư Đảng ủy HUCE sang thăm chính thức HAB Weimar. Tôi được các bạn Đức giao nhiệm vụ làm phiên dịch trong các buổi tiếp xúc, trao đổi và cả các buổi giao lưu trong thời gian 2 vị lãnh đạo của HUCE ở Weimar nói riêng và ở CHDC Đức nói chung. Tôi trở thành không những là phiên dịch mà còn là thư ký của Thầy Đỗ Quốc Sam và anh Nguyễn Xuân Trọng. Theo sự chỉ đạo của Thầy, tôi vừa soạn thảo bản thỏa thuận hợp tác bằng tiếng Việt, vừa chuyển ngữ sang tiếng Đức đưa cho ông Pohl để phía bạn cùng hoàn chỉnh văn bản. Trong buổi đoàn của HUCE làm việc với Giáo sư Grönwald, (còn là Chủ nhiệm Bộ môn Lý thuyết Kiến trúc và về sau là Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xây dựng CHDC Đức) ông ấy đã chính thức mời Giáo sư Đỗ Quốc Sam, anh Nguyễn Xuân Trọng và tôi đến thăm nhà ông và cùng dự bữa ăn tối với vợ chồng ông ở Haus Am Horn 61. Ông còn nói là sẽ rất hân hạnh được giới thiệu với các vị khách quý từ Việt Nam về trường phái kiến trúc Bauhaus của nước Đức ngay trong ngôi nhà mà ông ấy đang ở. 44

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯÔng còn cười và bảo tôi trước đó trên đường đi từ Khách sạn Elephant đến nhà ông, tôi cần dẫn mọi người đi thăm cây Ngân hạnh nổi tiếng của Weimar (ảnh 2), nhất là qua bài thơ Gingo Biloba của Đại thi hào Goethe, qua công viên Goethe, qua cầu Thiên Nhiên (Naturbrücke) cổ kính trên sông Ilm (ảnh 3), lướt qua nhà vườn Goethes Gartenhaus của Đại thi hào Goethe … Từ Khách sạn Elephalt đến nhà ông chỉ mất khoảng 15 phút đi bộ. Cây Ngân hạnh ở Weimar Naturbrücke der Ilm (st) GS. Grönwald 1989(st Bà Malis Grönwald trong ngôi nhà Am Horn Xin được nói thêm, đối với chúng tôi, những sinh viên, nghiên cứu sinh người nước ngòai đang học tập, nghiên cứu ở HAB Weimar ngày ấy thì Giáo sư B. Grönwald là một người bạn rất thân tình. Hàng năm vào buổi chiều ngày Quốc tế lao động 1 tháng 5, thành thông lệ, ông ấy mời tất cả sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh người nước ngoài ở HAB Weimar, khoảng dăm bảy chục người, đến dự liên hoan gặp mặt và ăn tối, ca hát … ngay trong khuôn viên của nhà ông ấy. 45

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMHaus Am Horn 61 (st) GS Grönwald tại triển lãm Bauhaus 1973 Tối hôm đó, chúng tôi có một buổi tối rất ấm cúng và thân tình. Thầy tôi nói chuyện trực tiếp với GS. Grönwald bằng tiếng Nga, còn tôi vừa nói chuyện với bà Malis Grönwald (ảnh 5) vừa làm phiên dịch cho anh Trọng. Trong không khí đầm ấm và thân tình của tối hôm đó cũng như nghe được lõm bõm câu chuyện trao đổi và nhất là những tiếng cười sảng khoái, cử chỉ thân mật, nét mặt vui tươi của Thầy và GS. Grönwald, tôi cảm nhận được chính GS. Grönwald cùng GS Đỗ Quốc Sam mới là những người đặt nền móng đầu tiên cho mối quan hệ hợp tác giữa HAB Weimar với HUCE. Chỉ sau vài hôm, bản thỏa thuận hợp tác (Partnerschaftsvertrag) giữa hai trường đã được thống nhất và ký kết. Lúc về nước, tôi vẫn giữ bản nháp bằng cả tiếng Đức lẫn tiếng Việt của văn kiện này nhưng qua mấy lần chuyển nhà, nay vẫn chưa tìm lại được. Phó Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Tùng, đương kim Hiệu trưởng HUCE, có hứa với tôi sẽ hỏi các bộ phận liên quan của HUCE xem có tìm được văn bản này không và sẽ thông tin lại cho tôi. Sau khi hoàn thành công việc ở Weimar, tôi được giao nhiệm vụ đưa Thầy Sam và anh Trọng đi thăm TH Leipzig, Dressden, TH Cotbus và Thành ph ố Berlin theo kế hoạch và lịch trình làm việc với lãnh đạo các trường này đã được sắp xếp chi tiết, kể cả khách sạn cũng đã được liên hệ, bố trí. Tôi còn được giao cả tiền mặt để tiêu vặt dọc đường cho mọi người. Lãnh đạo HAB Weimar đã đến Khách sạn Elephant tiễn đưa hai vị khách quý và nhắc lại nhiệm vụ của tôi. Tạm biệt Weimar, chúng tôi lên xe hướng Leipzig khởi hành. 46

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯBên bờ sông Elbe, Dressden với Hiệu trưởng TH Leipzig Thăm Völkerschlachtdenkmal Thăm Posdam cùng GS Präßler, Hiệu trưởng HfB Cottbus Giáo sư Präßler trước khi về làm Hiệu trưởng HfB Cottbus vào năm 1969 từng là phó Thị trưởng, thành viên Hội đồng về Xây dựng và Đầu tư của thành phố Berlin từ 1963 đến 1966 (stellvertretenden Oberbürgermeister und Stadtrat für Bauwesen und Investitionen), còn từ 1966 đến 1969 là Giám đốc Trung tâm Khoa học Kỹ thuật của bộ Xây dựng CHDC Đức. Ông đã nhiệt tình đưa Giáo sư Đỗ Quốc Sam và chúng tôi lên Berlin để giới thiệu vê các công trình xây dựng nổi tiếng mà ông từng tham gia xây dựng. Đó là Cung Cộng hòa (nay không còn). Đó là Tháp Truyền hình Berlin cao 368 mét, công trình cao nhất ở Đức và cao thứ ba ở Liên minh Châu Âu. Nó còn là công trình độc lập cao thứ tư trên thế giới tại thời điểm xây dựng năm 1969. Chúng tôi vừa ăn trưa tại nhà hàng xoay ở cao độ 203m vừa quan sát toàn cảnh thành phố Berlin. Tôi nhớ mãi cảm giác bị sốc khi được khai vị bằng một chén nhỏ súp rùa có giá đến 20 Mác DDR, trong khi một bữa ăn trưa ở Mensa của HAB Weimar chỉ phải trả 0,6 Mác. Ăn trưa xong ông còn dẫn chúng tôi đi thăm Posdam. Bài viết của tạp chí “Der Bogen” nói trên chỉ nhắc đến chuyến thịnh giảng đầu tiên ở HUCE của Giáo sư Rolf Steinmetzger năm 1984 và Giáo sư E. Raue năm 2007 mà chưa đề cập đến các thành quả và các giao lưu hợp tác, đào tạo và nghiên cứu khoa học không những giữa HUCE với Bauhaus Uni Weimar mà còn với các Trường Đại học khác ở Đức mà Giáo sư Đỗ Quốc Sam cùng Giáo sư Grönwald đã khởi tạo và đặt nền móng từ năm 1979. 47

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMCỐT CÁCH CỦA MỘT TRÍ THỨC VIỆT NAM Nhà báo Nguyễn Lưu Em vợ GS Đỗ Quốc Sam Giáo sư Đỗ Quốc Sam là một trí thức lớn của Việt Nam, nhưng trước hết ông là một con người được hình thành từ một nền nếp gia phong sâu dày. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, nơi đạo lý làm người được đặt lên trên danh lợi, nơi việc học không chỉ để lập thân mà còn để phụng sự đất nước. Cụ thân sinh ra ông, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Toại là một bậc túc nho nổi tiếng. Trong môi trường ấy, những giá trị như khiêm nhường, liêm chính, trọng nghĩa tình và tinh thần trách nhiệm với xã hội đã sớm thấm vào con người ông một cách tự nhiên, không cần giáo huấn cầu kỳ mà trở thành nếp sống. Chính từ cội nguồn ấy, GS Đỗ Quốc Sam trưởng thành như một con người điềm đạm, ít nói, nhưng sâu sắc và nhất quán trong tư duy cũng như hành xử. Dù sau này đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng trong giáo dục đại học, khoa học và quản lý nhà nước, ông vẫn giữ được cốt cách của một nhà nho hiện đại: không phô trương, không tìm kiếm sự nổi bật cho bản thân, luôn coi công việc và trách nhiệm chung là điều quan trọng nhất. Một duyên phận đặc biệt trong cuộc đời ông là việc trở thành con rể của GS Nguyễn Xiển, một nhân vật lớn của Việt Nam thế kỷ XX. Sự gắn kết ấy không chỉ là quan hệ gia đình, mà còn là sự gặp gỡ giữa hai truyền thống trí thức cùng chung nền tảng hiếu học và yêu nước. Trong đại gia đình trí thức của GS Nguyễn Xiển, nơi nhiều thế hệ gắn bó với nghề giáo và khoa học, GS Đỗ Quốc Sam luôn được trân trọng bởi sự giản dị, chân thành và phong thái khiêm nhường. Ông hòa mình vào nếp sống chung của đại gia đình ấy như một thành viên tự nhiên, góp phần làm phong phú thêm truyền thống trí thức đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Trong suốt cuộc đời công tác, từ người thầy trên giảng đường đến nhà khoa học trong lĩnh vực xây dựng và quy hoạch, rồi đến những trọng trách trong bộ máy quản lý nhà nước, GS Đỗ Quốc Sam luôn giữ một phong cách làm việc nhất quán: suy nghĩ kỹ, nói ít, làm chắc và luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Ông không coi quyền lực là mục tiêu, mà coi đó là trách nhiệm. Với ông, quản lý hay hoạch định chính sách trước hết là một dạng lao động trí tuệ đòi hỏi sự tỉnh táo, khách quan và tinh thần phục vụ. Điều khiến nhiều người kính trọng ông không chỉ là năng lực chuyên môn, mà còn là đời sống thanh bạch và giản dị đến gần như tự nhiên. Nhiều năm liền, bữa sáng của ông chỉ đơn giản là một gói xôi đậu xanh. Ông không rượu chè, không cầu kỳ trong sinh 48

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯhoạt, không bị cuốn vào những tiện nghi hay hình thức bên ngoài. Trong những năm tháng công tác, hình ảnh ông lặng lẽ đạp xe đi làm, đi họp, đi công tác đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Sau này, khi điều kiện sống khá hơn, ông vẫn gắn bó với chiếc xe Babetta nhỏ bé, giản dị ngày nào còn đi dạy học, như chính con người ông. Sự giản dị ấy không phải là sự gượng ép hay một lựa chọn để người khác nhìn thấy, mà là một nếp sống tự nhiên, phản ánh một quan niệm sống nhất quán: giữ cho đời sống cá nhân càng nhẹ, thì tâm trí càng sáng để dành cho công việc và trách nhiệm lớn hơn. Chính vì vậy, dù hoàn cảnh thay đổi, ông vẫn không thay đổi. Trong suốt cuộc đời hoạt động khoa học và giáo dục, GS Đỗ Quốc Sam có một mối liên hệ đặc biệt với Trường Đại học Xây dựng – nơi ông từng gắn bó từ những ngày đầu của sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu. Ở ngôi trường ấy, ông không chỉ là một người thầy truyền đạt kiến thức, mà còn là một trong những người góp phần hình thành và định hướng phát triển cho một ngành đào tạo quan trọng của đất nước trong giai đoạn xây dựng sau chiến tranh. Với ngành xây dựng, ông luôn có cách nhìn vừa khoa học vừa thực tiễn. Ông hiểu rằng xây dựng không chỉ là kỹ thuật thuần túy, mà còn là tổ chức không gian sống, là quy hoạch, là tư duy phát triển dài hạn gắn với tương lai của quốc gia. Chính vì vậy, trong giảng dạy cũng như trong nghiên cứu, ông luôn nhấn mạnh tính hệ thống, tính dự báo và trách nhiệm xã hội của người làm nghề. Những bài giảng của ông không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên môn, mà còn mở ra một cách nhìn rộng hơn về vai trò của ngành xây dựng trong sự phát triển đất nước. Nhiều thế hệ sinh viên và cán bộ trong ngành xây dựng vẫn nhớ hình ảnh một người thầy điềm đạm, nói chậm rãi nhưng chắc chắn, luôn đặt câu hỏi gợi mở hơn là áp đặt câu trả lời. Ông không tạo khoảng cách giữa thầy và trò, mà luôn coi người học là những đồng nghiệp tương lai trong một lĩnh vực đòi hỏi trí tuệ và sự nghiêm cẩn. Chính phong cách ấy đã để lại ảnh hưởng sâu sắc, góp phần hình thành một thế hệ cán bộ kỹ thuật có tư duy độc lập và ý thức nghề nghiệp rõ ràng. Ngay cả khi đảm nhiệm những trọng trách lớn hơn trong quản lý nhà nước, GS Đỗ Quốc Sam vẫn giữ mối quan hệ gắn bó với ngành xây dựng và với môi trường học thuật của mình. Ông luôn coi nền tảng khoa học và đào tạo là gốc rễ cho mọi chính sách phát triển, và từ đó giữ một sự liên hệ tự nhiên, bền chặt với những người làm nghề kỹ thuật, những đồng nghiệp và học trò cũ trong lĩnh vực này. 49

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMẨn sau vẻ điềm đạm của một nhà khoa học là một tâm hồn giàu cảm xúc và rất tinh tế. GS Đỗ Quốc Sam yêu thơ, đặc biệt là thơ cổ phong. Mỗi khi có một kỷ niệm với bạn bè, đồng nghiệp hay người thân, ông thường viết vài bài thơ ngắn như một cách lưu giữ ký ức và gửi gắm tình cảm. Những bài thơ ấy không cầu kỳ về kỹ thuật, không phô diễn kiến thức, nhưng mang vẻ nền nã, chân thành và sâu lắng. Đó là một cách rất riêng của ông để nói điều khó nói bằng lời thường, và cũng là nơi ông gửi gắm những điều đẹp đẽ nhất của đời sống tinh thần. Trong ký ức của những người từng làm việc và gắn bó với ông, GS Đỗ Quốc Sam không hiện lên như một biểu tượng xa cách, mà là một con người gần gũi, giản dị, đáng tin cậy và giàu tình nghĩa. Ông không tìm cách để được nhớ đến, nhưng lại được nhớ rất lâu. Có lẽ bởi vì điều còn lại sau cùng không phải là chức vụ hay danh hiệu, mà là một nhân cách. Và đến lượt mình, tôi tự hào có một người anh rể tuyệt vời như GS Đỗ Quốc Sam. Đại gia đình của tôi, trong 9 anh chị em, ngoài anh cả đã hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có 7 người là giáo viên và 4 dâu, rể là giáo viên. Từ năm 1951, anh Sam là sinh viên tại trường Khoa học cơ bản (tiền thân Đại học Tổng hợp) và cùng khoá với các anh Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Hoàng Phương…còn tôi sau này là sinh viên Tổng hợp rồi đi dạy toán, đó là cơ hội tốt để được gần gũi và học tập ở anh nhiều điều. Có một kỷ niệm khó quên với anh, đó là khi tôi được biết vào đầu năm ấy, đài BBC sẽ có phỏng vấn nhà báo. Tôi khá lo lắng và trao đổi cùng anh chị em trong nhà, trong khi có mấy ý kiến khuyên tôi không nên trả lời thì anh Sam nói nhỏ nhẹ “Lưu là nhà báo có uy tín thì họ mới phỏng vấn, tôi tin chú sẽ đủ vững vàng trong việc này”, rất may, chi tiết về cuộc phỏng vấn ấy được một sếp trong Ban tư tưởng văn hoá TW khen ngợi. Thú thật, ông anh rể của tôi có một phông văn hoá thật hoàn hảo, đàn em mấy ai theo kịp. Nhìn lại cuộc đời GS Đỗ Quốc Sam, người ta có thể thấy nhiều dấu ấn trong giáo dục, khoa học và quản lý, nhưng điều đọng lại sâu nhất chính là hình ảnh một trí thức sống thanh sạch, một con người khiêm nhường, và một nhân cách nhất quán giữa lời nói và việc làm. Trong một thời đại nhiều biến động, sự nhất quán ấy trở thành điều quý giá. GS Đỗ Quốc Sam, vì thế, không chỉ là một nhà khoa học hay một nhà quản lý, mà còn là một hình ảnh tiêu biểu về cốt cách của trí thức Việt Nam: trí tuệ nhưng không kiêu căng, trách nhiệm nhưng không phô trương, và suốt đời giữ cho mình một đời sống tinh thần trong sạch, nhẹ nhàng mà bền vững. 50

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯGIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TRONG CON MẮT CỦA BẠN BÈ VÀ KHÁCH QUỐC TẾ Văn thư của khách và đối tác nước ngoài gửi chia buồn cùng gia đình khi được tin GS Đỗ Quốc Sam từ trần 1. Giáo sư Đỗ Quốc Sam, người luôn làm việc bằng chữ tín 1 Thư của ông David Lim (Singapore), Đối tác, nhà quản lý khu công nghiệp Việt Nam - Singapore tại Việt Nam Gửi bà Đỗ Quốc Sam, Vợ chồng chúng tôi kính gửi những lời chia buồn sâu sắc nhất tới bà và gia đình vì sự ra đi của Giáo sư Đỗ Quốc Sam. Tôi rất buồn khi nghe tin Giáo sư Đỗ Quốc Sam từ trần. Chồng bà là một nhà ái quốc; một người liêm khiết và có tầm nhìn mạnh dạn, người đã đóng vai trò then chốt trong quá trình thay đổi và phát triển của Việt Nam. Tôi được biết ông khi được phân công công tác trong dự án xây dựng Khu Công nghiệp Việt Nam – Singapore năm 1992. Lúc đó tôi mới chỉ là một cán bộ nhà nước trẻ tuổi. Trong khi đó ông đã là một Bộ trưởng kỳ cựu và được tin cậy nhất, người phụ trách những dự án đầu tư nước ngoài trọng yếu. Chúng tôi cùng nhau tin một cách mạnh dạn để xây dựng một khu công nghiệp hiện đại, góp phần mở cửa nền kinh tế Việt Nam, tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam và tăng cường thương mại với phần còn lại của thế giới. Được làm việc với chồng bà là một niềm vinh hạnh cho tôi. Ông là người luôn giữ lời, cởi mở với ý kiến của người khác và quyết đoán trong những quyết định khó khăn và mạo hiểm. Dù trong giao tiếp tôi không thể hiểu hết nhiều thứ tiếng Giáo sư Sam biết, chúng tôi vẫn đặc biệt tương tri, vì ông luôn làm việc bằng chữ tín. Kinh nghiệm và sự thông thái của ông vượt tầm những vấn đề lời lỗ tiểu tiết, mà vươn ra bao quát cả sự chuyển biến Việt Nam thành một nền kinh tế hiện đại. Sự ủng hộ và cam kết của ông đối với Khu Công nghiệp Việt Nam – Singapore giúp chúng tôi vượt qua những khó khăn thuở ban đầu của dự án nhiều tham vọng này. Việt Nam ngày nay là một quốc gia phát triển nhanh và sôi động, hội nhập hoàn toàn vào khung cảnh kinh tế thế giới. Thanh niên Việt Nam có một tương lai tươi sáng và 1 Tên đề bài đo chúng tôi đặt 51

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMđang hết sức làm việc cho một cuộc sống tốt đẹp hơn. Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã đóng vai trò lớn, then chốt trong việc đặt nền móng cho sự hiện đại hóa này. Tôi hy vọng người Việt Nam ở khắp nơi sẽ ghi nhớ sự đóng góp và di sản của ông. Tôi nhớ rõ nhiều bữa tối của hai gia đình ở Singapore sau khi Giáo sư Sam nghỉ việc chính thức. Những dịp như vậy rất vui, và tôi rất vui vì tình bạn, tình bằng hữu của chúng ta. Tôi cũng biết ông ấy rất tự hào về Quốc Anh, và tôi chắc rằng ông hẳn rất hạnh phúc khi Quốc Anh làm đám cưới đầu năm nay. Tôi cũng thấy được tình yêu và sự tận tình của bà cho ông trong thời gian bà chăm sóc và đồng hành với ông suốt quá trình trị bệnh. Ông qua đời là một tổn thất lớn của Việt Nam; đối với bà còn là một tổn thất lớn hơn. Tôi hy vọng rằng những ký ức hạnh phúc về Giáo sư Sam của bà và thời gian ông dành cho gia đình và bạn bè sẽ an ủi bà trong thời khắc khó khăn này. Xin chân thành chia buồn. David Lim, Singapore 52

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ2. Thư của Ông Jean Louis BODIN, Đại diện của ADTEF tại Paris, phụ trách Văn phòng đại diện của ADTEF tại Hà Nội 53

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMBản dịch: 54

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯGIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TRONG KÝ ỨC CỦA BẠN BÈ VÀ ĐỒNG NGHIỆP ĐỖ QUỐC SAM KHÔNG RA ĐI 2 Trần Việt Phương (1928-2017) Nguyên Thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng Từ truyền thống gia đình, từ sự trải nghiệm xã hội, từ sự học tập nhân dân, từ sự tự rèn luyện. Đỗ Quốc Sam sớm trở thành một người trí thức tiêu biểu và một con người trong sáng, có nhân cách đẹp. Vượt qua những ràng buộc của cương vị công tác, những sức ép của hoàn cảnh hoạt động, Đỗ Quốc Sam luôn luôn giữ vững và ngày càng trau dồi tấm lòng yêu nước, yêu dân, phẩm chất chân thành, trung thực, đạo đức liêm khiết gương mẫu, bản lĩnh tự chủ, tự do, năng lực tìm tòi, sáng tạo, đức tính khiêm tốn, nhún nhường, phong cách nghiêm trang, cẩn trọng, làm việc chủ yếu bằng kiến thức tự có chứ không dựa dẫm, vay mượn, biết ân cần phát huy trí tuệ tập thể để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, biết chủ động trải mình trên nhiều chiều cạnh văn hoá, nhân văn của đời sống. Nét đặc biệt quý báu của người trí thức Đỗ Quốc Sam là làm thực tiễn một cách khoa học và làm khoa học một cách thực tiễn, tự trọng, đáng hoàng, an nhiên tự tại, tuân thủ chặt chẽ kỷ luật của tổ chức mà vẫn giữ được tư duy phóng khoáng để có nhiều lần nhạy cảm nắm bắt cái mới ngay từ lúc sơ khai. Nét đặc biệt quý báu của con người Đỗ Quốc Sam là tính tình rộng rãi vị tha một cách kín đáo và thiết thực trong mọi mối quan hệ với mọi lớp người, với cấp dưới, với đồng sự, với cấp trên, với bạn hữu xa gần, với người mới quen biết với người từ lâu thân thiết. Đã gần 60 năm nay, từ lần đầu gặp gỡ nhau, tôi đã coi Đỗ Quốc Sam là một người bạn và một người em, không gặp nhau nhiều nhưng từng nói với nhau những lời tâm tình không nói với nhiều người về cuộc đời, về con người, về thời cuộc. Đỗ Quốc Sam là một người em ôn tồn, bình tĩnh hơn tôi, mà tôi yêu mến, quý trọng và học hỏi. Đỗ Quốc Sam không ra đi mà đã về sự sống bất diệt, hương hồn và tinh anh Đỗ Quốc Sam vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc và đất nước, luôn luôn bên cạnh phù hộ vợ, con và những người thân. Ngày 30 tháng 6 năm 2010 2 Tên bài viết do chúng tôi đặt 55

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMMỘT VỊ THỦ TRƯỞNG RẤT CHU TOÀN Võ Hồng Phúc Nguyên Bộ trưởng Bộ KH&ĐT (Những mẩu chuyện trích trong tác phẩm “Chuyện của chúng tôi” của Bộ trưởng Võ Hồng Phúc, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2023) 1.Chuyện chuyến đi gặp ông Lý Quang Diệu (Trang 182) Cuối tháng 10 năm1993 ông Đỗ Quốc Sam, chủ nhiệm Uỷ ban Kế Hoạch nhà nước gọi tôi, khi đó là Phó chủ nhiệm, sang phòng và nói anh Sáu Dân muốn anh sang Singapore gặp ông Lý Quang Diệu để thông báo cho ông ấy về tình hình kinh tế Việt Nam chuẩn bị cho chuyến viếng thăm của ông ấy sang ta vào giữa tháng 11. Đây là việc hết sức tế nhị. Tôi nói xen: “Vâng em hiểu”. Tôi biết ý anh Sam muốn nói đến việc, trong lãnh đạo cao cấp của ta lúc đó còn nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về vai trò và quan hệ của ông Lý với Việt Nam. Anh Sam nói tiếp: - Cho nên phải chuẩn bị thật cẩn thận. Về tài liệu thì có thể dùng bản báo cáo của Chính phủ chuẩn bị trình bày ở Hội nghị Nhóm tư vấn và các nhà tài trợ ở Paris vào cuối năm nay (anh Sam là người hết sức cẩn thận và tế nhị, cho nên khi gợi ý việc làm cho người khác bao giờ cũng dùng từ giả định). Tài liệu này cuối cùng cuối tháng 11 cũng công khai rồi. Anh chọn người đi ghi chép thật đầy đủ, chi tiết. Khi về còn gửi lại báo cáo kèm theo bản ghi chép mấy nơi. - Ngày 21/10/1993 chúng tôi đi Singapore. Cùng đi có anh Hồ Quang Minh, Vụ phó Vụ Kinh tế Đối ngoại, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, anh Vũ Đăng Dũng, Vụ phó Vụ Đông Nam Á -Thái Bình Dương Bộ Ngoại giao. Ngày 22 /10 Lễ tân của bạn đến thông báo, chương trình làm việc. Chúng tôi chuyển cho bạn bảo bản báo cáo của Chính phủ sẽ trình bày tại Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ ở Paris để ông Lý xem trước. Lễ tân thông báo cuộc gặp với ông Lý sẽ bắt đầu vào lúc 15 giờ ngày 22/10/1993 tại điện Istana, nơi làm việc và tiếp khách của ông Lý và các nhà lãnh đạo Singapore. Đúng 15 giờ ông Lý vào phòng theo lối ở cửa bên, sau khi bắt tay tôi và mọi người ông đi nhanh về chỗ ngồi vừa kéo ghế vừa hỏi tôi: 56

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ- Ông ở Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước? - Vâng, tôi là Phó chủ nhiệm. - Ai là chủ nhiệm? - Ông Đỗ Quốc Sam - Ông Sam học gì, ở đâu? - Ông Sam học kỹ thuật xây dựng tại Trung Quốc, làm luận án tiến sĩ tại Nga - Ông Võ Văn Kiệt cũng từng là chủ nhiệm? - Vâng ông Võ Văn Kiệt là chủ nhiệm từ 1982 đến 1988. - Ủy ban Kế hoạch Nhà nước làm gì? Tôi trả lời đầy đủ câu hỏi của ông Lý. Ông Lý có vẻ chăm chú nghe, rồi hỏi tiếp: - Ông Thủ tướng có nghe ý kiến của ông Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước không? Tôi trả lời: - Ông Võ Văn Kiệt rất tôn trọng và lắng nghe ý kiến của ông Đỗ Quốc Sam. Ông cầm tập báo cáo của Chính phủ lên và nói: - Tôi đã đọc tài liệu này, Tài liệu chuẩn bị rất tốt! Ai đã giúp các ông chuẩn bị tài liệu này? Tôi biết chắc chắn các quan chức của Singapore đã có báo cáo với ông và trả lời: - Các chuyên gia Ngân hàng Thế giới ….. 2. Chuyện về cho cơ quan nước ngoài thuê nhà (Trang 204) Hồi cuối năm 1993, Nhật Bản thông báo một số dự án lớn được chuẩn bị tài trợ: các dự án Nhiệt điện Phả Lại, Phú Mỹ, các dự án giao thông quy mô lớn, các dự án về y tế, giáo dục ...Khối lượng công việc của các cơ quan quản lý viện trợ Nhật Bản tại Việt Nam càng ngày càng nhiều, JICA là cơ quan quản lý viện trợ không hoàn lại và OECF là cơ quan quản lý vốn vay, đòi hỏi JICA, OECF phải có văn phòng đại diện thường trực tại Hà Nội, không thể để mọi việc đều phải đưa về Tokyo xử lý. Hồi đó, nhà làm việc cho các tổ chức nước ngoài thuê ở Hà Nội rất thiếu. Tìm kiếm khắp Hà Nội mà không có nhà phù hợp để thuê. Không có cơ quan thường trực tại Hà 57

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMNội thì mọi việc phải chuyển về Tokyo để xử lý, làm chậm tiến độ giải ngân. OECF trước mắt chỉ cần 2 phòng khoảng 20 m2. Tôi bàn với anh em Vụ Kinh tế Đối ngoại, Vụ Kinh tế Đối ngoại có thể thu xếp ngồi chật lại, dành 2 phòng 18 m2 cho OECF làm Văn phòng đại diện. Tôi nói với các bạn Nhật Bản là chỉ cho mượn, không cho thuê. Tuyệt đối không trả tiền vì nhận tiền, chúng tôi sẽ mang tiếng là cho thuê trụ sở làm việc. Cho mượn đến khi nào thuê được nhà thì thôi. Các bạn Nhật Bản đồng ý. Cho một tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện trong trụ sở của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước là một việc rất táo bạo. Một việc chưa từng có. Từ xưa Ủy ban Kế hoạch Nhà nước vẫn được gọi là cơ quan tham mưu của Đảng và Nhà nước. Cho nước ngoài có trụ sở trong cơ quan tham mưu! Tôi báo cáo với anh Đỗ Quốc Sam, Chủ nhiệm. Anh Sam nói: - Việc rất rất chính đáng, giúp bạn thực ra là giúp mình. Họ có văn phòng đại diện ở Hà Nội thì mới giúp mình giải ngân nhanh tiền viện trợ. Tôi rất đồng tình nếu anh thu xếp được phòng cho bạn. Nhưng việc này rất hệ trọng. Anh còn đường đi lâu dài. Phải làm chặt chẽ. Phải báo cáo với anh Sáu Khải biết. Bên Đảng anh cũng báo cáo với ông Mười. Cứ bảo là tôi đồng ý, Uỷ ban sẽ đảm bảo công tác bảo mật. Theo chỉ đạo của anh Sam tôi đã đi báo cáo. Được cả 2 ông đồng ý. Ấy thế là sau này vẫn có người eo xèo. Việc đến tai cấp cao đã được ông Đỗ Mười, anh Sáu Khải gạt đi. Anh Sáu còn nói nói: -Nó nhường nhà mà ra tiền cho đất nước. Có người “ngứa mồm” vẫn nói chọc Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước là Ủy ban Nhật Bản. Sau ngày sau nhập thành Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì họ nói Bộ “Nhật Bản”. Anh Đỗ Quốc Sam nói với tôi: - Kệ họ miệng lưỡi thế gian mà! Việc ta, ta làm. Có ích cho nước là được. Đầu tháng 11/1994, OECF chính thức mở văn phòng đại diện tại Việt Nam ngay tại trụ sở của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Nhờ có Văn phòng đại diện tại Hà Nội, mọi việc được giải quyết mau chóng, tiến độ dự án, giải ngân vốn được nhanh hơn. 58

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ3. Chuyện về khai thông lại long mạch Trụ sở Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Trang 123) Vào khoảng đầu năm 1995, Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có một việc nhạy cảm, xử lý việc đó liên quan đến tâm linh. Hồi năm 1984 ủy Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước làm thêm nhà mới nối tiếp với ngôi nhà chính, phải lấp đi một cái giếng lớn được đào từ hồi chiến tranh phá hoại để dự phòng cấp nước khi nhà máy nước bị đánh bom. Sau khi làm xong nhà được vài năm, thì có nhiều người chết, đa phần là đột tử. Người chết lại là những người làm việc ở các phòng tại khu vực nhà mới xung quanh khu vực có nhà vệ sinh. Có người chết tại phòng làm việc sau bữa ăn trưa. Nhiều người lo lắng, đi xem thầy tâm linh. Thầy nói, các anh làm nhà lấp giếng, làm uế tạp long mạch rồi, làm lễ khai thông lại long mạch. Việc lấp giếng ít người còn nhớ. Anh Ngũ, Chánh Văn phòng hỏi tôi, tôi xác nhận sự việc là vị trí giếng ở dưới khu vực vệ sinh. Anh em lại càng lo lắng, anh Ngũ xin cho làm lễ khai thông lại long mạch. Tôi báo cáo anh Sam. Anh Sam chậm rãi châm một điếu thuốc, hít một hơi, mắt nhìn ra xa. Đây là biểu hiện của anh ấy trước khi nói về việc gì cần phải đắn đo suy nghĩ Anh từ từ nói: - Việc này rất nhạy cảm không làm không được, anh em không yên tâm. Nhưng lúc này anh cần tránh xa. Nói riêng với anh, kỳ này chúng tôi dự kiến giới thiệu anh vào Ban Chấp hành Trung ương, ông Mười, ông Sáu Dân, ông Sáu Nam (ông Lê Đức Anh) rất ủng hộ anh phải giữ gìn, việc này để tôi tính. ….Mấy hôm sau, anh em Văn phòng làm lễ khai thông lại long mạch vào giờ Tý, anh Ngũ làm chủ lễ, anh Sam không cho tôi đến. Một vị thủ trưởng rất chu toàn. 59

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMXUÂN CHUNG TS. Phạm Sỹ Liêm (1931-1918) Nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Bạn học tại Đường Sơn, Trung Quốc cùng GS Đỗ Quốc Sam Ta chung nhau nhiều mùa Xuân xưa Mùa xuân đầu tiên thôn Tâm Hư Cỏ non viền xanh đường Học xá 3 Mắt đàn em gái tròn ngây thơ Đã định về Nam lại lên Bắc Hoàng thành Quế Lâm4 liễu khoe sắc Nửa đêm mờ mịt Độc Tú Phong Mưa tuyết đầu đời ai cũng thức Rồi cùng chung lớp ở Đường Sơn5 Địa đầu Hà Bắc một vùng than Quê nhà miền Bắc đã giải phóng Sau trường nở rực vườn mẫu đơn "Đại cán" hoàn hương về Bách khoa6 Gặp đào Nhật Tân, hoa Ngọc Hà Mắt ai như rượu, say mà sợ Cố đóng vai thầy dáng cứng đơ 3 Khu học xá Nam Ninh Quảng Tây (1951) 4 Trường Hoa ngữ tại khu Hoàng Thành, Quế Lâm, Quảng Tây (1953). Giữa trường có ngọn núi đá cao chót vót, gọi là Độc Tú Phong 5 Khoa Cầu hầm, Đại học đường sắt Đường Sơn Hà Bắc (1954-1958) 6 Cùng dạy tại Khoa Xây dựng, Đại học Bách khoa từ năm 1958 60

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯVừa mới quen hơi lại lên Bắc Lần này chao ôi! Xa dằng dặc Ba mùa băng tuyết Mạc Tư Khoa7 Chung "ốp", chung trường, thầy thì khác Phó bảng vinh quy về bộ môn Rồi cùng sơ tán về nông thôn Ngô Xuân dập biếc đôi bờ Đuống Quế Ổ qua đò sang Tiểu Than Mấy năm quanh quẩn đồi Hương Canh Tôi rời trường trước, rồi đến anh Vào chốn quan trường lần lữa mãi Để tóc trắng tàn tro tuổi xanh Bây giờ ngồi nhà làm thoái sĩ Có đủ thời gian mà ngẫm nghĩ Tôi vẫn là tôi, anh vẫn anh Của những xuân xưa không đổi chí Cuộc đời ưu ái chúng ta nhiều Ta trả cho đời mới bấy nhiêu Còn làm được gì thì cố gắng Đợi ngày tìm về Bác kính yêu Tết Bính Tuất 2006 7 Cùng làm nghiên cứu sinh tại trường Đại học xây dựng Quy Bư Sép (1961-1964) 61

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMCHUYỆN THỜI SINH VIÊN Ở ĐƯỜNG SƠN TRUNG QUỐC Trò chuyện với Giáo sư Đặng Hữu về Giáo sư Đỗ Quốc Sam (Ghi chép của bà Nguyễn Phương Nhã và Cô Vũ Thị Hòa đến thăm và hỏi chuyện Giáo sư Đặng Hữu, nguyên Bộ trưởng Bộ khoa học, công nghệ) Bà Nhã hỏi: Hồi học ở Đường Sơn anh Hữu và anh Sam có những kỷ niệm gì? GS Đặng Hữu: Có nhiều kỷ niệm lắm: Anh Sam và tôi đều là học sinh xuất sắc của trường, nhưng năm thứ nhất anh Sam bị trượt huy chương Vàng là vì không đạt được điểm thể thao; Năm thứ 2 anh Sam đạt huy chương Bạc, năm thứ 3 đạt huy chương Vàng. Ông giáo cơ học lý thuyết rất nghiêm khắc và chỉ có anh Sam và tôi cùng một vài học sinh Trung Quốc được điểm 5/ 5, Việt Nam không có ai ngoài anh Sam và tôi. Bà Nhã hỏi:Anh sam làm trưởng đoàn học sinh có đúng không? GS Đặng Hữu: Đúng vậy! Bà Nhã hỏi: Anh hữu còn kỷ niệm gì nữa không? GS Đặng Hữu: Kỷ niệm với ông Sam rất nhiều: Ở nhà tập thể Đại học Bách khoa, tôi và anh Sam một phòng, 2 người khác (L+T) một phòng; anh em ở cùng, cả bốn anh em chưa có gia đình rất yêu quý và thân thiết nhau; Anh Sam bắt anh Hữu đọc rất nhiều tiểu thuyết tiếng pháp cho cả nhóm nghe; cùng soạn bài, viết bài, đi chơi phố với nhau. Bà Nhã hỏi: Các ông có kể chuyện người yêu cho nhau nghe không? GS Đặng Hữu: Có chứ! Bà Nhã hỏi: Tôi thấy có ảnh 2 ông đang ở trên máy bay, các ông đi đâu vây? GS Đặng Hữu: Đi khảo sát dự án đường dây 500 KV. 62

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯKhi trình dự án ra Quốc hội, tranh luận phức tạp. Ông Kiệt thì rất quyết tâm, tôi phát biểu trước Quốc hội nêu ra 3 điều kiện có thể làm được: một là thủ tướng phải quyết tâm, hai là tư vấn phải là tư vấn quốc tế và thứ ba là các nhà khoa học phải tham gia. Tôi phối hợp với anh Sam, anh Sam được giao làm Chủ tịch Hội đồng Thẩm định nhà nước, tôi làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu nhà nước. Làm xong 2 anh em cùng ông Kiệt đi khảo sát đường dây 500 KV. Tóm lại là 2 anh em cùng nhau hoạt động trong Chính phủ thành công nhiều dự án hàng chục tỷ USD, được đánh giá là tốt. Bà Nhã hỏi: Về tình cảm hai ông đối với nhau thế nào? GS Đặng Hữu: Hai anh em cùng ở một phòng ở Trường Đại học Bách khoa, cùng đọc truyện tiếng pháp (Đỏ và Đen). Bà Nhã hỏi: Hội Đồng môn Đường Sơn còn ai nữa không? GS Đặng Hữu: Ông Tuyên, ông Quỳ ở bộ môn Cơ học Đất là những người đã đến dự đám cưới tôi (năm 1964), anh Sam thì ở Liên Xô chưa về. Bà Nhã kể: Ông Lê Tâm quý các anh lắm, trong Hồi ký ông ấy nhắc lại nhiều đến 3 trợ lý Sam, Hữu, Hường. Sau này cùng công tác với nhau có nhiều kỷ niệm phối hợp trong công tác thành công, nhiều dự án ông Kiệt chỉ đạo. Bà Nhã hỏi:Dự án nào lớn và nhớ nhất? GS Đặng Hữu: Đó là nhà máy thủy điện Phú Mỹ chuyển đổi công nghệ, phải thảo luận hai năm mới giải quyết được; Chính phủ phải nghe ý kiến của chúng tôi tranh luận với cánh Điện lực. Ông Kiệt cử ông Sam và tôi sang đàm phán với Nhật, Quốc hội đã đồng ý với phương án của Nhật. Sang Nhật chúng tôi phải ở nhà trọ sinh viên, nhưng cuối cùng thì đàm phán đã thắng lợi. Bà Nhã hỏi: Còn dự án đáng kể nữa không? GS Đặng Hữu:nhiều dự án đã thành công, trong đó có dự án giao thông hầm Hải Vân; Cầu dây văng Bãi Cháy với sự tham gia của ông Sam là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tôi là Chủ tịch hội đồng nghiệm thu nhà nước. Cuộc nói chuyện tạm dừng vì sức khỏe của GS Đặng Hữu không được tốt. 63

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMVĨNH BIỆT ANH ĐỖ QUỐC SAM Dương Xuân Tấn Câu lạc bộ Thơ Đường Một tấm gương soi của chữ Thanh Một đời nghĩa khí, vị dân sinh Một tầm trí tuệ người ao ước Một thế liêm quan, vẹn chữ tình Thanh, Liêm, Trí , Nghĩa đang còn đấy Anh đã đi đâu chẳng thấy về Vẫn biết trời cho người mỗi mệnh Chỉ buồn về cả cuộc chia ly Bài đã đăng trong trang tin CLB Thơ Đường - Hàn Thuyên, UNESCO VN 64

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯKỶ NIỆM LẦN ĐẦU GẶP ANH SAM VÀ NHỮNG NGÀY VỀ THĂM QUÊ ANH Hoàng Như Tầng, Bộ môn Thí nghiệm và Kiểm định công trình Trường Đại học Xây dựng Hà Nội Vào đầu năm 1968 đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình sang thăm Liên Xô và có qua thăm trường Đại học Xây dựng Kiev (KUCU), mà thời gian đó tôi đang là sinh viên năm cuối tại khoa Xây dựng của trường này. Đoàn được ông Hiệu trường mời lên phòng hội trường để gặp mặt. Tôi có dịp được theo sau đoàn và gặp một chú cán bộ trong đó, tóc đã điểm bạc, rủ cùng đi. Khi tới sảnh trước phòng Hiệu trưởng khá rộng, chú này nhìn thấy có một loạt ảnh treo trên tường, liền dừng lại cầm tay tôi và chỉ lên 1 ảnh rồi hỏi: “Hình như ảnh này sao chú thấy có vẻ giống cháu vậy?” Tôi gật đầu: “Vâng”, và giải thích là sinh viên nào mà trong năm học có kết quả điểm các môn chính đều đạt điểm 5 (điểm Отличный) thì có ảnh đặt thành hàng theo thứ tự các khoa của trường. Sau đó chú dặn tôi là nhớ đợi ở sân khi đoàn xuống để gặp lại chú đôi phút. Vậy là khoảng gần giờ sau thì thấy Ban giám hiệu tiễn đoàn bước xuống thềm ra xe chờ sẵn ở sân. Lúc nhìn thấy tôi, chú cán bộ lúc nãy vội tách ra bước đến bên với 1 tờ giấy mở sẵn bảo tôi đọc nội dung và yêu cầu ghi tên mình vào rồi ký ở dưới, bên cạnh là chữ ký cùng con dấu đóng sẵn. Đó chính là giấy giới thiệu tôi về công tác tại Trường Đại học Xây dựng, địa chỉ ở khu sơ tán của trường là làng Quế Ổ, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Vậy là ngay sau khi tốt nghiệp đại học và về nước ít ngày, vào giữa tháng 8 năm 1968 tôi cầm tờ giấy giới thiệu kể trên, đạp xe tìm về nơi sơ tán của Trường Đại học Xây dựng theo địa chỉ ghi trong giấy giới thiệu. Rất may là khi hỏi thăm đến nơi, tôi được thầy Hiệu trưởng Nguyễn Sanh Dạn tiếp. Bấy giờ tôi mới biết đây là nơi Ban Giám hiệu làm việc, chứ khoa Xây dựng thì ở bên kia sông Đuống, tại thôn Tiểu Than thuộc huyện Thuận Thành. Sau khi trao đổi về tình hình học tập rồi xem qua tấm bằng đó của tôi (tốt nghiệp loại ưu) cùng giấy giới thiệu về trường, thầy Dạn cho biết là tôi sẽ về công tác ở bộ môn Công trình, thuộc khoa Xây dựng. “Anh đợi chút nữa sẽ gặp Chủ nhiệm khoa Xây dựng là thầy Đỗ Quốc Sam cũng đang có mặt tại đây”. Quả thực sau ít phút thấy thầy Sam bước vào và thầy Dạn giới thiệu ngay: “Anh Hoàng Như Tầng mới tốt nghiệp Đại học Xây 65

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMdựng ở Liên Xô được phân công về trường mình, là thành viên mới của bộ môn Công trình khoa Xây dựng đây. Xin mời hai anh làm quen và anh Sam hướng dẫn đường về khoa cho anh Tầng nhé!” Lần đầu gặp mặt, anh Sam bắt tay rồi mời ngồi bên và hỏi: - Anh Tầng quê ở đâu và học ở trường nào nhỉ? - Dạ, em quê ở Yên Phong tỉnh Bắc Ninh. Em học khoa Xây dựng trường Đại học Xây dưng KUCU thuộc Ucraina. - Mình có biết trường này qua một số tên tác giả chủ biên một số cuốn sách về chuyên ngành kết cấu công trình xây dựng, là giáo sư của trường KUCU. Thế cùng về trường Xây dựng kỳ này anh biết có còn ai nữa không nhỉ? - Ở Đại sứ quán bên đó, em có nghe nói hình như có bạn về khoa Thuỷ lợi, khoa Kinh tế Xây dựng, ... nhưng ở trường nào về thì em không rõ. Sau khi giới thiệu về địa điểm sơ tán của khoa Xây dựng ở bên Tiểu Than, anh Sam hinh như muốn hỏi thêm điều gì nhưng liếc nhìn đồng và nói là rất tiếc tôi còn đang dở một vài việc cần làm ở đây nên sợ về muộn. Thế là anh lấy tờ giấy vẽ đường đi và tên địa chỉ qua từng đọan đường đê bên kia sông Đuống để tôi dễ hỏi thăm, “Nhưng mà chú đến nơi, chắc sẽ không kịp báo cơm trưa ở nhà ăn đâu. Thế nên trên đường đi ở ven đê gần khu chợ Tẩy có thể gặp đôi quán nhỏ bán ngô hay khoai lang luộc thì nên dừng mua ăn tạm bữa trưa nhé!” Vậy là tôi vội chào anh và qua chào xin phép thầy Dạn để về khoa sớm. Quả thực trên đường về khoa Xây dựng, tôi không khó khăn tìm đến ngôi nhà của khoa mà anh Sam dặn. Người tôi gặp chính là anh Ngô Thế Phong, mời tôi vào một ngôi nhà cấp 4 vừa là phòng thí nghiệm của khoa, trong đó có đặt chiếc máy thí nghiệm kéo - nén của Liên Xô và mô hình kết cấu dạng vòm BTCT mới chế tạo. Anh Phong bố trí cho tôi tạm ngả lưng trên chiếc giường ở gian bên cạnh để chiều về sẽ có một vị ở khoa tìm cho cậu gian nhà trọ trong xóm hoặc ở đây với mình cũng được. Vào khoảng hơn 3 giờ chiều, tôi đã thấy anh Sam về và bước vào phòng. Hai anh em cùng ngồi bên mép giường. Anh Sam liền nói: - Lúc bên Quế Ổ định hỏi chú mình điều này nhưng không kịp bởi có việc hẹn trước. Nghe chú nói là quê ở Yên Phong, thế thì ở thôn, xã nào nhỉ? - Dạ, em ở thôn Phương La Đông - ở quê thường gọi là làng Xà Đông, bên đê sông Cầu thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong, gần bến đò Như Nguyệt anh ạ! 66

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯMình cũng quê ở làng Xà, Tam Giang đây. Thế là chúng mình cùng quê rồi! Trước kia ông cụ nhà mình là thày giáo Đỗ Ngọc Toại, hàng chục năm dạy học ở trường Hương La, chính là trường ở làng Xà Đông bây giờ. Đây cũng là nơi mình sinh ra và sống ở đó hồi còn nhỏ. Bên cạnh nhà có ngôi miếu cổ gọi là Miếu Đá Khánh không biết giờ có còn không. Về sau ông nhà mình chuyển đến nơi khác dạy học và rồi tham gia kháng chiến, công tác Mặt trận ở tỉnh Bắc Ninh đấy. Giờ thì tuổi cao nên ông đi lại khó khăn nhưng vẫn rất nhớ và thường xuyên nhắc đến làng Xà, nơi có nhiều người quen và cả học trò cũ của ông nữa. Hai ông bà nhà mình vẫn nhớ về ngôi trường và ngay phía sau là gian nhà ở của gia đình mình. Vậy chú mình có quen biết cụ nào có tên thường gọi là cụ Chuối không nhỉ? - Dạ! Đó là ông nội em đấy ạ! - Ôi! May quá rồi! Ông cụ nhà mình nhiều lần cứ dặn là khi nào trên đường đi mà tiện thì tạt qua làng Xà Đông xem nay có gì mới và gặp cụ Chuối cho bố gửi lời hỏi thăm. Cụ Chuối là chỗ hàng xóm gần gũi nhất, ngay bên cạnh ngôi nhà gia đình mình ở, chỉ cách một mảnh vườn trồng dâu. Thế Tầng có ai trong gia đình ở Hà Nội không? - Em có bà cô ở phố Nguyễn Hữu Huân, vừa chiều hôm đi tàu về đến Hà Nội em ở lại đó đến sáng hôm sau mới về quê. Từ nhà ra Hà Nội chỉ khoảng hơn 30 km, còn từ nhà đến đây như hôm nay em ước tính quãng đường phải xa khoảng gần gấp rưỡi. - Vậy thì hôm nào tiện Tầng về Hà Nội đến nhà gặp ông cụ nhà mình nhé! Để mình ghi địa chỉ số nhà 13 Te phố Bà Triệu. Trong tờ giấy anh Sam còn có dòng giới thiệu: “Anh Tầng mới về công tác ở chỗ con - khoa Xây dựng, là cháu nội của cụ Chuối mà bố thường nhắc đến”. Vậy là 2 tuần sau tôi ra Hà Nội tìm đến nhà gặp cụ Đỗ Ngọc Toại. Lúc đến trước cửa gặp bác hàng xóm hỏi đây có phải nhà cụ giáo Toại không thì ngay lúc đó thấy có tiếng một bà hỏi từ sau cánh cửa: - Ai hỏi đấy nhỉ? Anh hỏi có việc gì đấy? - Dạ! Cháu xin phép gặp ông giáo Toại ạ! Thế là tôi vào phòng khách, chào hai ông bà và tự giới thiệu: - Cháu là cháu nội của cụ Chuối đây ạ. Cháu nay vừa về công tác ở khoa anh Sam phụ trách nên mới biết địa chỉ đến và chuyển lời hỏi thăm của ông bà nội cháu đến ông bà giáo!. Nghe vậy, ông giáo đứng dậy và bước sang bắt tay ôm choàng, vừa vỗ vai tôi vừa nói: - Hoá ra cháu nội cụ Chuối đã lớn từng này và thành nhà giáo rồi à! Lúc nào về cho ông gửi lời hỏi thăm sức khoẻ cụ Chuối nhé! 67

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMÔng giáo tâm sự về những năm sống và dạy học ở trường Hương La, phía bên sân trường có đặt phiến đá hình chiếc khánh mà lúc nhỏ, cậu Sam nhà mình vẫn hay ra ngồi chơi trên đó. Ngôi Miếu có tên là miếu Đá Khánh là vậy. Những năm còn công tác Mặt trận ở Bắc Ninh chỉ có 2 lần ông về Yên Phong và tranh thủ vào thăm cụ Chuối. Thấy cụ vẫn mạnh khoẻ, đi lại nhanh nhẹn. Có điều là nay cụ để râu bạc dài với mái đầu búi tó, tóc bạc phơ. Ông giáo hồi tưởng lại những năm dạy học ở trường làng - học trò đông nhất là ở Tam Giang – đó là làng Xà Đông, Xà Đoài, làng Ngọt, làng Vọng Nguyệt, rồi cả ở một số làng thuộc khu vực ven sông Cầu ở phía dưới như Đông Xuyên, làng Choá. Còn ra về phía huyện Yên Phong là chợ Chờ bây giờ còn có một số các anh học trò ở làng Bốt, làng Chờ, làng Yên Vỹ, khu chợ Núi, bên bến Đò Lo nữa. Tiếp đó cụ kể về những kỷ niệm về cụ Chuối, phần vì cụ biết chữ nho, hay ngồi cùng uống trà lúc rảnh rỗi cùng mấy cụ trong làng, đàm đạo về phong tục, tập quán của địa phương cũng những lễ nghi, thờ cúng ở đình chùa và đền Xà – Nơi cụ Lý Thường Kiệt đọc bài thơ thần "Nam Quốc Sơn Hà", sau đại thắng quân Tống tại phòng tuyến sông Như Nguyệt thuộc địa phận làng Xà xã xã Tam Giang. Lúc thấy tôi có vẻ chuẩn bị ra về thì chợt ông giáo đứng dậy ra mở tủ ở phía bên và tìm tờ báo để gói mấy thứ mà ông lôi ra từ trong ngăn tủ. Hoá ra là đủ thứ, nào là mấy gói trà Hồng Đào, gói đường trắng, đôi gói mì chính, .... Tất cả được bọc cẩn thận và cho vào túi nhỏ rồi ông dặn lúc chia tay: “Cháu về nói với cụ Chuối: “Đây là chút quà mọn của ông giáo Toại gửi biếu cụ nhé!”. Chiều hôm ấy tôi về nhà ngay và nhắc lại lời hỏi thăm của ông giáo cùng gói quà. Hồi đó, các thứ quà mà ông giáo gửi biếu đều theo chế độ phân phối cho cán bộ công chức, chứ ở quê thì thật rất quý hiếm. Sáng hôm sau, ông nội sai tôi đến từng nhà mời mấy ông trong làng, nguyên là chỗ quen biết hoặc là học trò cũ của ông giáo Toại, đến nhà uống trà. Tôi không nhớ rõ là dạo ấy chỉ có dưới chục ông có mặt thôi, tuổi cũng đã cao, tóc điểm bạc như: Ông Truyền, ông Trưng Túc, Ông Sách, ông Thơ Trung, ông Tiền, ông Lộc, ... và mấy ông nữa mà nay tất cả các ông đều đã quy tiên cả rồi mà tôi cũng không thể nhớ được hết. Vậy là cả buổi sáng hôm đó các ông có dịp gặp mặt và biết tin thày giáo Toại của mình vẫn nhớ đến ngôi trường với bạn bè và các lứa học trò cũ. Ngôi trường và ngôi nhà mà gia đình cụ giáo Toại ở năm xưa đã bị phá đi sau cải cách ruộng đất, nhưng ngôi miếu cổ thì vẫn còn. Đó cũng là nơi các ông học trò cũ của ông giáo Toại tập trung đón tiếp anh Sam mỗi lần về thăm quê làng Xà và thắp hương ở miếu Đá Khánh. 68

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯKhi anh Sam hỏi về chiếc khánh đá sao không thấy còn nữa thì bà con trong làng cho biết là chiếc khánh xưa đã bị gãy làm đôi. Hợp tác xã sử dụng các nửa đặt nghiêng dùng làm bàn đập lúa, về sau có người đem chúng đặt làm bậc thềm ở bờ ao Liệt sỹ trước miếu và thế rồi không biết bị trôi trượt và chìm xuống lòng ao lúc nào mà không ai biết rõ. Có lần anh Sam biết tôi có dịp vào Huế công tác, anh gặp và dặn là trong thành Huế có một số chiếc khánh bằng đồng, bằng đá khá to, cậu chụp ảnh hay vẽ lại kích thước để khi có điều kiện, mình sẽ cho làm lại chiếc khánh đá để mang về quê và đặt trước miếu như năm xưa. Ấy vậy mà anh sớm ra đi không kịp thực hiện ý nguyện này. Mãi đến cuối năm 2021, bà con xóm Đá Khánh và các cụ trong làng tiến hành việc tu tạo lại ngôi miếu cổ và nhân đó tôi bàn cùng chị Nhã cho gia công chiếc khánh đá và lắp dựng ở dạng treo trên giá có mái che ngay bên trái của miếu gần lối từ đường cái đi vào. Các cụ trong làng ai cũng khen thấy chiếc khánh khá giống chiếc khánh cổ hồi xưa cả về hình dáng và đường nét. Ban tổ chức lễ khánh thành miếu Đá Khánh vào ngày 02/5/2022 có mời chị Nhã và tôi về dự. Bà con và các cụ làng Xà Đông cùng đội quan họ của làng đến dự buổi lễ khánh thành miếu rất long trọng và đón tiếp chị Nhã rất thân tình, mời chị cùng liên hoan, chụp ảnh kỷ niệm, một dịp hồi tưởng lại với bao lần đã từng gặp gỡ anh Sam về thăm và cùng thắp hương trong ngôi miếu Đá Khánh cổ, nơi anh gửi gắm biết bao tình cảm gắn bó quê hương... Bia đá 李家墓石(Lý gia mộ thạch)- Bia mộ dòng họ Lý, do GS Đỗ Quốc Sam sưu tầm và cung tiến tại quê nhà Bà Nhã về quê dự Lễ Khánh thành lắp đặt Khánh đá mới tại miếu Đá Khánh ngày 02/5/2022 theo ý nguyện của anh Đỗ Quôc Sam 69

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMLại kể về thời gian tôi mới về công tác tại Trường Đại học Xây dựng. Sau đôi tuần làm quen với nếp sinh hoạt và làm việc của các thầy cô trong khoa Xây dựng tại Tiểu Than, tôi được tham dự buồi họp đầu tiên với bộ môn, do anh Phạm Sỹ Liêm tổ trưởng chủ trì, trong đó có mặt cả anh Đỗ Quốc Sam vừa là thành viên của bộ môn vừa là trưởng khoa Xây dựng. Cả hai anh đều khuyên tôi: “Để bước đầu hoà nhập với công tác giảng dạy của bộ môn, anh Tầng trước mắt nên xắp xếp thời gian đi dự giờ lên lớp của các thầy, trong đó kể cả các môn học kết cấu BTCT, kết cấu thép và kết cấu gỗ”. Thế là tôi cứ lần lượt đến dự các giờ lên lớp của các thầy Ngô Thế Phong, Đoàn Định Kiến, Nguyễn Xuân Liên, Nguyễn Văn Yên, Đinh Văn Giáp, cô Minh Thu,… kể cả một số buổi chấm bản vẽ kèm theo bài tập đồ án tính toán kết cấu. Tôi còn nhớ hôm tổ chức thí nghiệm mô hình kết cấu vỏ mỏng BTCT dạng vòm theo đề tài nghiên cứu của bộ môn do anh Ngô Thế Phong chủ trì, tôi vừa là thành viên mới trẻ nhất ở bộ môn, vừa chưa có việc gì bận bịu nên mọi việc chuẩn bị và tiến hành thí nghiệm tôi đều được anh Phong huy động tham gia từ đầu đến cuối. Quá trình thực hiện thí nghiệm kéo dài hàng tuần mới xong. Tuy bận nhiều công việc quản lý của khoa và vẫn có giờ lên lớp, nhưng trong thời gian kể trên, hầu như ngày nào anh Sam cũng tranh thủ tạt qua Phòng thí nghiệm không sớm thì muộn, quan sát và góp ý để việc TN được thực hiện và đạt kết quả theo yêu cầu, mục tiêu của đề tài nghiên cứu. Tôi còn nhớ, sau buổi kết thúc thí nghiệm vài hôm, có lần anh Phong báo tôi đến văn phòng khoa gặp anh Sam. Lúc tôi đến nơi, anh Sam mời ngồi và nói ngay: - Tầng này! Hình như bữa trước, sau buổi qua thăm ông cụ nhà mình, Tầng có nói là từ quê ra Hà Nội, việc đi lại khá thuận tiện và gần hơn đến đây có phải không? - Dạ vâng! Từ quê em đến đây có khi xa gần gấp rưỡi thời gian ra Hà Nội. - Vậy vừa rồi tôi và anh Liêm phụ trách bộ môn có bàn về công việc mới cần đến sự tham gia của Tầng đây. Trong khoảng thời gian ngắn vừa rồi, tuy tiếp xúc với Tầng chưa được nhiều, nhưng giờ có việc này muốn hỏi ý của Tầng liệu có tham gia được không. Đó là việc nếu khoa yêu cầu Tầng về làm việc tại Phòng thí nghiệm công trình trực thuộc bộ môn hiện ở Hà Nội, tại nhà C3 trong Đại học Bách khoa, liệu có gì khó khăn, cản trở không? Yêu cầu này đặt ra với lý do là: anh Võ Văn Thảo là người phụ trách Phòng thí nghiệm vừa đi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô, nay chỉ còn mình anh Đặng Đình Nguyệt đang ở lại thường trực. Nhưng hiện tại, anh Nguyệt có nguyện vọng xin chuyển về công tác ở quê nhà là Ninh Bình. Chắc sớm muộn thì khoa cùng bộ môn cũng nhất trí để tổ chức nhà trường ra quyết định theo yêu cầu của anh Nguyệt thôi. Như vậy là bây giờ rất cần có người quản lý PTN tại Hà nội. Ở đây cũng cần nói rõ một chút là tại sao không cử 70

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯcán bộ giảng dạy cũ nào của bộ môn làm nhiệm vụ này mà lại muốn giao cho Tầng? Lý do không phải là Tầng có quê ở Bắc Ninh gần Hà Nội, mà Tầng vừa tốt nghiệp ở Liên Xô về, cũng đã từng làm quen với máy móc, thiết bị của PTN phục vụ học tập của sinh viên ngành xây dựng. Đó là chưa kể các thiết bị, máy móc và dụng cụ đo đều do Liên Xô mới trang bị mà Tầng bảo chẳng khác gì mấy so với Phòng thí nghiệm ở KUCU. Mặt khác, cũng qua quá trình thực hiện thí nghiệm mô hình kết cấu vòm BTCT vừa rồi của bộ môn, thấy Tầng tham gia cùng những thao tác trong thí nghiệm có vẻ khá thành thạo. Sắp tới, cả chiếc máy kéo – nén 5 tấn ở đây cùng một số thiết bị đưa lên sơ tán ở Lạng Sơn cũng sẽ phải chuyển về để lắp đặt vào vị trí cũ ở C3 Bách khoa. Tóm lại, tôi thấy Tầng về Hà Nội làm nhiệm vụ quản lý Phòng thí nghiệm công trình là phù hợp nhất. Vậy ý kiến của Tầng thế nào thì cho biết bây giờ hay cần suy nghĩ thêm để ít bữa nữa trả lời cũng được. Còn việc sinh hoạt Đoàn và sinh hoạt Đảng, hàng tháng Tầng vẫn có thể về khoa theo lịch bố trí, chắc không có gì khó khăn. Hà Nội hiện nay dân tình cũng như các trường học và các cơ quan đã đi sơ tán khá nhiều. Tuy vậy, số dân và số cơ quan còn ở lại làm việc tại Hà nội vẫn còn tương đối đông. Riêng trường mình cũng có bộ phận thường trực, quản lý khu tập thể ở cách Phòng thí nghiệm nhà C3 chỉ vài chục mét thôi. Tình hình là như vậy, với yêu cầu của khoa và bộ môn đối với việc quản lý Phòng thí nghiệm ở Hà Nội thực sự là cấp thiết mà không chỉ có khoa Xây dựng mà Ban Giám hiệu nhà trường cũng rất quan tâm. Sau khi nghe ý kiến và những giải thích của anh, tôi liền trả lời ngay: Em hoàn toàn nhất trí với sự phân công của khoa và bộ môn. Em về Hà Nội công tác cũng không có khó khăn hay trở ngại gì. Với công việc mới em hứa sẽ cố gắng thực hiện và có gì chưa rõ thì em sẽ báo cáo với các anh và trao đổi với các thầy ở bộ môn. Thế là đầu tuần sau đó là tôi đã về hẳn ở Hà Nội. Cũng may là có được anh Đặng Đình Nguyệt nhiệt tình giúp đỡ và giới thiệu về công việc trước mắt ở Phòng thí nghiệm, chủ yếu là việc bảo quản số máy thí nghiệm lớn cùng các hồ sơ hướng dẫn sử dụng đi kèm. Tất cả các tài liệu đều bằng tiếng Nga nên tôi không gặp khó khăn gì trong việc tìm hiểu chúng. Vào khoảng ba - bốn tháng sau đó là anh Nguyệt có quyết định chuyển hẳn về công tác ở Ninh Bình. Vậy là ở Phòng thí nghiệm chính thức chỉ còn lại có mình tôi. Tuy vậy, hàng tuần, hàng tháng, cả anh Sam và anh Liêm cũng như các anh ở bộ môn công trình hễ có việc gì về Hà Nội thì đều tạt qua Phòng thí nghiệm thăm tôi. Sang đầu hè năm 1969, có bữa anh Sam qua Phòng thí nghiệm gặp tôi thông báo là sắp tới phòng mình sẽ có thêm đông người đấy. Trên khoa trước mắt sẽ cử cô Xuân có nhà ở gần đây về giúp công việc bảo dưỡng máy và từ nay đến hè, trường sẽ tiếp nhận và 71

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMcử một tổ thanh niên xung phong về đây lao động phục vụ đề tài xây dựng nhà lắp ghép thí điểm do anh Liêm chủ trì. Giờ anh ấy đang chuẩn bị gấp nguồn kinh phí trên cấp cho đề tài và sẽ về bàn cụ thể những công việc cần làm với Tầng. Tôi ngóng đợi anh Liêm, nhưng chỉ vào ngày cuối tuần đó đã thấy anh có mặt tại Phòng thí nghiệm với nét mặt vụi vẻ. Anh Liêm cho biết một loạt tin mới, đó là: “Đề tài xây dựng thử nghiệm nhà lắp ghép tấm lớn 3 gian 2 tầng, về cơ bản đã được trên phê duyệt, nhưng kinh phí rất hạn hẹp và trong điều kiện sơ tán không thể huy động được đội thợ có chuyên môn xây dựng tham gia. Vậy nên Tầng tìm hiểu trước để khi cần sẽ phải hợp đồng thuê đôi ba thợ bên ngoài vào để làm các công việc về gia công cốt thép và hàn, công việc gia công khuôn đúc cấu kiện. Tuần tới, Trường sẽ cử một tổ thanh niên xung phong về lao động ở Phòng thí nghiệm, nhưng Tầng phải chuẩn bị việc hướng dẫn họ những công việc cụ thể. Bô môn sẽ cử thêm cô Mai Huyền Trân về làm nhiệm vụ can vẽ và cùng cô Xuân trong việc bảo quản ngăn nắp phòng thí nghiệm. Hiện tại về cơ bản, phương án thiết kế với góp ý của anh Sam và một số anh bên khoa Kiến trúc sao cho đảm bảo yêu cầu về mặt chi phí vật liệu là tối thiểu, cho phép việc thi công lắp ghép bằng xe nâng cẩu bánh lốp v.v. Như vậy, tấm tường sẽ phải đúc bằng cách ghép nối các tấm nhỏ bằng bê tông xỉ than, còn các sườn của tấm sẽ bằng BTCT làm việc chịu lực chính. Khi gia công các tấm panel này, Tầng được giao ngoài việc kiểm tra kích thước thì cần chú ý theo dõi việc bố trí cấu tạo cốt thép và các chi tiết phục vụ liên kết hàn khi thi công lắp ghép giữa các tấm panel. Sắp tới, khi có bản vẽ và tổ thanh niên xung phong về, đơn vị chuyển vật liệu sẽ cung cấp đủ các loại theo đặt hàng, Phòng thí nghiệm cần sắp xếp các khu vực với diện tích phù hợp nhằm đáp ứng các công việc kể trên.” Vậy là việc gia công ngay 2 tấm panel tường chịu lực - loại có ô cửa và loại không có ô cửa để TN thử tải cho đến phá hoại nứt để lấy đó làm căn cứ cho việc thi công hàng loạt các cấu kiện với số lượng panel cần và đủ cho thi công lắp ghép ngôi nhà thử nghiệm theo bản vẽ thiết kế chỉnh sửa cuối cùng. Không lâu sau đó, các công việc cụ thể theo kế hoạch kể trên được triển khai. Vậy là lúc này, số người làm việc tại phòng thí nghiệm lên tới hơn chục người. Có điều là tổ thanh niên xung phong về Phòng thí nghiệm gồm 6 người toàn là nữ. Ngay sau đó tôi tìm và ký hợp động thuê ngoài thợ hàn kiêm gia công cốt thép và thợ mộc có tay nghề tương đối khá nhưng đã ở tuổi gần 60. Thật rất may là kết quả thí nghiệm kiểm tra sự làm việc và chịu lực các cấu kiệm tấm thử nghiệm đều đạt trong phạm vi giới hạn dự đoán của thiết kế. Việc hoàn thành thi công dựng lắp ghép ngôi nhà lắp ghép đầu tiên được hoàn thiện vào hè năm 1970. Tại đây đã đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng - Chủ tịch và Bí thư Thành phố Hà Nội và một số vị lãnh 72

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯđạo Bộ Xây dựng đến thăm. Kết quả của công trình nhà lắp ghép thí điểm này chính là cơ sở cho quyết định triển khai thi công xây dựng hàng loạt các nhà lắp ghép tấm lớn tại Hà Nội. Đầu tiên là khu nhà 2 tầng tại khu tập thể Văn Chương, khu tập thể Trương Định. Trên cơ sở đó, cho phép triển khai thi công xây dựng hàng loạt nhà lắp ghép 4 – 5 tầng ở khu tập thể Văn Chương, khu Khương Thượng, Trung Tự, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam v.v. Theo gợi ý của anh Sam, tôi được giao đến ở gian tầng 2 có cầu thang đi riêng đầu nhà, vừa có nhiệm vụ theo dõi những biến động - nếu xảy ra để báo cáo với anh Liêm, kết hợp giữ chìa khoá để mở khi có khách nào quan tâm đến xem vào thời gian những tháng đầu tiên sau đó. Mãi đến cuối năm 1973, sau khi xây dựng gia đình riêng tôi mởi chuyển ra ở nhà riêng bên ngoài. Chính do môi trường công tác trong những năm đầu tiên ở Trường Đại học Xây dựng với sự quan tâm vả tin cậy của khoa Xây dựng và của bộ môn Công trình, trước kết là anh Sam và anh Liêm, đã là nguồn động viên và khích lệ tôi tự phấn đấu cả về trách nhiệm trong công tác giảng dạy môn học thí nghiệm và kiểm định xây dựng, trong công tác nghiên cứu thực nghiệm. Trong đó phải kể đến là trong những năm sau 1980, anh Sam tuy không còn công tác ở trường nữa, nhưng vẫn thường xuyên đến nhà rủ tôi cùng về thăm quê Bắc Ninh. Nhân mỗi khi ngồi trò chuyện, anh thường động viên tôi nên chuẩn bị hướng làm nghiên cứu sinh trong nước hoặc nếu có điều kiện được đi Liên Xô thì càng tốt. Vậy là thời cơ đã đến, vào cuối năm 1986, tôi được cử đi thực tập sinh tại trường KUCU nơi tôi học đại học thời kỳ 1963-1968. Khi được tham gia sinh hoạt cùng bộ môn BTCT và được giáo sư Lưxenko hướng dẫn thực tập, biết tôi tốt nghiệp kỹ sư xây dựng đạt bằng đỏ và hiện là cán bộ giảng dạy Trường Đại học Xây dựng ở Việt Nam, vào cuối kỳ thực tập, liền đăng ký cho tôi báo cáo nội dung thực tập về đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam đối với sự làm việc của kết cấu công trình BTCT. Sau khi kết thúc báo cáo khá ngắn gọn và trả lời một số câu hỏi của các thày trong Hội đồng, tôi đáp lại bằng lời cảm ơn với ý xin phép sau hơn tháng nữa là tôi chia tay các thày để trở lại Việt nam. Bỗng dưng vị giáo sư chủ tịch Hội đồng hỏi: Sao anh lại về ngay nhỉ? Nội dung báo cáo của anh về cơ bản đã hình thành với những nội dung chính của luận án, chỉ cần bổ sung một số kết quả thí nghiệm nữa là anh có thể hoàn tất để bảo vệ, mà việc này ở đây đang có phương tiện phục vụ thực hiện nội dung thí nghiệm phù hợp điều kiện môi trường khí hậu mưa nắng thay đổi thất thường như ở Việt Nam. Vậy anh có thể xin phép gia hạn thêm được 1 năm nữa được không? 73

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMXin cám ơn giáo sư! Thời hạn thực tập của tôi sắp kết thúc, theo quy định tôi phải về Việt Nam. Thế thì tôi sẽ thay mặt Hội đồng gửi công văn lên Đại sứ quán, đề nghị phía Việt Nam gia hạn thực tập cho anh thêm 1 năm nữa. Tôi tin chắc Bộ Đại học của Việt Nam sẽ đồng ý thôi. Tuy vậy, tôi chờ đợi mãi mà hoàn toàn không thấy tin tức phản hồi nào. Đến hạn tháng 8 năm 1987 tôi đến chào bộ môn và qua nhà riêng chào giáo sư Lưxenko để chia tay trước ngày lên Đại sư quán xin phép mua vé máy bay về nước. Khi trình tờ hộ chiếu, vị cán bộ thường trực ồ lên một tiếng: “Chúc mừng anh là ở nhà vừa có quyết định gửi sang cho phép anh được gia hạn 6 tháng ở lại thực tập tiếp, theo nội dung mà trường bạn yêu cầu”. Tôi hơi ngỡ ngàng bởi 6 tháng thì làm được gì, nhưng các bạn đi cùng và cả vị ở Đại sứ quán động viên, tôi liền gọi điện về báo tin này cho giáo sư Lưxenko. Qua điện thoại, thầy nói với giọng mừng rõ: “Cậu quay trở lại trường ngay đi. Đã được phía Việt Nam đồng ý thì 6 tháng hay 1 năm không còn quan trọng nữa. Điều quyết định là ở thời gian và kế hoạch làm việc của Hội đồng”. Thế là tôi quay trở lại trường, bắt đầu làm việc chẳng kể ngày đêm. Ông bạn người Ucraina, tuỗi ngoài 50, phụ trách Phòng thí nghiệm rất thông cảm và quý tôi, có khi giao cả chìa khoá phòng cho tôi đóng mở. Chỉ 5 tháng sau, tôi được thầy hướng dẫn thông qua và cho in luận án mang nộp thường trực Hội đồng, hy vọng nếu được thì có thể bảo về trước hè. Song hồi đó ở Liên Xô, các thành viên hội đồng gồm các giáo sư ở khá nhiều nơi, thày thì ở Kharcop, Moscow, Minsk, … nên ban thường trực Hội đồng phải gửi luận án đi các nơi để có được nhận xét của chuyên gia. Bởi vậy, mãi đến tháng 7 năm 1988 hội động mới họp và tôi đã bảo vệ luận án thành công. Khi vừa về nước, tôi có dịp đến nhà thăm, anh Sam phấn khởi, bắt tay chúc mừng: “Vậy là việc nóng chóng xong, không phải ai cũng có điều kiện ở lại chỉ qua nửa năm đã hoàn thành luận án như chú mình”. Vào chủ nhật sau đó, anh chị hẹn bố trí cùng tôi về thăm quê. Cũng từ đó, hầu như năm nào anh Sam, chị Nhã, hễ ở quê các ông học trò cũ của cụ giáo Toại có việc mời hay khi cả ở Ủy ban huyện Yên Phong có tin gì mới và mời, thì anh Sam, chị Nhã đều bố trí về thăm. Bởi thế nên ở quê đến nay, bất kỳ ai ở tuôi trên dưới 40, khi nhắc đến tên anh Đỗ Quốc Sam thì mọi người đều nhớ đến một người con luôn gắn bó với làng Xà Đông là vậy. 74

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯVẪN TỨ, VẦN TRÊN CÕI BỒNG LAI Phạm Xuân Thụ Bạn đồng tuế, đồng nghiệp Nguyên cán bộ UBKHNN 75

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMVĨNH BIỆT GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TS. Lê Đăng Doanh Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Giáo sư Đỗ Quốc Sam bị căn bệnh hiểm nghèo đã lâu, đã đi Singapore để chữa trị nhiều lần nhưng anh vẫn tiếp tục nghiên cứu và hoàn thành báo cáo về tiêu chí của một nước VN “cơ bản công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”, viết sách về phát triển và đổi mới, xuất hiện tại các cuộc hội thảo đóng góp ý kiến về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tôi vừa cảm phục sự chịu đựng bền bỉ và nghị lực phi thường của anh và vẫn tin rằng anh đang vượt lên bệnh tật để làm việc và có sản phẩm nghiên cứu. Khoảng hai tuần nay, nghe anh nhập viện tôi vẫn hi vọng anh sẽ qua khỏi và trở lại bàn là việc với chiếc máy tính. Được tin anh đã qua đời, tôi vẫn cảm thấy anh ra đi quá đột ngột và đau xót về sự mất mát to lớn đối với đất nước. Một nhân cách lớn, một nhà khoa học trung thực tâm huyết, một tấm gương sáng về đạo đức đã vĩnh viễn ra đi. Anh Đỗ Quốc Sam thuộc thế hệ những nhà khoa học đầu đàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng đất nước trong hoà bình. Sau khi học tập ở Khu học xá Nam Ninh trong những năm 1950, anh Sam được cử đi học đại học ở Trung Quốc và sau đại học ở Liên Xô cũ. Về nước, ông làm hiệu trưởng Trường đại học Xây dựng, chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản nhà nước, trưởng Ban Công nghiệp trung ương, bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư. Trong hơn 30 năm hoạt động trên cương vị lãnh đạo ở cấp Uỷ viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, anh Sam đã có những đóng góp cá nhân to lớn cho nhiều kế hoạch 5 năm, cho chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Anh Đỗ Quốc Sam là một “chung gia” (generalist) hàng đầu ở Việt Nam, la người có hiểu biết sâu sắc về nghiều lĩnh vực khoa học-kỹ thuật, xây dựng, đầu tư và chiến lược phát triển và có năng lực kết hợp nhuần nhuyễn các lĩnh vực khác nhau để vận dụng vào thực tế Việt Nam. Anh đã phát triển tư duy chiến lược ở tầm kinh tế quốc dân, là người trực tiếp thúc đẩy quá trình mở cửa, bình thường hoá và hội nhập quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế với các đối tác chủ chốt. Anh Sam là người lãnh đạo có đóng góp hàng đầu về việc chuẩn bị các dự án đầu tư lớn, thực hiện các tư tưởng chiến lược về công nghiệp hoá, phát triển đất nước bằng những bước đi cụ thể, theo chiến thuật thích hợp. Anh Sam luôn chú ý phát huy sự đóng góp ý 76

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯkiến dân chủ của anh em chuyên gia, của cán bộ. Anh Sam kiệm lời, không bao giờ nói dài, kết luận những vấn đề mấu chốt của cuộc thảo luận mà anh nhìn ra với sự sắc sảo của nhà chiến lược. Anh Sam có sức làm việc phi thường, anh tự làm việc, đọc kỹ các dự thảo, báo cáo mà cấp dưới trình lên và đóng góp những ý kiến sắc sảo của một người thầy để anh em tiếp tục hoàn thiện. Anh đến cuộc họp với sự chuẩn bị và ý kiến đã được cân nhắc kỹ. Anh Sam làm bộ trưởng với nhân cách và suy nghĩ của nhà khoa học, Anh đóng góp ý kiến thẳng thắn có căn cứ, có lập luận, số liệu chứng minh. Khi thảo luận có ý kiến khác nhau, anh phát biểu ý kiến rõ ràng, biểu đạt thẳng thắn lập trường của mình nhưng không bao giờ gay gắt, to tiếng. Anh luôn vì công việc và không bận tâm về các mối quan hệ cá nhân. Anh luôn điềm tĩnh, không bao giờ tôi thấy anh to tiếng, nổi nóng với bất kỳ ai. Là nhà khoa học, đọc tiếng Trung và nói tiến Quan hoả, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tự đọc sách, tự viết bài, tự hình thành những chủ kiến của chính mình. Anh nêu gương lớn cho chúng tôi về tinh thần trách nhiệm, về tình đồng chí có nguyên tắc, có lý có tình. Anh đối xử rất thân tình, chân thành với anh em trẻ tuổi, tạo điều kiện, khuyến khích và đòi hỏi anh em nỗ lực vương lên giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội của đất nước. Anh là tấm gương sáng về đạo đực, nhân cách. Khi đi công tác, anh rất chan hòa, không bao giờ đòi hỏi đưa, đón lễ tân hình thức, không đòi hỏi đãi ngộ, chế độ, chính sách. Là người có vốn văn hóa rộng và đời sống tâm hồn phong phú, có lúc thư thả anh còn mở lòng kể truyện, đọc thơ cho chúng tôi nghe, những bài thơ toát lên tình bạn chân thành, tấm lòng suy nghĩ về quê hương, đất nước. Anh Sam đã vĩnh biệt chúng ta nhưng những hoài bão của anh sẽ tiếp tục thúc giục chúng tôi, thế hệ kế tiếp anh. Tấm gương sáng của anh sẽ vẫn còn sống mãi trong lòng bạn bẻ, đồng nghiệp và những học tò của anh. Cầu chúc anh an nghỉ yên giấc ngàn thu. 77

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMVĨNH BIỆT GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM GS.TSKH Nguyễn Quang Thái, Nguyên Phó Viên trưởng Viện Chiến lược Bộ Kế hoạch và Đầu tư Tổng thư ký Hội Kinh tế Việt Nam (Trích lời viết trong Sổ tang tại Lễ tang Giáo sư Đỗ Quốc Sam) Hội Khoa học kinh tế Việt Nam và các nhà khoa học kinh tế Việt Nam vô cùng thương tiếc Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã ra đi. Giáo sư là một tấm gương sáng về tinh thần học hỏi, cầu tiến bộ, đạt tới trí tuệ cực kỳ sáng láng, thông tuệ. Giáo sư chẳng những đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển và đổi mới của đất nước, mà còn có công cực kỳ lớn lao trong việc bồi giữa vun xới cho các thế hệ tiếp theo. Hội khoa học kinh tế Việt Nam và các nhà khoa kinh tế học xin gửi lời phân ưu thống thiết nhất tới cụ bà và toàn thể tang quyến. Mong các cụ, các ông bà các ông và toàn thể gia đình hãy vững vàng vượt lên thử thách và đau xót không gì bù đắp nổi này khi Giáo sư không còn trực tiếp bên gia đình. Mong cụ bà và gia đình hãy tự hào về người thân rất kính trọng vừa ra đi. Bác Đỗ Quốc Sam kính mến! Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, các nhà khoa học kinh tế và bản bản thân em từ nay không còn được không còn được lắng nghe các ý kiến chỉ vẽ, tư vấn và phản biện đầy trí tuệ và lòng nhân ái của Giáo sư. Xin Giáo sư tin tưởng rằng tất cả các thế hệ tiếp theo sẽ noi gương học tập, tự rèn luyện của Giáo sư để trở thành nhà học giả toàn năng, trí tuệ minh mẫn. Những lớp người tiếp theo sẽ thường xuyên cùng gia đình Giáo sư tiếp tục cuộc hành trình dài trên trần gian. Vẫn biết rằng cửa tử là con đường mà mọi người lần lượt sẽ ra đi. Nhưng giáo sư ra đi đã để lại khoảng trống to lớn không gì bù đắp được. Sức mạnh to lớn và nỗ lực phi thường của Giáo sư khi lâm bệnh trọng và kéo dài đã để lại tấm gương sáng cho tất cả những người còn ở lại trên trần gian. Xin giáo sư nhận ở đây lời nói vĩnh biệt, mong Giáo sư sẽ yên giấc ngàn thu. 78

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯVÀI DÒNG THƯƠNG NHỚ GS ĐỖ QUỐC SAM (1) GS.TS Nguyễn Quốc Đạt Nguyên Trưởng Khoa Xây dựng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội Anh Đỗ Quốc Sam kính mến ơi! Từ ngày xa anh vĩnh viễn, nay tôi mới được viết vài dòng để nhớ những bài học của anh, để thương, để nhớ anh một người anh hiếm có. Trong lớp những người trẻ, tôi được may mắn gặp các bậc đàn anh năng lực tinh thông và dồi dào tình thương yêu, trong đó có giáo sư Đỗ Quốc Sam và giáo sư Nguyễn Đình Tứ với chức bộ trưởng. Trong công việc, lúc đi xa anh Sam không cần dặn dò gì, khi về, anh không cần kiểm tra gì vì đã có đủ lòng tin với cấp dưới. Ngoài hai bộ trưởng tài năng có giáo sư Nguyễn Văn Hường khá sắc sảo. Giáo sư làm tôi áy náy vì tôi đã không nhận lời mời về cùng làm việc với anh ở Văn phòng 10 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), của đại tướng Võ nguyên Giáp. Về đó tôi sẽ được học hỏi nhiều hơn ở trường. Cả ba giáo sư đều là bậc thầy của tôi như giáo sư Đỗ Quốc Sam, mỗi người một nhân cách đặc biệt mà cuộc đời bé nhỏ của tôi không sao có được. Lúc ở Vĩnh Phú, thường khoảng chín giờ tối, anh Sam pha cà phê và mời tôi uống và trò chuyện. Cả ba giáo sư đều thuộc thế hệ vàng của các thế hệ trẻ Việt Nam. Có lẽ các cơ quan hoạch định quốc sự của Việt Nam muốn dành cho anh Sam được làm việc nhiều hơn ở trường trước khi nhận chức Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Khi nhận chức vụ Bộ trưởng của Bộ này, anh Sam mới cho rằng nghề kế hoạch cũng là những bài toán phức tạp như những bài toán công trình kim loại mà ở trường anh Sam thường giảng dạy cho sinh viên chuyên nghiệp. Chính cuộc đời quản lý kế hoạch đã đào tạo anh trở thành nhà khoa học hiếm có mà không phải nhà quản lý nào cũng có được, anh cho rằng “những tài năng như những hoa đẹp chỉ có theo mùa ngắn ngủi”, còn nếu rực rỡ quanh năm cũng chỉ là hoa giấy không mùi vị. Mà nhân vật nào được nhận biểu tượng đó cũng không khỏi buồn vì “kiếp hoa giấy” mà thôi. Có được quan niệm đó, con người trở nên khiêm tốn, giản dị. 79

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMAnh Sam là người rất ít nói nhưng có những nhận xét sâu sắc, không bị nhầm lẫn, gây tin tưởng cho giới trẻ. Đức tính đó làm cho anh Sam trở nên con người rất tế nhị và thích ứng với mọi người. Cuộc đời của anh chị là bài học của các thế hệ trẻ nhiều người muốn rập khuôn nhưng không có công thức. Vì sao vậy? Khi anh chị đều đã là nhà giáo và con trai Đỗ Quốc Anh cũng đang dạy toán ở đại học Mỹ - một gia đình toán học. Bức thư này cũng là gửi đến chị Nhã. Anh có bao nhiêu đức tính như hoa đẹp thì chị có bấy nhiêu. Anh không phải đầu tư mà chị cũng là giảng viên đại học – là bông hoa đa sắc vừa xinh đẹp vừa quý phái, mùa nào cũng đẹp. 80

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯVÀI KỶ NIỆM VỀ GS. ĐỖ QUỐC SAM, NGƯỜI THẦY VÔ CÙNG KÍNH MẾN GS.TS Đoàn Định Kiến Sinh viên khóa 1 Khoa Xây dựng ĐHBK Hà Nội Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Công trình Thép – Gỗ Nguyên Chủ nhiệm Khoa XD, Trường ĐHXD Hà Nội Tôi tự hào là một trong những người được tiếp xúc sớm và nhiều năm với cố Giáo sư Đỗ Quốc Sam, kể từ khi Giáo sư (GS) từ Trung Quốc về dạy ở Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội cho đến khi giáo sư lên làm cán bộ lãnh đạo ở Trung ương. Trong bài viết nhỏ này, tôi xin kể một số kỷ niệm của riêng tôi về giáo sư. Tôi xin phép được gọi giáo sư là anh Sam hay thầy Sam như tôi đã thường gọi giáo sư lúc sinh thời. Tôi gặp anh Sam lần đầu tiên vào cuối năm 1957 khi tôi là sinh viên năm thứ hai Khoa Xây dựng trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Anh Sam và một số kỹ sư mới tốt nghiệp ở Trung Quốc về trường làm cán bộ giảng dạy. Một buổi chiều, lớp sinh viên chúng tôi đang lao động sản xuất ở sân trường. Hồi đó có phong trào sản xuất trong nhà trường. Làm theo phong trào để có thành tích cứ chả có sản phẩm gì. Có lần cán bộ phụ trách lao động dẫn sinh viên đến một bãi cỏ bảo đào một cái hố để rồi hôm sau đưa một nhóm sinh viên khác đến lấp lại. Anh Sam chưa phải lên lớp vì chưa có năm thứ ba để học chuyên môn. Anh và vài thầy khác phụ trách việc lao động sản xuất. Các anh tổ chức việc sản xuất ống cống bê tông (gọi là ống buy, từ chữ buse tiếng Pháp), đóng sẵn những khuôn hình trụ bằng gỗ ván và tấm tôn đen, sinh viên chỉ trộn và đúc bê tông. Chiều hôm đó, chúng tôi đang đổ bê tông vào khuôn ống buy thì thấy một thầy đi xe đạp (xe mác Độc lập) đến. Người cao, gầy, đội mũ cối, đi xăng đan nhựa Trung Quốc, ống quần có kẹp cho gọn khỏi vướng xích. Thầy xem chúng tôi làm việc, trao đổi vài câu với cán bộ hướng dẫn rồi lại nhảy lên xe phóng đi. Sau này mới biết thầy tên là Sam. Lên học năm thứ ba, chúng tôi được thầy Sam dạy môn Kết cấu thép. Bắt đầu giảng bài là thầy cầm phấn vạch một đường thẳng đứng chia đôi bảng làm hai phần, thầy cứ viết hết phần trái rồi viết phần phải. Lớp học đông trên một trăm người, ngồi trên các bậc gỗ cao dần. Thầy giảng bài rất hay, rõ ràng, dễ hiểu, vẽ đẹp. Thầy Sam là người đầu tiên dạy môn Kết cấu thép ở Việt Nam, những thuật ngữ về kết cấu thép mà chúng ta dùng ngày nay là do thầy tạo ra từ hồi đó: dầm, giàn, khung; cánh và bụng ; cấu kiện (lúc đầu còn gọi là phân tố); liên kết, đường hàn góc, đường hàn đối đầu; mối nối công trường, mối nối công xưởng, v.v. Bài giảng của thầy được viết một mặt trên giấy khổ đôi năm 81

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMhào hai. Tay trái cầm bài giảng, tay phải cầm phấn viết và cầm giẻ lau bảng (sau này, thầy đã dạy tôi cách đó khi lên giảng để luôn có một tay sạch sẽ, không bôi bẩn quần áo). Thầy chấm bài kiểm tra trên lớp, không cho điểm mà chỉ đánh dấu + cộng và – trừ, bài khá hơn hoặc kém hơn thì thêm một khoanh tròn; tôi luôn được + kèm hai khoanh tròn. Có lẽ vì vậy mà hết năm thứ ba tôi được giữ lại trường, về bộ môn Kết cấu thép của thầy. Một ngày tháng 10 năm 1959, những sinh viên chúng tôi được giữ ở lại khoa Xây dựng của trường như Ngô Thế Phong, Nguyễn Đình Cống, Nguyễn Trâm, Đỗ Bá Chương, v.v. được lệnh đi khênh bàn ghế về cho bộ môn. Bốn bộ môn ngồi chung thành bốn khu trong gian phòng lớn tầng hai nhà D: Thép, Bê tông, Cầu và Đường, nhưng chung một tổ Công đoàn (tổ Công trình). Quan hệ thầy trò nay đã trở thành quan hệ anh em, đồng nghiệp. Hàng ngày, mỗi sáng đến bàn bộ môn, anh Sam khoan thai cầm phất trần quét qua chỗ làm việc rồi mới ung dung mở sách ra. Tôi là cán bộ giảng dạy mới duy nhất của bộ môn Kết cấu thép nên được anh Sam trực tiếp bồi dưỡng chỉ bảo. Anh cho dự lớp anh dạy cho khóa 2 Xây dựng, cho tôi đứng lớp một số giờ, anh đều ngồi nghe. Anh có kiến thức rất rộng. Hỏi anh bất cứ vấn đề gì về chuyên môn, anh đều đưa ra một tờ ghi chi chít tên các sách và bài báo ở Thư viện Khoa học, anh có đến hàng trăm tờ như vậy. Sau này học tập anh, tôi cũng cố lập cho mình một bộ danh mục như vậy nhưng không thấm vào đâu với bộ danh mục của anh. Tôi không biết anh có giữ chức vụ gì ở Khoa Xây dựng không, nhưng chắc chắn là anh hết sức có uy tín trong Khoa. Tôi nhớ có một buổi họp Khoa để thảo luận rồi biểu quyết một việc gì đó. Đa số giơ tay biểu quyết tán thành nhưng anh không giơ tay, thế là chủ trì cuộc họp phải cho thảo luận lại và biểu quyết lần sau thì đúng như ý của anh. Tại một buổi họp khác, một bác già người miền Nam hết sức trực tính đã nhắc đi nhắc lại câu nói: “Tôi thấy đồng chí Sam là đạo đức nhất”. Khó có ai có thể được sự kính nể như vậy của bác này. Tôi được nghe anh Sam bàn với mấy anh lớn trong bốn Bộ môn (Đặng Hữu, Lê Văn Thưởng, Phạm Sĩ Liêm) về việc phấn đấu của Tổ Công trình thành tổ Lao động xã hội chủ nghĩa. Quả là năm sau, Tổ Công trình được vinh danh là một trong hai tổ Lao động xã hội chủ nghĩa đầu tiên của ngành Đại học. Năm trước khi anh đi làm Nghiên cứu sinh ở Liên Xô, tôi được cùng dự học một lớp tiếng Nga do anh Nguyễn Văn Quỳ dạy. Anh Quỳ có giảng chữ Vưsokii là cao nhưng là người cao to mới là Vưsokii còn như anh Sam cao nhưng không to thì nói là Dlinưi (dài). Cả lớp thích thú vì câu này và đến nay đã hơn 60 năm mà tôi vẫn nhớ. Anh Sam đi nghiên cứu sinh một năm thì được về nước để làm thí nghiệm về sự gỉ của thép ở Việt Nam. Thế là ba người: anh, tôi và anh Đỗ Đào Hải mới về bộ môn, công phu chuẩn bị 82

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯcác mẫu thép rồi mang xuống tận Hải phòng, xin đặt lên nóc cao nhất của mấy nhà máy, hướng ra biển. Năm sau anh lại về nước, mấy thầy trò lại leo lên nóc các nhà máy Hải phòng đó thu lấy mẫu, một số mẫu đã bay đi mất. Về đến bộ môn là “bày đố hàng xén” (anh nói đùa) để mài gỉ, cân đo. Chắc là các kết quả này cũng góp phần cho luận án của anh thành công hơn. Trong một triển lãm của Liên Xô ở Hà Nội, có bức ảnh mầu khổ lớn: GS Viện sĩ Streletxki trao bằng Candidat cho anh Sam. Bức ảnh tuyệt đẹp, giá mà bây giờ có bức ảnh đó để treo ở phòng Truyền thống của Đại học Xây dựng. Năm 1965, anh Sam về nước vào lúc trường Đại học Bách Khoa đang đi sơ tán. Anh đã lãnh đạo một bộ phận khoa Xây dựng sơ tán ở Việt Yên – Hà Bắc rồi sau đó ở huyện Tràng Định – Lạng Sơn. Văn phòng Khoa ở bản Phiên Lệnh, các lớp sinh viên ở các bản xung quanh như Khau Khuyu, Pò Lạn, v.v. Anh tổ chức và chỉ đạo cán bộ và sinh viên lên rừng chặt tre nứa, đóng bè trôi sông về dựng nhà ở, lớp học, hội trường. Cuộc sống gian khổ, vất vả. Anh Sam cùng ăn với bếp tập thể của Khoa bộ. Hôm nào may mắn mua được một con bò của dân (người Tày) là liên hoan to. Tôi lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời được tham gia giết và mổ thịt một con bò bên bờ con suối gần đấy. Khoa bộ ở trên một bãi đất bằng phẳng do công sức của mọi người. Có một hội trường rất khang trang và đẹp do các thầy bộ môn Kiến trúc vẽ, một sân bóng chuyền rộng rãi, các lán của các thầy ở chung quanh. Anh Sam một mình chỉ huy cả cơ ngơi như là một vương quốc riêng và cái biệt hiệu Đỗ Quốc trưởng ra đời. Tôi không quên những buổi chiều anh Sam ung dung khoác cái áo ngoài mầu be, đứng chơi bóng chuyền với anh em. Anh tạo được quan hệ tốt với địa phương. Một việc lớn mà anh và thầy trò Khoa Xây dựng đã làm là giúp cho huyện làm một con đường đến huyện lị Thất Khê. Bộ môn Trắc địa đo vẽ tuyến và mặt cắt đường, bộ môn Cầu thì chuẩn bị phương án làm cầu gỗ vượt khe núi, v.v. Dân công huyện đã rầm rập đào đắp dưới sự chỉ huy của một nữ phó chủ tịch huyện xinh đẹp năng nổ. Con đường chưa làm xong thì Khoa Xây dựng chuyển về Hà Bắc. Năm 1966, trường Đại học Xây dựng thành lập, các Khoa tách ra. Khoa Xây dựng đóng ở huyện Gia Lương, trụ sở Khoa ở thôn Tiểu Than, mỗi khóa sinh viên ở một thôn lân cận như Gốm, Chính Thượng, v.v. Anh Sam làm Trưởng khoa kiêm trưởng Bộ môn Công trình Thép - Gỗ. Lại làm lớp học, bếp ăn tranh tre nứa lá. Dưới dự chỉ đạo của anh, riêng tại trụ sở Khoa có một nhà xây, mái ngói trên vì kèo thép tròn, bên trong có một máy thí nghiệm lực 5 tấn chuyển từ Hà Nội lên (không có điện, chạy bằng tay thôi). Sinh viên đã được học trên máy này, phóng viên báo Pháp đã đến chụp ảnh đưa tin. Anh Sam tiếp tục lãnh đạo khoa Xây dựng di chuyển về Hương Canh rồi về khu Chèm, vô cùng 83

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMkhó khăn gian khổ do số phận long đong của trường Đại học Xây dựng. Nhưng mọi nơi mọi lúc, anh vẫn luôn khoan thai, đĩnh đạc, ung dung, không bao giờ mất bình tĩnh hoặc cáu kỉnh. Ngày Mĩ ném bom trường Đại học Xây dựng (10/9/1972), khoa Xây dựng cũng có thương vong, anh không có mặt ở trường. Tin tức bị ngăn chặn nên mãi chiều muộn mới về tới Hà Nội. Sớm hôm sau anh phóng xe lên Hương Canh và giải quyết chu đáo mọi việc. Từ năm 1977, anh làm Hiệu trưởng, không làm ở Khoa và Bộ môn nữa nên tôi không còn nhiều dịp tiếp xúc với anh. Tuy nhiên có một việc tôi rất biết ơn anh, nhờ đó mà tôi có điều kiện để phấn đấu được như ngày nay. Đó là việc bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ của tôi năm 1981. Anh và bộ môn khuyến khích tôi làm luận án đặc cách. Làm xong, Bộ Đại học yêu cầu tôi phải vào Sài Gòn để đưa luận án cho tiến sĩ Bùi Khương đọc phản biện. Là Hiệu trưởng nhưng anh cũng phải tính toán mãi với các phòng chức năng để có tiền cho tôi mua vé máy bay. Tiến sĩ Khương là ủy viên Hội đồng bảo vệ luận án, không ra Hà Nội được nên gửi phiếu đánh giá trong phong bì dán kín đưa tôi mang ra. Tưởng là mọi thứ đều hợp lệ nhưng đến hôm bảo vệ thì một ông cấp Vụ phó của Bộ đến Hội đồng không cho tiến hành bảo vệ với lí do là không biết phiếu của tiến sĩ Khương có chấp nhận không. Mở ra xem trước thì trái luật mà không mở thì ông Vụ phó không cho bảo vệ. Anh Sam là chủ tịch Hội đồng phải thuyết phục rồi đấu tranh hết sức kiên quyết mà không được. Cuộc hội ý kéo dài hơn một giờ đồng hồ, cuối cùng anh Sam đã thắng và tôi được bảo vệ. Bóc lá phiếu của tiến sĩ Khương thì hiển nhiên là ông đồng ý. Không hiểu vì sao mà ông Vụ phó nọ lại như vậy, mà chỉ có anh Sam với cách làm việc đúng mức, khôn khéo, kiên quyết mới có thể thắng lợi được. Chuyện về anh Sam từ thuở “hàn vi” trước khi lên công tác ở Trung ương còn dài dài, kể mãi cũng chưa hết đâu: những cách ứng xử tế nhị, những câu nói dí dỏm, những đề tài khoa học anh chủ trì, những sách giáo khoa anh chủ biên rồi việc chỉ đạo thầy trò chống lụt ở khu sơ tán, việc tổ chức nhóm nghiên cứu thiết kế Tháp truyền hình Tam Đảo và còn nhiều nữa. Trong bài hồi ức này, tôi xin chỉ kể vài kỉ niệm về anh. Qua mấy câu chuyện này, chúng ta có thể thấy anh Đỗ Quốc Sam, người anh cả của Bộ môn Công trình Thép - Gỗ, trước hết là một thày giáo dạy tốt, một nhà khoa học uyên bác, một nhà quản lí và lãnh đạo tài năng và đức độ được sự yêu mến kính phục của mọi người. 84

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNHỮNG CÂU CHUYỆN NHỎ CỦA GIA ĐÌNH TÔI VỚI ANH ĐỖ QUỐC SAM GS. Nguyễn Đình Cống Nguyên Trưởng Khoa Xây dựng DD&CN Trường Đại học Xây dựng Hà Nội 1-Tự bạch Tôi rất phấn khởi nhận được tin về việc bạn bè viết kỷ niệm về anh Đỗ Quốc Sam, một con người đã có những đóng góp giá trị cho đất nước, để lại những kỷ niệm đẹp và tấm gương sáng trong công việc chuyên môn, với bạn bè và đồng nghiệp. Tôi bàn việc viết kỷ niệm với vợ, bà Kim Thìn, người đã làm thư ký giáo vụ khoa Xây dựng dưới bảy đời Chủ nhiệm khoa (bắt đầu từ anh Sam ở nơi sơ tán Tiểu Than năm 1968) và con gái tên gọi ở nhà là Hằng, nay đã nghỉ hưu nhưng hồi bé đã từng được bác Sam xem như con nuôi. Ba người đã nhớ lại được rất nhiều kỷ niệm về bác Sam, nhưng không thể nào viết ra hết. Mỗi người chỉ chọn ra vài kỷ niệm sâu sắc có tính đại diện. Tôi, trưởng thành từ sinh viên khóa một trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (ĐHBK), đã học được từ anh Sam nhiều điều quý giá trong công việc chuyên môn là giảng viên và cả trong đời sống. Theo anh Sam, trong giảng dạy, quan trọng nhất là phương pháp, trong đời sống, quan trọng nhất là đức tính trung thực, liêm khiết và lòng nhân ái. 2- Kỷ niệm của Nguyễn Đình Cống 2.1-Tổ Công trình Năm 1958 khoa Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội đón một số kỷ sư vừa tốt nghiệp ở Trung quốc về bổ sung cho đội ngũ cán bộ giảng dạy (CBGD) các môn chuyên ngành. Các anh đã dạy cho năm thứ ba của khóa một. Trong đó có anh Đỗ Quốc Sam dạy Kết cấu kim loại, anh Phạm Sĩ Liêm dạy Kết câu Bê tông cốt thép, anh Lê Văn Thưởng dạy Cầu, anh Đặng Hữu và Nguyễn Văn Tuyên dạy Đường. Tháng 10 năm 1959 một số sinh viên khóa một đang học năm thứ tư được cho tạm ngừng học để làm cán bộ giảng dạy tập sự. Đoàn Định Kiến và Lê Vạn theo anh Sam. Ngô Thế Phong và Nguyễn Đình Cống theo anh Liêm, Nguyễn Trâm và Nguyễn Tiến Oanh theo anh Thưởng, Đỗ Bá Chương theo anh Hữu. Mười hai CBGD hình thành nên 85

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMbốn bộ môn và cùng trong một tổ công đoàn là tổ Công trình, một đơn vị cơ sở về đoàn thể và hoạt động thi đua. Hồi ấy đang có phong trào xây dựng tổ, đội Lao động XHCN. Tôi được các anh em cử làm tổ trưởng công đoàn. Cuối năm học 1959-1960 tôi thay mặt tổ báo cáo thành tích thi đua. Tổ Công trình cùng với tổ Toán được chọn là hai tổ xuất sắc, được ghi tên đăng ký xây dựng tổ Lao động XHCN. Lúc này tổ Công trình đã được bổ sung thêm một số cán bộ vừa tốt nghiệp từ Liên Xô và Trung Quốc về như Nguyễn Biên, Hoàng Xuân Liễn, Vũ Như Cầu, Bùi Tâm Trung. Tôi từ chức tổ trưởng Công đoàn và anh Tuyên đã được bầu thay thế. Trong sự hoạt động của tổ Công trình thì sự đóng góp của các anh Sam, anh Hữu là rất đáng kể. Tổ Công trình là một tập thể đoàn kết, thân ái, nhiệt tình, cùng làm việc trong căn phòng ở tầng hai nhà C, một trong “Bốn cổ giảng đường vênh mái dốc” (1). Chúng tôi, những CBGD tập sự dùng giáo trình bằng tiếng Nga để học và tập soạn bài. Hồi ấy tuy đã có từ điển Nga Việt nhưng chưa có đủ các thuật ngữ chuyên môn, chúng tôi phải nhờ các anh tra và giải thích hộ từ Từ điển Nga - Trung. Hồi ấy tuy các bộ môn mới được thành lập nhưng những hoạt động khoa học đã có nền nếp. Tiếc rằng việc sơ tán sau đó đã làm gián đoạn. Khi thành lập trường ĐHXD (tách ra từ ĐHBK) thì tổ Công trình cũng chia tách. Số CBGD trong mỗi bộ môn tăng lên và vào khoảng năm 1984 ngành đại học cần chọn một đơn vị để phong tặng danh hiệu tập thể anh hùng thì đã chọn được bộ môn Đường. 2.2- Thời kỳ ở khu “Chèm” (xã Tiền Phong, huyện Mê Linh) Từ cuối năm 1973 khoa Xây dựng do anh Sam làm chủ nhiệm (phó là Nguyễn Văn Triệu) tập trung về khu Chèm. Với anh Sam tôi có kỷ niệm gián tiếp để kể. Đó là việc liên quan đến một số sinh viên con em miền Nam. Hồi ấy tôi vừa mới ở Liên Xô về, nghe nói các thầy rất ngại khi tiếp xúc với họ (vì họ ngang bướng tỏ ra không kiêng dè ai). Một hôm, đi ngang qua quán nước của bà Côi, thấy các cậu Đinh Tơ, Mai Xuân Của đang ngồi trong đó, tôi ghé vào gợi chuyện. Hỏi han qua lại một lúc, tôi bảo họ rằng, tôi mới ở Liên Xô về, nghe nói các cậu là con em miền Nam, chỉ học hành qua loa, không biết sợ ai cả. Sinh viên Của nói, thầy nói thế chứ chúng em đâu dám thế, chúng em cũng biết sợ chứ. Tôi hỏi, ở khoa này các cậu sợ ai nhất? - Sợ thầy Sam - Tớ thấy thầy Sam rất hiền, cả đời chẳng quát mắng ai, có gì mà phải sợ 86

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ- Đúng là thầy Sam không quát mắng ai, nhưng chúng em thấy thầy không bao giờ vội vàng, đi đứng khoan thai, nói năng nhỏ nhẹ, từ đó toát ra cái uy rất lớn. Nhìn thấy thầy là chúng em đã sợ rồi. À thì ra thế không phải cứ quát to, dọa mạnh mới làm người ta sợ mà chính là người có đức và uy. Có đức thì người ta mới phục và có uy thì người ta mới sợ. Anh Sam là một người như vậy. 2.3- Bài học đáng nhớ Một buổi chiếu, sau khi anh Sam đã thôi công tác ở trường Đại học Xây dựng để nhận việc tại UBXDCB Nhà nước, chị Nhã biết vợ chồng tôi về Hà Nội nên mời đến nhà ở Văn Chương ăn một bữa cơm thân mật chia tay. Khi ngồi chuyện trò sau bữa cơm tôi có hỏi anh Sam rằng sau thời gian dài ở trường ĐHXD, từ trưởng bộ môn, chủ nhiệm Khoa rồi hiệu trưởng, nay ra đi, anh có rút ra được kinh nghiệm hoặc bài học nào đáng nhớ, có thể truyền lại cho thế hệ sau không? Không cần suy nghĩ, anh Sam trả lời ngay: - Có đấy, mình rút ra được hai điều. Một là, khi đề ra một việc gì đó mình phải cố làm cho thật tốt, nhưng đồng thời phải thấm nhuần triết lý “không cầu toàn”. Hai là, với cương vị lãnh đạo, khi đề ra việc gì đó cho tập thể cần biết khai thác khả năng thích ứng của họ. Trao đổi một lúc tôi mới lĩnh hội được những điều hay trong hai ý kiến đó. Khi Nguyễn Lê Ninh được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng tôi có đem các ý đó trao đổi với cậu ấy. 2.4- Lời khuyên đi làm chuyên gia Vào khoảng đầu năm 1985, Nhà nước đề ra việc tìm cách tiết kiệm 10% trong xây dựng cơ bản, đồng thời trước đó đã có phong trào tuyển người sang châu Phi làm chuyên gia giáo dục. Tôi dự định tham gia vào một trong hai việc trên, đã phác thảo một số ý kiến và đến UBXDCB trình bày cho anh Sam nghe. Tôi trình bày khá kỹ về dư án soạn thảo một tài liệu nhằm tiết kiệm trong thiết kế với hy vọng được ông Chủ nhiệm UB ủng hộ. Nhưng anh Sam đã có lời khuyên ngược lại là tôi nên dự tuyển đi làm chuyên gia. Thế là tôi đã theo lời khuyên của anh, đi làm chuyên gia tại thành phố Chlep, nước Algérie trong ba năm từ 1986 đến hết năm 1989. Tại Chlep, ngoài tôi còn có các anh khác từ trường ĐHXD như Vũ Như Cầu, Nguyễn Lê Ninh, Lê Văn Thưởng, Dương Học Hải, Lê Đức Thắng. 87

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM3- Chuyện của cháu Hằng 3.1- Lời của ông Cống: Những năm 68 – 70 khoa Xây dựng sơ tán ở Tiểu Than, gia đình tôi ở nhà tập thể gần với nhà ông bà H, nơi vợ chồng anh Sam chị Nhã ở nhờ, anh chị rất thương hai con gái Hằng, Nga của tôi và nhận làm con nuôi. Năm 1980 nhà tôi ở Ngoại Trạch, rất gần trường ĐHXD, lúc đó cháu Hằng đã học lớp 10, chị Nhã đã chuyển về dạy ở trường CĐSP Hà Nội, chị tha thiết muốn đón cháu Hằng về ở cùng để có mẹ con cho vui cửa vui nhà và tiện việc kèm cặp cháu thi đại học. Chị đã làm thủ tục xin chuyển cho cháu từ trường cấp 3 Bình Xuyên, Hương Canh, Vĩnh Phú về trường cấp 3 Đống Đa, Hà Nội. 3.2- Lời kể của cháu Hằng : Hàng ngày bố Sam làm việc ở Hương Canh, chỉ có mình mẹ Nhã ở nhà. Từ ngày có con gái về ở cùng, 2 mẹ con lúc nào cũng ríu rít thật vui vẻ, mẹ Nhã có cơ hội bảo ban hướng dẫn con về nữ công gia chánh (gia đình mẹ có truyền thống là nền nếp gia giáo ở Hà Nội nên con cũng học tập được nhiều điều hay). Hằng ngày mẹ còn bồi dưỡng kiến thức cho con đặc biệt là toán (mẹ là giáo viên dạy toán trường CĐSP). Con nhớ Tết Trung thu năm đó, mẹ đưa con lên nhà ông bà ngoại (Ông Bà Nguyễn Xiển) ở gần Nhà hát lớn để phá cỗ trung thu với các anh chị em trong họ, mâm cỗ Trung thu nhiều bánh kẹo hoa quả tỉa hình các con vật bày rất đẹp, đó là lần đầu tiên con được phá cỗ trông trăng kiểu thành phố. Vui nhất là chiều thứ 7, ngày chủ nhật khi bố Sam từ Hương Canh về, mẹ Nhã lại nấu những món ăn ngon đón bố, cả nhà 3 người râm ran trò chuyện suốt bữa ăn. Hồi đó bố mẹ ở nhà D3 Văn Chương - đó là căn hộ tập thể chỉ có 2 phòng mà trong phòng khách nhỏ sách vở của bố bày kín cả tủ và còn xếp tràn ra ngoài cao tít gần chạm nóc nhà. Hằng ngày, con cứ ngắm nhìn những quyển sách bìa cứng với các tiếng nước ngoài mà thầm thán phục, bố đọc hết chừng này quyển sách kiến thức chắc uyên thâm lắm. Hồi đó anh Đỗ Bảo Tuân mới học ở Liên Xô về làm việc ở Viện Khoa học Xây dựng cứ tối anh lại về đấy ngủ, sáng sớm anh lại đạp xe đi làm. Cuộc sống êm đềm trôi qua chừng vài tháng thì mẹ có mang em Quốc Anh, mẹ xin tạm nghỉ việc và chuyển về nhà bà ngoại để nghỉ ngơi và khỏi phải leo trèo cầu thang. Một mình con ở Văn Chương cũng không tiện nên con lại xin chuyển về Hương Canh với gia đình để tiếp tục đi học. Con cứ ân hận mãi là khi rời Hà Nội về Hương Canh chưa đến nhà bà ngoại thăm mẹ được lần nào cứ lẳng lặng rời đi phần vì không biết đường đi và cũng không có phương tiện để đi cũng như không có cách gì để liên lạc với mẹ cả. 88

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯKhi con cưới chồng, mẹ dẫn theo Quốc Anh đến chúc mừng, em mới đi học lớp 1 nhìn thấy chữ gì cũng đánh vần tập đọc, anh ấy tung tăng chạy nhảy leo trèo ra chiều phấn khởi vì được dự đám cưới chị gái. Mẹ bảo đọc thiếp mời của con mẹ mới giật mình vì ngày cưới của con trùng với ngày cưới của bố mẹ, ngày 14 tháng 2. Có lần con đến chơi, mẹ nói con vốn là Hiệu trưởng mầm non về hưu, vậy con hãy mở trường mầm non tư thục đi, hằng ngày mẹ sẽ đến chơi chăm sóc dạy dỗ các cháu bé cho trường con vì mẹ rất yêu trẻ con mà không có cơ hội nào được vỗ về các cháu. Tuy thế vì không đủ lực nên con không theo được lời mẹ. Đối với con được làm con nuôi mẹ Nhã, bố Sam, được ở cùng bố mẹ thời gian không dài, kỷ niệm không có nhiều, nhưng những tình cảm yêu thương của bố mẹ dành cho con lúc nào cũng tràn đầy, kể cả khi con đã trưởng thành, đã già, mỗi lần gặp con mẹ lại nói những câu nựng nịu đầy yêu thương cứ như hồi con còn bé. Mọi khi hằng năm giỗ bố Sam, con cũng đến thắp hương tưởng nhớ đến bố nhưng sau này vì điều kiện con hay sang Pháp với con cháu, ít ở Việt Nam và nhất là đã chuyển nhà vào Đà Nẵng nên cũng ít có điều kiện được gặp mẹ Nhã. Con mong mẹ luôn mạnh khỏe hạnh phúc sống thật lâu bên con cháu, con yêu mẹ rất nhiều. 4-Thay lời kết Anh Sam, với cương vị ủy viên BCH TƯ Đảng, Chủ nhiệm UBXDCB nhà nước, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là một trong những người lãnh đạo thuộc trường phái “Kỹ trị”. Anh đã cùng một số lãnh đạo kỹ trị khác lèo lái đất nước vượt qua những cản trở, khó khăn của thời kỳ đó. Anh Sam đã có những đóng góp giá trị cho đất nước, để lại những kỷ niệm đẹp và tấm gương sáng trong công việc chuyên môn, với bạn bè và đồng nghiệp. 89

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMÂN TÌNH NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐỜI TÔI Minh Thu Nguyên giảng viên Khoa Xây dựng DD&CN Trường Đại học Xây dựng Hà Nội Tôi học Khoa Xây dựng, Ngành Dân dụng – Công nghiệp, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Rồi thật bất ngờ, năm 1965, khi vừa tròn 21 tuổi, tôi có cơ duyên được về làm giảng viên ở Bộ môn Công trình, Khoa Xây dựng. Năm 1966, trường Đại học Xây dựng được tách ra, tôi chuyển về công tác tại Khoa Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng. Đến bây giờ, khi đã bước sang tuổi 83, nghĩ lại, tôi tự hỏi: Có phải đó là một sự sắp đặt của số phận? Và càng nghĩ, tôi càng thấy mình may mắn. Trong một bài viết ngắn, thật khó để kể lại hết những sự kiện, những vui buồn và những kỷ niệm đã đi qua trong gần 20 năm công tác ở trường. Vì thế, tôi xin phép không kể nhiều chuyện, mà chỉ muốn nhắc tên những người đã “đi qua đời tôi”. Với tôi, chỉ cần những cái tên ấy cũng đã gợi lại cả một quãng đời. Những người thầy Tôi nhớ các thầy: Ngô Thế Phong (Bê tông), Lê Văn Kiểm, Ngô Văn Quỳ, Nguyễn Bá Dũng (Thi công), Nguyễn Văn Yên, Bùi Tâm Trung, Đoàn Định Kiến (Thép – gỗ), Đoàn Như Kim (Hình họa), Nguyễn Kim Luyện (Kiến trúc), Hoàng Hòe (Sức bền), Trần Cao Đại (Cơ lý thuyết), Trần Văn Hãn (Toán), Võ Văn Thảo (Trưởng phòng Thí nghiệm Công trình). Những người bạn Nguyễn Xuân Liên (Bê tông), Nguyễn Văn Tấn (Thép), Nguyễn Bá Phương (Gỗ), Phạm Nhiên (Thép), Nguyễn Thị Oanh, Mai Huyền Trân, Nguyễn Kim Thìn (Thư ký văn phòng Bộ môn), Nguyễn Huy Thẩm (Y sĩ), Nguyễn Văn Đưởng (Tiếp phẩm). Những đồng nghiệp Phạm Văn Hội, Phạm Văn Tư, Nguyễn Quang Viên, Nguyễn Khánh, Hoàng Văn Quang, Đoàn Ngọc Tranh, vợ chồng Lưu Kim Hoan – Đỗ Đức Thắng, anh em Lê Hữu, Việt, Trung. 90

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯMột câu nói đáng nhớ Tôi vẫn nhớ câu nói của anh Đỗ Quốc Sam: “Nội dung luận án PTS của anh cũng bình thường thôi, nhưng có thể lưu ý giá trị văn học.” Một cơ may lớn của đời tôi Tôi đã gặp may nhờ anh Đỗ Quốc Sam cho đi học nghiên cứu sinh ở Nga, khi anh Yên còn đang viết luận án bên đó. Anh Sam gợi ý cho tôi hướng nghiên cứu về kết cấu hỗn hợp thép – gỗ. Từ đó, tôi nghiên cứu sự ăn mòn kim loại trong mô hình phòng thí nghiệm và khả năng chống nấm tự nhiên của hơn mười loại gỗ Việt Nam. Nhiều năm sau, khi anh Sam sang Nga có việc của trường, anh nghe bạn bè bên đó (ЦНИИСК) nhắc đến bài nghiên cứu của tôi. Khi về, anh kể lại với vẻ hài lòng. Đó là một kỷ niệm nhỏ nhưng tôi vẫn nhớ. Sau năm 1981 Năm 1981, tôi chuyển vào Trường đại học Bách khoa TP.HCM. Anh chị Sam – Nhã đã hai lần ghé thăm gia đình tôi. Năm 1996, anh Sam đến chơi và bảo: “Chưa thấy nhà cửa, đồ đạc có gì mới.” Quả thật, lúc ấy chúng tôi đã bắt đầu “ra ngoài làm thêm” - Anh Yên thiết kế nhiều tháp treo anten cho Tổng cục Bưu điện, còn tôi cũng ra công trường làm một thời gian. Sau đó, tôi về phụ việc thiết kế cùng anh Yên: tính dự toán và vẽ kết cấu. Hai con của chúng tôi cũng theo nghề xây dựng. Có lẽ, dù đi đâu, gia đình tôi vẫn không rời được cái nghề mà mình đã chọn từ những năm tuổi trẻ. Nhìn lại Năm 1965, tôi về trường khi vừa tròn 21 tuổi. Ở tuổi 83, nhìn lại, tôi nghĩ mình thật may mắn: được gặp những người thầy, người bạn, đồng nghiệp đáng quý và có một quãng đời gắn bó với ngôi trường. Xin cảm ơn tất cả những ân tình nghề nghiệp, những người đã từng “đi qua đời tôi” - Đó là những con người Xây dựng tôi mãi nhớ. 91

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMMỘT VÀI KỶ NIỆM VỀ NGƯỜI TỔ TRƯỞNG BỘ MÔN ĐẦU TIÊN CỦA CHÚNG TÔI – GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM GS.TS Phạm Văn Hội Nguyên Giảng viên Bộ môn Kết cấu Thép, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Trường ĐHXDHN Thấm thoắt đã 15 năm trôi qua kể từ ngày GS.TS Đỗ Quốc Sam, người Thầy, người Thủ trưởng kính yêu, người anh cả và người đồng nghiệp thân thiết của các thế hệ trong ngành Kết cấu thép của chúng ta ra đi. Ngồi viết lại ngững dòng ký ức về Thầy trước mắt tôi như hiện lên biết bao hình ảnh của những ngày xưa ấy, những kỷ niệm gắn chặt với những giai đoạn nổi trôi vất vả nhưng đẹp như một bản hùng ca của Trường Đại học Xây dựng, trong đó có biết bao thế hệ thầy trò, và luôn có trong đó hình ảnh của người Thầy chúng tôi – GS Đỗ Quốc Sam. Vì vậy trong các dòng viết dưới đây kỷ niệm về thầy Sam trong tôi gắn liền với những kỷ niệm về mái trường Đại học Xây Dựng thân yêu. Mùa thu năm 1965, tôi rời mái trường phổ thông cấp 3 - Lê Hồng Phong, Nam Định, chàng trai tỉnh lẻ cầm trong tay giấy báo đỗ trường Đại học Bách khoa vào học ngành Cầu đường. Khi đó chiến tranh phá hoại của Mỹ bắt đầu lan ra miền Bắc. Đại học Bách khoa sơ tán lên Lạng Sơn, khoa Xây dựng có 1 bộ phận ở tại Na Sầm. Lần đầu tiên chúng tôi sống ở rừng nên có nhiều điều thích thú mới lạ, tiếng chim “Bắt cô trói cột” hót lảnh lót hằng sáng, các loại cây rừng, các dòng suối nhỏ và tắm sông Kỳ Cùng. Hàng ngày không phải học mà đi phá đá trong hang để cất máy móc thí nghiệm. Sau 3 tháng sống cạnh dòng sông Kỳ Cùng, có quyết định thành lập Trường Đại học Xây dựng – năm 1966, chúng tôi được lệnh quay về Bách khoa, dỡ nhà cantine bằng gỗ lim (phần phân cho Đại học Xây dựng), đóng bè xuôi sông Đuống đến Quế Ổ (huyện Quế Võ) dựng lớp học. Bè xuôi dòng sông Đuống 3 ngày đêm thì đến nơi. Từ đây chính thức là sinh viên trường Đại học Xây dựng. Sau 5 năm học tại khoa Cầu đường, trải qua 4 địa điểm ở các thôn Quế Ổ, Bồng Lai, Xa Loan, Tân Thịnh, đầu hè 1970 các sinh viên khoá 10 bảo vệ xong đồ án tốt nghiệp. Tôi bảo vệ loại Giỏi nên được phân công ở lại trường. Từ đây cuộc đời tôi gắn liền với mái trường Đại học Xây dựng cho đến nay. 92

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯTôi vẫn nhớ ngày đầu đến Bộ môn cũng là lần đầu gặp thầy Sam tại văn phòng Bộ môn (cũng là văn phòng khoa) tại thôn Tiểu Than, huyện Gia Lương, Hà Bắc. Hình ảnh đầu tiên đó là thầy cao nhưng hơi gầy, nói chậm rãi, nhìn nghiêm nghị nhưng ánh mắt vui, gần gũi. Cuộc hội thoại đầu tiên với thầy nhớ không hết nhưng tôi có nói: “Thưa thầy, em học ngành Cầu đường nay về Bộ môn thuộc khoa Xây dưng trái ngành nên sợ nhiều điều không biết”. Thầy cười vui vẻ và trả lời “Tôi trước cũng là sinh viên Cầu đường đây”. Lời động viên đó giúp tôi sau này tự tin học hỏi và vững vàng hơn khi giảng dậy cho sinh viên ngành Xây dựng. Những ngày ở Hương Canh thật gian khổ, thiếu thốn đủ thứ, trò đói bụng đã đành, thầy cũng đói, nạn thiếu nước hoành hành, giếng sâu thăm thẳm nước vẫn ít. Múc được gầu nước phải xúm lại dội chung cho đỡ phí. Bộ môn Thép ở dẫy nhà lá liền nhau trong khu nhà của khoa. Thầy Sam ở căn thứ 3 tính từ đầu hồi, thỉnh thoảng thầy vẫn về Hà Nội họp, đi lại bằng chiếc xe Babetta của Tiệp Khắc. Không hiểu thầy có sức hấp dẫn thế nào mà mỗi lần nghe tiếng xe máy pạch pạch của thầy đi lên là các trưởng Bộ môn xúm đến báo cáo tình hình. Sau khi thầy lên Hiệu trưởng thì lên ở cùng Ban Giám hiệu. Năm 1977, tôi thi đỗ nghiên cứu sinh - Trường cử đi Liên Xô học. Bộ môn khuyên tôi lên gặp thầy xin chuyển sang đi Đức vì nhiều người ở bộ môn đi Liên Xô rồi. Tôi “liều” lên gặp thầy trình bầy ý kiến bộ môn, thầy nghiêm mặt nói: “Cậu thích đi chơi tôi để cậu đi Rumanie, còn đi học thì đi Liên Xô”. Định hướng của thầy đã giúp tôi rất nhiều để phát triển chuyên môn sau này. Giảng dạy ở trường được ít năm, cái gì đến rồi cũng đến, tôi có người yêu, rồi tính đến chuyện cưới. Đó là cuối năm 1975, tôi lên gặp thầy Sam báo cáo chuyện riêng và xin nghỉ ít ngày để lo cưới. Thầy hỏi chuyện rất tận tình, biết tôi xa nhà, nên thầy bảo sẽ nói Công đoàn giúp lo tổ chức cưới. Chúng tôi tổ chức đám cưới ở hội trường Sở Giáo dục số 23 phố Quang Trung. Đích thân thầy Sam đứng ra là chủ hôn, thật may mắn và hạnh phúc cho chúng tôi. Đám cưới hồi ấy chỉ có nước chè, bánh kẹo nhưng rất vui. Gia đình chúng tôi ghi nhớ mãi công ơn của Thầy. Vào những ngày đầu mùa đông năm 1988, tôi đang học tiếng Pháp để đi làm chuyên gia giáo dục ở Algerie, các lớp học thường tổ chức từ 5 giờ đến 7 giờ chiều. Hôm đó như thường lệ sau buổi học về nhà, vừa về đến nhà tôi hơi ngạc nhiên vì thấy thầy Sam và cô Nhã đang ngồi nói chuyện với vợ tôi. Tôi chưa hiểu có chuyện gì (cũng hơi hồi hộp vì thầy cô lại đến nhà tận nhà mình), sau mới rõ vợ tôi dạy ở trường phổ thông Kim Liên và cháu Đỗ Quốc Anh - con trai thầy là học trò, thầy cô đến thăm cô giáo. Chúng tôi rất 93

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMcảm động vì nghĩa cử tốt đẹp của thầy và cô Nhã. Đây là tấm gương sáng mà chúng tôi nhớ mãi để học tập về lòng tôn sư trọng đạo. Còn rất nhiều kỷ niệm tốt đẹp về thầy Sam, không phải của riêng tôi mà của bao thế hệ học trò khác của Thầy. Ngay cả khi thầy lên công tác Trung ương vẫn luôn quan tâm đến trường Đại học Xây dựng, vẫn theo dõi đến sự phát triển của Bộ môn. Trong tâm khảm của chúng tôi, thầy mãi là người thủ trưởng kính yêu, người thầy đức độ, uyên bác, tổ trưởng Bộ môn đầu tiên của ngành Kết cấu thép. Bài viết ngắn ngủi này không thể nói hết những kỷ niệm về Thầy - GS. Đỗ Quốc Sam, mong rằng ở nơi xa thẳm kia thầy luôn cảm thấy ấm áp vì ngoài gia đình vẫn có những thế hệ học trò tưởng nhớ đến người Thầy kính yêu của mình. 94

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNGƯỜI THẦY NÂNG ĐỠ TÔI TRONG HÀNH TRÌNH NHẶT NGHỀ, GÓP NGHIỆP PGS. TS Tống Trần Tùng Nguyên Trưởng bộ môn Kết cấu, Trưởng Khoa Công trình Trường ĐH GTVT Nguyên Vụ trưởng Vụ KH&CN Bộ GTVT Đó là Giáo sư Đỗ Quốc Sam - Thầy hướng dẫn đề tài nghiên cứu khoa học lúc tôi còn là sinh viên, hướng dẫn Đồ án tốt nghiệp Đại học, hướng dẫn lập Đề cương nghiên cứu dự thi tuyển nghiên cứu sinh ra nước ngoài làm luận án Tiến sĩ, chỉ dẫn và hỗ trợ tận tình rất nhiều trong hành trình “nhặt nghề, góp nghiệp” của tôi. Xin phép Thầy cho học trò của Thầy được tỏ lòng biết ơn sâu nặng đối với Thầy thông qua những hồi ức liên quan đến những dự án, những công trình… mà Thầy đã luôn tạo điều kiện hỗ trợ, động viên, chỉ bảo dẫn dắt một người học trò nhỏ như tôi. Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy Thầy là vào một ngày tháng 9 năm 1965. Khi ấy, chúng tôi đang là sinh viên năm thứ hai lớp 64 Xây dựng khóa 9 Đại học Bách khoa, phải sơ tán ở bản Khâu Khuyu đi lên Khoa bộ của khoa Xây dựng đóng ở bản Pò Lạn để dự lễ khai giảng năm học 1965-1966. Trước đó một năm, Thầy vừa bảo vệ luận án và nhận học vị Tiến sĩ ở Trường Đại học Xây dựng Mát-xcơ-va về nước, đảm nhận chức vụ Phó Chủ nhiệm Khoa Xây dựng kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Công trình. Hình ảnh người Thầy mảnh mai, tiên phong đạo cốt trong chiếc áo sơ mi màu đen giản dị mà cao sang, thay mặt lãnh đạo Khoa động viên dặn dò chúng tôi trong ngày khai giảng giữa Việt Bắc đại ngàn vẫn đọng mãi trong tâm trí tôi, vẹn nguyên đến tận hôm nay. Học kỳ I năm thứ tư, năm 1967, tôi may mắn được Thầy trực tiếp hướng dẫn nghiên cứu đề tài “Một phương pháp tính gần đúng dàn dây tam giác”. Ngày ấy các công cụ cũng như phần mềm tính toán kết cấu còn vô cùng hạn chế, phải tìm cách tính gần đúng bằng phương pháp tính lặp. Nhờ sự chỉ bảo tận tình của Thầy, tôi đã báo cáo thành công và được trao giải tại Hội nghị khoa học của Khoa Xây dựng. Phần thưởng là một cuốn sách chuyên khảo về kết cấu không gian bằng tiếng Nga có lời đề tặng và chữ ký của Thầy - một kỷ vật vô giá. Sau đó, Thầy còn tạo bệ phóng khi cử tôi về Hà Nội trình bày tại hội nghị khoa học của Viện Kỹ thuật Giao thông. Đến tháng 8 năm 1968, tôi nhận đề tài đồ án tốt nghiệp “Thiết kế cầu dây văng vượt nhịp chính 140m” do Thầy hướng dẫn. Cầu dây văng lúc đó là một khái niệm hoàn 95

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMtoàn mới mẻ. Thầy đã ân cần giao cho tôi cuốn sách tiếng Nga "Вантовый мост" (Cầu dây văng) do chính Thầy chắt chiu đem từ Liên Xô về. Không chỉ định hướng chọn sơ đồ kết cấu nhịp, Thầy còn tự tay giới thiệu tôi đến gặp thầy Trần Bình ở khoa Cầu Đường để nhờ giúp đỡ giải hệ phương trình phức tạp, rồi gợi ý tôi dùng máy tính Minsk-2 duy nhất của cả nước thời bấy giờ để đối chứng kết quả. Nhờ sự chắp cánh ấy, buổi bảo vệ đồ án của tôi được đánh giá "Xuất sắc". Ảnh 1. Cầu dây văng Rybalsky ở Ki-ép 1963 Sự quan tâm của Thầy không chỉ dành cho riêng tôi. Tấm lòng bao dung của Thầy còn là chỗ dựa vững chắc cho biết bao trí thức trẻ bấy giờ. Khi tôi từ Đức về nước, chứng kiến những người đồng nghiệp làm nghiên cứu sinh xuất sắc nhưng bị thành kiến, chèn ép không được bảo vệ luận án, tôi đã đến gõ cửa nhờ Thầy. Chỉ cần nghe nội dung có giá trị thực tiễn, Thầy không ngần ngại nhận làm Chủ tịch Hội đồng, vượt qua những lời xì xào cản trở để giúp họ bảo vệ thành công. Nhiều người trong số họ sau này đã trở thành Viện phó, Viện trưởng, Vụ trưởng, và cả những vị Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân lỗi lạc. Thầy luôn tâm niệm bảo vệ cái đúng, bảo vệ ngọn lửa đam mê khoa học của thế hệ đi sau. Khoảng cuối năm 1984, tôi được Thầy đề nghị tham gia Tiểu ban Kỹ thuật của Hội đồng nghiệm thu Nhà nước Cầu Thăng Long. Đây là vinh dự và cũng là cơ hội để tôi 96

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯchứng kiến bản lĩnh chuyên môn phi thường của Thầy. Tại công trình Nhà máy thủy điện Trị An, khi đường ống áp lực bằng bê tông cốt thép xuất hiện vết nứt, các chuyên gia nước ngoài đã tìm cách đổ lỗi cho đơn vị thi công Việt Nam. Bằng sự am tường kỹ thuật và thấu hiểu các ý kiến phản biện, Thầy đã dùng luận cứ sắc bén thuyết phục, buộc chuyên gia nước ngoài phải cúi đầu chấp nhận thiếu sót trong thiết kế của họ. Thầy đã minh oan và bảo vệ danh dự cho kỹ sư, công nhân Việt Nam, khiến một vị lãnh đạo cấp cao phải thốt lên rằng Hội đồng Bộ trưởng thật may mắn khi có những thành viên bản lĩnh như Thầy. Thầy khuyên tôi tìm hiểu Nghị quyết 51/HĐBT ngày 17.5.1983 về công tác khoa học và kỹ thuật để nắm được ngoài nhiệm vụ giảng dạy nghiên cứu, các cán bộ khoa học còn có quyền làm dịch vụ, sản xuất các sản phẩm nghiên cứu. Thầy hướng dẫn tôi bàn với anh em trong khoa Công trình của tôi làm hồ sơ thành lập Xí nghiệp Khảo sát thiết kế và Thực nghiệm công trình để tạo điều kiện cho cán bộ giảng dạy và sinh viên trong khoa được tham gia trực tiếp trong việc thiết kế và thi công công trình cũng như có cơ sở pháp lý triển khai xây dựng thực nghiệm các kết quả nghiên cứu. Giới thiệu tấm mái vỏ gập. Nhà ga Đồng Đăng Trên cương vị lãnh đạo cao cấp, Thầy không bao giờ nề hà việc "gỡ rối" cho các dự án. Năm 1990, Cầu Việt Trì gặp khó vì mũi khoan thủ công kẹt cứng trong đá. Tôi đưa lãnh đạo Tổng công ty Xây dựng cầu Thăng Long đến gặp Thầy (lúc này là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước). Sau khi nghe trình bày, Thầy đã tìm cách xử lỷ để hướng tới sự đổi mới. Nhờ đó, công nghệ khoan cọc nhồi được đưa về Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới cho cầu nhịp lớn và nhà cao tầng ở nước ta. 97

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMCầu Việt Trì 4 nhịp dàn thép (ảnh st) Năm 1997, với dự án Cầu Bính (Hải Phòng), Thầy làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định Nhà nước các dự án đầu tư. Khi có nhiều ý kiến trái chiều về chức năng cầu, chính Thầy đã lắng nghe và ủng hộ hoàn toàn đề xuất định vị Cầu Bính là cầu nội đô, mở ra không gian phát triển cho Hải Phòng. Nhờ sự bảo vệ của Thầy, dự án đã thu hút được vốn ODA của Nhật Bản và trở thành một biểu tượng phát triển rực rỡ sau này. Bìa ngoài và trang 2 của Tuyển tập Hội thảo 98

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNăm 1998, dự án hầm Hải Vân sử dụng phương pháp đào hầm của Áo (NATM) gặp phải sự phản đối dữ dội từ nhiều chuyên gia lúc bấy giờ. Có những ý kiến đả kích gay gắt, thậm chí gửi thư lên tận lãnh đạo cấp cao, đòi chia nhỏ thành 3 hầm xen kẽ cầu đường ven biển. Giữa tâm bão dư luận, Giáo sư Đỗ Quốc Sam vẫn kiên định. Ảnh minh họa cấu trúc hầm đường bộ Hải Vân I (ảnh st) Khi Thủ tướng hỏi ý kiến, Thầy dõng dạc bảo vệ phương án một hầm xuyên núi. Thầy phân tích rành rọt, thấu đáo và đặt trọn niềm tin vào các thế hệ học trò, những kỹ sư Việt Nam đang ngày đêm bám trụ hiện trường để tiếp nhận công nghệ mới. Lịch sử đã minh chứng Thầy đúng. Phương án đi thẳng không chỉ an toàn tuyệt đối trước bão biển, sạt lở mà còn giúp đất nước tiết kiệm hàng tỷ đô la, để lại một công trình giao thông kỳ vĩ mang tầm thế kỷ. Không chỉ giúp đỡ trên con đường công danh, sự nghiệp, Thầy luôn trăn trở lo nghĩ cho học trò. Có những lúc, Thầy còn ân cần và tế nhị nhờ người thăm dò xem tôi có muốn về làm Thư ký riêng cho Thầy hay không. Khi tôi bày tỏ nguyện vọng muốn gắn bó với công tác nghiên cứu khoa học xây dựng, Thầy vẫn mỉm cười ủng hộ, dặn dò tôi những ranh giới giữa quản lý nhà nước và nghiên cứu chuyên sâu để tôi bước đi vững chãi. Giáo sư Đỗ Quốc Sam, người Thầy kính yêu của tôi đã đi xa mười lăm năm, nhưng cậu học trò nhỏ bé ngày nào vẫn không bao giờ quên được hình bóng Thầy, từ buổi khai giảng năm 1965 giữa đại ngàn Việt Bắc cho đến buổi vĩnh biệt Thầy vào ngày cuối tháng 6 năm 2010. Trong suốt gần nửa thế kỷ ấy, và cho đến tận hôm nay, tôi vẫn luôn cảm nhận được Thầy đang dõi theo từng bước đi chập chững ban đầu, chỉ bảo, che chở và ủng hộ tôi trên từng chặng đường "nhặt nghề góp nghiệp". Thầy mãi là ngọn hải đăng rực sáng, là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và tình yêu thương vô bờ bến dành cho thế hệ trẻ. 99

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMNHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TS. Nguyễn Bá Phương Nguyên giảng viên Giảng viên Trường ĐHXD Hà Nội Nguyên giảng viên Trường ĐH Kỹ thuật Quân sự Hà Nội Nguyên cán bộ Văn phòng Chính phủ Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Quốc Sam, người anh cả của Bộ môn Kết cấu công trình Thép- Gỗ Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Sống trong thời kỳ Chống Mỹ cứu nước và xây dựng đất nước trong hòa bình, anh Sam đã đảm nhận nhiều vị trí lãnh đạo: Tổ trưởng bộ môn Thép Gỗ, Chủ nhiệm Khoa Xây dựng, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng Cơ bản Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ở cương vị nào anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Xuất thân từ gia đình trí thức của đất Bắc Ninh, cả cuộc đời anh sống giản dị, hòa đồng, yêu thương mọi người. Tôi là Nguyễn Bá Phương học trò Khóa VII Đại học Bách Khoa - Khoa Xây dựng, tôi đã trở thành đồng nghiệp cùng bộ môn của anh Sam (năm 1967) tới cuối năm 1974 tôi gia nhập bộ đội Chống Mỹ cứu nước. Đất nước thống nhất tôi được Quân đội phân công về dạy kết cấu công trình ở Đại học Kỹ thuật Quân sự Hà Nội, đi nghiên cứu sinh trở thành Tiến sĩ và được phân công về Văn phòng Chính phủ phụ trách về Đầu tư và Xây dựng, Đấu thầu. Tôi và anh Sam tuy không cùng cơ quan nhưng cùng chuyên môn nên có điều kiện hỗ trợ nhau trong công việc phục vụ đất nước. Anh Sam lớn hơn tôi gần 10 tuổi nhưng sống tình cảm và thân thiết, khi đi bộ đội, chuẩn bị vào Nam giải phóng Sài Gòn, anh Sam đã đi xe đạp lên tận sân bay Nội Bài tiễn tôi, với quà (1 tút thuốc lá Tam Đảo, 1 tút thuốc lá Trường Sơn) để sưởi ấm lòng chiến sĩ khi đêm lạnh, anh em bịn rịn chia tay hẹn ngày chiến thắng được gặp lại. Khi tôi đã tốt nghiệp Tiến sĩ ở nước ngoài về anh Sam muốn tôi về cùng công tác ở Ủy ban Xây dựng Cơ bản Nhà nước, làm Vụ trưởng Khoa học Kỹ thuật, nhưng tôi và anh Sam đã phải chấp nhận sự phân công của ông Đỗ Mười. Vì vậy tôi về Văn phòng Chính phủ làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười. Tất cả các chính sách của Nhà nước về đầu tư và xây dựng, đấu thầu, tôi và anh Sam thường xuyên trao đổi về chuyên môn, hết mình phục vụ cho đất nước. Cuộc đời đâu có dài, anh Sam đã đi xa quá sớm, tôi và chị Nhã (vợ anh Sam) vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp như khi cùng bộ môn kết cấu công trình Thép Gỗ của Đại học Xây dựng Hà Nội 100

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNGƯỜI THẦY CỦA TÔI (Những ký ức không thể nào quên về Giáo sư Đỗ Quốc Sam) Nguyễn Văn Khánh Nguyên Giảng viên bộ môn Công trình Thép – Gỗ, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội Nguyên Giám đốc Công ty Tư vấn ĐHXD CCU Tôi là một cựu sinh viên khóa 15 (1970-1975) ngành Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, tôi vẫn thầm cám ơn cuộc đời tôi đã may mắn có được một người thầy và sau này tôi được trở thành một đồng nghiệp suốt một quãng thời gian dài, những năm tháng công tác tại Bộ môn Công trình Thép - gỗ, người thầy đã từng bước dẫn dắt tôi bước vào cuộc đời này. Khi tôi nhận đề tài tốt nghiệp, rất may mắn cho tôi, Thầy là người hướng dẫn đồ án tốt nghiệp của tôi với nội dung là thiết kế một hệ thống nhà kho bằng kết cấu thép với hệ xà gồ là dây căng trước. Trước khi giao đề tài thầy gọi tôi lên phòng làm việc của thầy và nói: đề tài có hơi khác so với kết cấu thông thường, nếu cậu bảo vệ đạt điểm tuyệt đối thì khoa sẽ ưu tiên cậu được chọn nơi công tác. Khi đó Thầy là chủ nhiệm khoa Xây Dựng và cũng phải nói thêm rằng vào thời điểm đó việc được chọn nơi công tác là một đặc ân, vì khi đó đi công tác ở đâu là phải theo sự phân công của tổ chức. Ngày bảo vệ đồ án tốt nghiệp Hội Đồng chấm tốt nghiệp đã cho tôi điểm 5/5 (khi đó chấm theo hệ 5), tôi rất phấn khởi vì đã không phụ lòng Thầy. Sau kỳ nghỉ chờ phân công công tác tôi trở lại Trường, Thầy gọi tôi lên phòng làm việc của Thầy và nói “Tôi sẽ giữ đúng lời hứa với cậu và bây giờ cậu được tự chọn nơi công tác”. Thực ra đợt nghỉ vừa qua tôi về quê có tham khảo ý kiến bố mẹ và muốn được về quê công tác nhưng khi đó nhà nước cho sát nhập tỉnh Lạng Sơn là quê tôi với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng và cơ quan hành chính của tỉnh lại đặt tại thị xã Cao Bằng, nếu cự ly đi từ Lạng Sơn đến Cao Bằng còn xa hơn từ Lạng Sơn về Hà Nội, như thế tôi vẫn phải công tác xa nhà. Mặc dù vậy nhưng tôi vẫn trả lời Thầy là muốn được về quê công tác, một phần do nguyện vọng của bố mẹ một phần cũng do tính tự ti cao nghĩ rằng mình là một học sinh dân tộc miền núi đến chỗ khác thì e rằng khó bươn trải. Nghe tôi nói vậy, Thầy trầm ngâm hồi lâu rồi quay sang hỏi tôi có phải bố mẹ bắt về lấy vợ không, tôi trả lời Thầy là không phải vậy đâu vì bố mẹ cũng là người cấp tiến không phải tuân theo hủ tục lạc hậu và cho phép con cái tự lo. Sau đó Thầy chậm rãi nói tôi muốn khuyên 101

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMcậu ở lại Trường làm cán bộ giảng dạy, ở lại bộ môn của Thầy, thầy từ từ phân tích: “Tôi thấy cậu có thành tích học tập tốt và liên tục đạt sinh viên xuất sắc mấy năm gần đây, qua đợt làm đồ án tốt nghiệp thấy cậu có kỹ năng tính toán, viết, vẽ đều tốt, tính tình điềm đạm, tôi nghĩ làm cán bộ giảng dạy khá hợp lý”. Nghe thầy nói vậy tôi thực sự choáng vì chưa bao giờ nghĩ đến tình huống này. Tôi đành thú thực với Thầy: “Thứ nhất em không có một chút năng khiếu sư phạm nào cả và rất sợ nói trước đám đông (cũng phải nói thêm rằng vào thời tôi vào đại học nếu muốn học sư phạm thì không phải thi cử gì hết cứ đánh trống ghi tên thôi mà tôi thì cố tình tránh nghề sư phạm). Thứ 2 là em học ngành Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp chứ không học chuyên về Kết cấu Công trình, nay nếu về bộ môn Kết cấu Công trình Thép thì xem ra không ổn. Thứ 3 là em là một học sinh dân tộc miền núi e rằng kiến thức không đủ làm một cán bộ giảng dạy”, … Thầy mỉm cười và nói: “Kiến thức chưa đủ thì ta học thêm quan trọng là tính cách và phẩm chất con người, không cứ phải học ngành Kết cấu Công trình mới ở lại Bộ môn Kết cấu Công trình đâu”, rồi thầy đưa ra ví dụ: “Có thầy học ngành Thủy Lợi còn ở lại Bộ môn Công trình Bê tông Cốt thép được nữa là”. Sau đó thầy cho phép tôi về nhà một tháng nữa và suy nghĩ quyết định. Khi tôi trở lại trường thì tất cả các bạn lớp tôi đều đã đi nhận công tác cả, tôi đến văn phòng khoa thì anh trợ lý tổ chức nói với tôi là tôi không phải trả sách thư viện và thanh toán ra trường vì vẫn ở lại trường, tôi ngỡ ngàng khi biết mình đã được xếp vào Bộ môn Công trình Thép - Gỗ, tôi không thể ngờ rằng bắt đầu từ ngày đó tôi đã trở thành một cán bộ giảng dạy và suốt cả cuộc đời không bao giờ quên người thầy đã từng bước dẫn dắt tôi bước vào đời, không chỉ là khoa học kỹ thuật mà cả lòng đam mê nghề nghiệp, kỹ năng làm nghề cũng như tu dưỡng phẩm giá cá nhân mình. Những năm tháng ở lại trường, tôi may mắn trở thành đồng nghiệp của Thầy - Thầy hướng dẫn tôi đọc từng quyển sách, thấy tôi ngoại ngữ còn non, thầy động viên tôi theo học khóa chuyên tu tiếng Nga; Để rèn kiến thức thực tế, thầy cho tôi đi lên Khu Gang thép Thái Nguyên tham gia thiết kế kết cấu thép cùng với Xưởng thiết kế Kết cấu thép tại đó. Sau này làm gì tôi cũng luôn muốn học theo tính cách của thầy như một nhà nho nhưng rất dí dỏm và sống bình dị. Tôi nhớ hồi ở Hương Canh, tiêu chuẩn cán bộ được 13kg lương thực nhưng không phải gạo mà phần lớn là bột mì, bọn tôi phải lấy bột mì đi thuê họ cán ra thành mì sợi đem phơi khô ăn thay cơm. Có lần tôi thấy Thầy đến phòng bọn tôi (tôi và anh Đoàn Ngọc Tranh ở cùng nhau) thấy chúng tôi ăn cơm nấu bằng mì sợi, thầy ngạc nhiên nói sao các cậu có thể nấu cơm bằng mì được, chúng tôi nói: “Bọn em còn có thể vừa nấu 102

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯcơm, luộc rau và nấu canh cùng một nồi được. Bọn em cho mì vào nấu với lượng nước vừa đủ, sau khi mì cạn thì rải lên trên mặt mấy lá cải bắp và một quả cà chua, tiếp tục cho lửa nhỏ khi nào chín bắc ra lấy quả cà chua dằm vào bát, đổ nước sôi vào làm canh, còn mấy lá bắp cải cắt ra làm rau luộc, mì xới ra khô như cơm thế là có bữa ăn”, thầy nói: “Thế thì tớ phải học các cậu mới được.” Thời kỳ Trường ở Hương Canh gian khổ nhưng tràn đầy kỷ niệm thầy trò. Sau này các bạn cựu sinh viên trường Đại học Xây dựng hay gọi đó là “Kỷ nguyên Hương Canh”. Mấy năm sau của “Kỷ nguyên Hương Canh”, thầy trở thành Hiệu trưởng của Trường, do công việc quản lý chiếm nhiều thời gian nên chúng tôi ít được giao lưu với thầy hơn, mặc dù vậy thầy vẫn rất quan tâm đến anh em trẻ của bộ môn. Tôi nhớ hồi vợ tôi tên là Tô Lệ Thúy ra trường, khi đó chúng tôi sắp tổ chức cưới, tôi có lên gặp Thầy bày tỏ nguyện vọng muốn cho vợ về quê công tác, thầy khuyên thế thì không nên mà tìm cách cho vợ làm ở Hà Nội thì mới yên tâm làm việc được, thế là trong 3 ngày thầy đổi quyết định phân công công tác cho vợ tôi 3 lần. Có lần khi tôi đến gặp thầy, thầy đang ăn cơm tối, không nề hà gì thầy gọi ngay anh Trưởng phòng Tổ chức cán bộ lên và thay ngay quyết định phân công công tác cho kịp sáng hôm sau tôi về Hà Nội nộp. Sau này cũng phải nhờ mối quan hệ của thầy mới xin được việc làm, hai vợ chồng tôi luôn ghi nhớ ơn sâu của thầy đã quan tâm đến gia đình tôi. Tôi nghĩ không chỉ riêng tôi được thầy quan tâm mà còn có nhiều các anh chị em khác trong bộ môn cũng như trong Khoa xây dựng. Nay thầy đã đi xa nhưng trong tâm trí chúng tôi vẫn luôn hiện hữu hình ảnh người thầy lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, nói năng lúc nào cũng từ tốn, điềm đạm và nụ cười luôn để sẵn trên môi, chưa thấy thầy quát ai bao giờ kể cả sinh viên. 103

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMKỶ NIỆM VỀ NGƯỜI THẦY ĐÁNG KÍNH, NGƯỜI ĐÃ GÓP PHẦN THAY ĐỔI CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH TÔI ThS. Hoàng Văn Quang Giảng viên Bộ môn Công trình Thép Gỗ Trường Đại học Xây dựng Hà Nội Đầu năm 1975, tôi được phân công về nhận công tác tại Bộ môn công trình Thép gỗ, với sự bỡ ngỡ của cậu học trò vừa tốt nghiệp, tôi chưa thể hình dung công việc sẽ làm của mình. Tôi được phân ở một phòng với thầy Đoàn Ngọc Tranh, bạn cùng khóa, cùng về bộ môn một ngày. Gian phòng của chúng tôi ở cùng dãy với phòng của thầy Sam. Nhà tranh vách đất, mặt quay ra cánh đồng lúa ở khu Chèm (gọi là khu C), trước mặt là giếng nước dùng để lấy nước ăn và tắm giặt. Hàng tối, các thầy trong bộ môn thường kê ghế ra sân hóng mát, gọi là sân cho oai chứ thực ra là một dẻo đường đất trước cửa nhà. Dạo đó, tôi sợ thầy lắm vì mình là học trò mới tốt nghiệp; sau này, càng tiếp xúc với thầy mới hiểu thầy, hiền khô, với dáng người cao cao, giọng trầm ấm. Nhớ mãi câu chuyện thầy kể về chuyến đi Paris: - Thầy cùng đi với một vài bác cán bộ nữa, đi chơi đến thăm bảo tàng Louvre, một di tích lịch sử bên bờ sông Seine, nơi đã là cung điện hoàng gia Pháp. Khi đang đi dạo, một anh nhiếp ảnh gia chào đón, mời các bác chụp tấm ảnh kỷ niệm và bấm máy luôn. Vốn tin người, thầy rút tiền ra trả; sau khi cầm tiền xong, tay nhiếp ảnh ma lanh này mới nói: giờ mới chụp thật, mời các bác đứng để tôi chụp (một tấm ảnh của máy chụp lấy ngay, chất lượng cực kỳ kém). Sau này, khi tôi đến viện bảo tàng này vẫn còn tình trạng đó, tất nhiên là tôi không mắc lừa. Một lần, khi cắt tóc cho thầy, tôi thắc mắc: - Thưa thầy, tại sao từ tiếng Nga là пояс, trong từ điển là "thắt lưng, ngang lưng", (từ điển Nga - Việt của tác giả Nguyễn Năng An) mà thầy lại dịch là "bản cánh". Thầy trả lời "tớ dịch như vậy, các cậu cứ thế mà theo". Và rồi từ này được dùng trong môn học Kết cấu Thép đến tận bây giờ và có lẽ mãi về sau nữa. Khi còn là sinh viên, chúng tôi học lớp Kết cấu, được trang bị kiến thức tương đối sâu và nhiều. Môn Kết cấu Thép, chúng tôi được các thầy Nguyễn Văn Yên, Đoàn Định Kiến và thầy Sam dạy. Hôm hỏi thi vấn đáp, thầy hỏi thi tôi là thầy Sam; sau khi nghe tôi trình bày, thầy hỏi "Còn gì nữa không", tôi trả lời "Dạ không ạ"; Và một điểm 5/5 tròn 104

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯtrĩnh trong sổ điểm của tôi trước sự ngạc nhiên của nhiều bạn trong lớp. Sau này tôi mới hiểu, trong quá trình dạy, thầy đã nắm được sức học của các học trò. Ấn tượng còn đọng lại trong tôi về phong cách giảng bài của thầy là thầy chỉ dùng một tay để viết và xóa bảng; tức là chỉ để một tay dính phẩn. Sau này, khi là giảng viên, tôi cố gắng học điều này của thầy mà không được, hai tay cứ dính đầy phấn, kể cả dính lên quần áo. Trong số người mang ơn thầy, vợ chồng tôi phải là người xếp hàng đầu. Năm 1978, tôi ở Hương Canh, vợ con tôi ở công trường thủy điện Hòa Bình. Phố Đúng Thia - Hòa Bình, nơi xây dựng nhà máy thủy điện ngày ấy còn rất hoang sơ: mía tím bán cả ôm, trứng gà bán cả lố. Thời kỳ bao cấp, với đồng lương eo hẹp (63 đồng/tháng), cuộc sống của chúng tôi cực kỳ khó khăn. Hàng tháng, tôi xin phép đi thăm vợ con một lần: đi tàu Hương Canh - Hà Nội hết 1 đồng, ô tô Hà Nội - Hòa Bình 2 đồng, vị chi cả đi, về tiền tàu xe hết 6 đồng, lại còn mua đồ ăn cho con nên chả còn bao nhiêu. Khổ quá, tôi đánh liều đến xin thầy (khi đó đang là Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng) cho chuyển công tác lên Hòa Bình. Thầy trầm ngâm suy nghĩ một lúc và bảo tôi: "Cậu cứ yên tâm ở trường làm việc, tớ sẽ nghĩ cách xin chuyển vợ cậu về Hà Nội". Những ngày tiếp theo, thầy đã tác động đến Bộ Xây dựng để Bộ đồng ý cho vợ tôi được chuyển công tác. Thầy cũng sắp xếp với Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước để tiếp nhận vợ tôi về. Sau hai năm, vợ tôi được chuyển về là nhân viên của thầy tại Ủy ban Xây dựng cơ bản nhà nước. Giờ đây, các con tôi đã trưởng thành, có nghề nghiệp ổn định, gia đình chúng tôi mãi mãi biết ơn thầy. Cứ nghĩ về thầy, tôi lại muốn bật khóc, không cầm được dòng nước mắt, nước mắt của sự biết ơn và sự thương nhớ thầy, một người đã góp phần làm thay đổi cuộc sống của gia đình tôi, mang lại điều tốt đẹp cho chúng tôi. Một người thầy như người cha thứ hai của tôi. Kính mong thầy yên nghỉ nơi vĩnh hằng. 105

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMBIẾT ƠN THẦY Đỗ Đức Thắng - Lưu Kim Hoan Cựu sinh viên K18XDC – Trường Đại học Xây dựng HN Tháng 12/1978 chúng em nhập Trường ở Hương Canh, được phân về Khoa Xây Dựng ở Khu C, thế là đạp xe từ Hương Canh về Khu C nhận giát giường bắt đầu quãng đời sinh viên. Sau khi ổn định, trong học kỳ đầu tiên chúng em được học môn Khái niệm ngành nghề 30 tiết. May mắn sao lớp chúng em được thầy Đỗ Quốc Sam dạy. Từ những học sinh phổ thông chưa hiểu biết gì về ngành Xây dựng, chỉ sau 10 buổi dạy của thầy, chúng em đã có những ý niệm chung, những thuật ngữ và nhiều mẩu chuyện vẫn đi theo mình đến tận bây giờ. Ấn tượng rất mạnh là mặc dù trong khung cảnh lớp học nhà tranh vách đất, thầy luôn chỉnh tề, mắt kính sáng loáng. Thầy chỉ dùng một tay cho cả phấn và giẻ lau bảng, giữ tay kia sạch để giở giáo trình hay nhấc kính,… rất hợp lý. Học được 2 tuần, thấy mấy bạn từ lớp Xây dựng Dân dụng Công nghiệp cùng với em được chuyển sang lớp Kết cấu, em thắc mắc lắm, rồi đánh bạo xin gặp thầy để mong cũng được chuyển sang lớp Kết cấu. Khi nghe trình bày mục đích muốn được học lớp Kết cấu để khi ra trường có thể được ở lại trường làm Giảng viên. Thầy cười, “cứ học cho tốt, học giỏi thì ngành nào cũng có thể ở lại trường chứ đâu chỉ ngành Kết cấu mới làm giảng viên được”. Em ngộ ra và học tập rất nỗ lực rồi đã thực hiện mơ ước của mình. Hơn hai chục năm sau em có dịp lặp lại lời dạy của thầy với một sinh viên năm 3, khi nguyện vọng của bạn ấy là vào ngành Xây dựng DD&CN nhưng lại bị xếp sang Khoa Cầu đường. Nay em ấy đã là Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Ban Chủ nhiệm Khoa Cầu đường. Khi em đã trở thành trợ giảng tại Bộ môn Thép Gỗ, thầy là Hiệu trưởng Nhà trường, một lần nữa em đánh bạo xin thầy giúp đỡ để người yêu của em được đổi Quyết định phân công công tác. Thày bảo “ừ, chồng đã ở trường làm giảng viên, thì vợ làm việc ở Viện Thiết kế sẽ hỗ trợ nhau tốt hơn. Tôi đồng ý giúp. Nhưng cô cậu phải hứa với tôi sẽ lấy nhau nhé. Kẻo mang tiếng tôi đấy!”. Năm 1981 em nhập ngũ khi chiến tranh biên giới vẫn âm ỉ, sau mấy tháng huấn luyện tân binh, chuẩn bị lên biên giới thì hai bên gia đình giục làm đám cưới. Cần phải có xác nhận tình trạng độc thân để nộp cho UBND Quận, anh sĩ quan quân lực bảo chúng tôi mới quản lý anh có 3 tháng, làm sao xác nhận được? Chạy về trường thì Phòng TCCB trường bảo anh đã đi khỏi trường rồi, làm sao chúng tôi xác nhận được? Tình ngay lý 106

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯgian? Kẹt quá đành đánh liều xông vào phòng thầy cầu cứu. Thầy gọi xuống TCCB, tât nhiên sau đó mọi việc xuôn sẻ. Gần 50 năm qua, cũng có lúc cãi cọ, cũng nhiều lúc thăng trầm, song nhớ lời thầy và công ơn của thầy vun vén cho đôi lứa nên chúng em cũng nhẫn nhịn nhau và vượt qua. Gia đình chúng em (các con, các cháu - giờ chúng em đã có các cháu nội ngoại rồi) rất biết ơn thầy! Chúng em biết ơn thầy rất nhiều ạ, 107

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TRONG KÝ ỨC CỦA THÂN QUYẾN ANH MÃI LÀ HẠNH PHÚC CỦA ĐỜI TÔI! Bà Nguyễn Phương Nhã, Phu nhân của GS. Đỗ Quốc Sam Buổi đầu gặp gỡ Một buổi tối đầu tháng Sáu năm 1960, anh Lê Tâm đưa anh Sam đến nhà bố mẹ tôi. Anh Tâm rủ chúng tôi ra ghế đá vườn hoa cạnh Nhà hát lớn ngồi chơi. Được biết anh Sam là học sinh trường Khoa học cơ bản và Sư phạm cao cấp ở Khu Học xá nơi mà bố tôi dạy Toán, lại là cán bộ giảng dạy Khoa Xây dựng Đại học Bách khoa, quân của anh Lê Tâm lúc đó là Chủ nhiệm khoa, là anh rể lớn của tôi, nên chúng tôi nói chuyện rất tự nhiên! Không biết duyên số thế nào mà ngay từ giây phút gặp đầu tiên, anh đã nghĩ rằng “đây là người mình yêu” sau này anh kể là hôm ấy về mất ngủ cả tuần lễ. Anh viết thư cho tôi: “Em là người yêu trong mộng tưởng của anh từ bao nhiêu năm trước!”. Chỉ sau một tuần gặp gỡ, vào một tối sáng trăng trên bờ đê sông Hồng, sau Nhà hát lớn, anh đã mở lòng nói lời yêu, ghi nhận “mối tình đột ngột nhưng đã có tự bao giờ!”. Và nhận được câu trả lời: "Em cũng không hối hạn vì đã yêu anh ngay từ buổi đầu gặp gỡ ấy”. Sáu mươi sáu năm qua, tôi cứ suy nghĩ mà không tìm ra câu trả lời: “Tại sao tôi yêu anh?”, tại sao một con người điềm đạm, nhân hậu, sống nội tâm, lại có tình yêu sét đánh với một cô gái không có vẻ đẹp bên ngoài, tính tình lanh lợi và rõ nét cá tính. Anh cũng đã nói: “Về trình độ, về tư tưởng tình cảm, cả hình thức bên ngoài, anh không có gì hơn người, chỉ biết biểu lộ thật thà tình cảm của mình và anh muốn em tự hào vì có một người yêu rất bình thường! Đó là niềm tự hào cao quý nhất! Rồi đến lúc nhìn lại, tự nhiên em sẽ thấy anh của em lớn hơn trước, đáng yêu hơn trước nhiều, lúc ấy em sẽ thấy sung sướng về sự thay đổi của anh chỉ có được nờ tình yêu của em”. Tình yêu sâu đậm không giới hạn ấy của anh đã gắn kết tâm hồn chúng tôi, dẫn dắt tôi suốt cuộc đời và tôi chưa bao giờ hết yêu Anh, Những năm đầu chung sống, anh ở rể. Hai chúng tôi thay nhau đi học, rồi chiến tranh xảy ra, chúng tôi phải sống xa nhau, nhưng vẫn động viên gắn bó với nhau trong lý tưởng và công tác. Anh gửi cho tôi những vần thơ đầy tình cảm: Anh đã có lần nói với em 108

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯTình yêu không thể đếm đêm ngày Không gì có thể đem so sánh Kể cả vô biên với diệu huyền Để hợp lý hóa gia đình, tôi xin về trường Đại học Xây dựng, nhưng bảy năm sau lại chuyển về dạy ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội để gần bệnh viện, tiện cho việc chữa chạy sinh con. Tài sản quý nhất lúc đó là mỗi người có một chiếc xe đạp. Sau này anh Sam được phân phối một chiếc xe máy Babeta. Có hôm chở tôi lên nơi sơ tán, qua cầu Long Biên, anh đi xe sang trước, tôi phải đi bộ qua cầu vì sàn cầu bị hỏng. Mải suy nghĩ thế nào mà anh quên cả tôi, mãi mới nhớ ra quay lại tìm vợ, nhưng không thấy, đành phải đi về bên cầu sơ tán sợ muộn giờ họp. Cuối cùng vẫn tìm thấy nhau.. Vượt qua bao nhiêu những khó khăn, cả về tinh thần và vật chất trong những năm tháng chiến tranh, anh vẫn luôn sống giản dị, khiêm tốn và lạc quan: Lưng chừng vách núi đứng cheo leo, Xe vẫn trườn lên dốc với đèo. Không biết chiều nay em có nhắc, Chiều nay Việt Bắc nhớ em nhiều. Ngày sinh Quốc Anh sau gần hai mươi năm vất vả chạy chữa, anh Sam và tôi chỉ ước mong sao nuôi dạy con khỏe mạnh, mong trí tuệ của con phát triển cùng với chiều cao và cân nặng nên khi con tới tuổi đi học, chúng tôi không lo việc chọn trường “đặc biệt” cho con mà chỉ chọn nơi gần nhà, tiện đưa đón con vì bố mẹ đều bận công tác. Mẫu giáo cho học trường Sao Sáng, cấp 1 học trường Văn Chương, cấp 2 học chuyên toán Bế Văn Đàn, lớp 10 thi vào khối chuyên Đại học tổng hợp được 38,5 điểm. Thật lòng chúng tôi cũng không có ý định hướng con đi sâu vào toán học. Anh Sam luôn nhắc nhở tôi phải rèn luyện cho con kiến thức toàn diện, khơi nguồn cảm hứng cho con luôn ham muốn hiểu biết, muốn học và vui thích vì được học. Quốc Anh may mắn được kế thừa truyền thống hiếu học, phép nhà nghiêm cẩn, tác phong sống giản dị, khiêm nhường từ bố mẹ, ông bà nội ngoại. Khi bố gần 70 tuổi, mẹ 60, Quốc Anh 17 tuổi đạt giải nhất 42/42 tại cuộc thi Toán quốc tế lần thứ 38 tại Argentina. Năm 2008 Quốc Anh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ 109

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMtại Harvard, sau về làm việc tại SMU (Singapore Management University – Đại học Quản lý Singapore) một thời gian, nay là Giáo sư tại Đại học Monash Melbourne, Úc. Gần tám năm theo anh chiến đấu chống lại bạo bệnh. Khi được bác sĩ Ban Bảo vệ Sức khỏe Trung ương báo tin là kết quả xét nghiệm phổi anh nghi có u, anh rất bình tĩnh về báo cho tôi. Các bác sĩ cũng đã có phương án phẫu thuật, nhưng chúng tôi đề nghị để kiểm tra. Những ngày đông lạnh giá năm ấy, chúng tôi đã dắt nhau đi hết nhà bạn bè, người quen để hỏi kinh nghiệm chữa bệnh. Ba mươi Tết còn đi tận Hòa Bình gặp thầy lang nổi tiếng lấy thuốc Nam. Cuối cùng, vào bệnh viện 108 chụp cắt lớp thì kết luận là có u ác. Ngày mùng hai Tết, trước khi cháu Quốc Anh sang Harvard, ba chúng tôi đã ngồi nói chuyện và quyết định đi Singapore theo sự khuyên bảo của bạn bè và kinh nghiệm của một số người đã đi, lại có anh Trường Giang, con bác Lê Xuân Trinh làm ở Hàng không Việt Nam tại Singapore chỉ dẫn, chúng tôi quyết định sẽ đi! Khó khăn lúc đó là chưa có giấy phép và cả vấn đề tài chính. Anh Sam đã trực tiếp đề nghị Thủ tướng Phan Văn Khải cho đi, nhưng kinh phí thì phải tự lo! Vốn liếng chả có là bao, vay mượn anh em bạn bè và tôi được các bạn động viên “Trời sinh voi, trời sinh cỏ” nên càng quyết tâm. Ngày ra đi cũng là một kỷ niệm, hôm ấy là ngày Mùng 8 tháng Ba, Thủ tướng Phan Văn Khải nhắn là mời đi theo đoàn Thủ tướng cùng sang Singapore, nhưng anh đã quyết định chúng tôi tự đi riêng trên máy bay thương mại. Tôi rất thương cháu Quốc Anh ra đi học, với tâm trạng bố ốm đau. Nhưng cả ba chúng tôi đều rất bình tĩnh chung bước trên đường đời. Chúng tôi cũng rất mừng là Quốc Anh biết nghĩ. Sau khi tốt nghiệp ở Harvard xong, cháu xin về ngay Singapore công tác ở SMU để được cùng tôi chăm sóc bố. 50 lần chúng tôi bay qua bay lại cùng anh. Tôi vừa làm thư ký, vừa làm y tá, hộ lý lại kiêm cả cấp dưỡng. Cũng may là không bị ốm đau gì. Từ ngày về Singapore, cháu là trụ cột của gia đình, giúp bố mẹ chiến đấu với căn bệnh hiểm nghèo của bố, đưa đón bố mẹ hàng tháng trên đường Hà Nội – Singapore, tìm chỗ ăn ở cho bố mẹ những ngày lưu trú đi khám, truyền xạ, trông bố lúc cấp cứu trong bệnh viện. Hai năm sau, Quốc Anh cưới vợ, Anh Sam đã cố gắng duy trì được sức khỏe để tham dự được cả lễ ăn hỏi, đón dâu và lễ thành hôn của Quốc Anh và Kiều Trang (ngày 03/01/2010). Cháu Trang cũng đã học đại học ở Mỹ, cháu học giỏi và rất hiếu thuận. 110

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNhững ngày anh Sam chữa bệnh, cháu đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Trang vẫn luôn nói: “Con là con gái của mẹ”, làm tôi hết sức xúc động. Trang đã con trai năm 2015 và đã hoàn thành luận án PhD năm 2019. Đến nay cháu cũng đã là phó giáo sư Trường Melbourne University ở Úc. Ngày 29 tháng 5 năm 2010, Sinh Nhật lần cuối cùng của anh Đỗ Quốc Sam ở Singapore. Anh mệt! Tôi nhớ: “Đón Sinh Nhật bố ở bên Sing (Singapore), Chỉ có nhà ta, bốn chúng mình, Cầu mong bố vượt qua bệnh tật, Mẹ con yêu bố biết bao tình”. Đến tháng 6 năm 2010, bệnh anh trở nặng. Về Hà Nội ngày 04 tháng 6 năm 2010 anh phải đi cấp cứu ở Bệnh viện Việt Xô. Ngày 24 tháng 6 năm 2010 anh Sam đã ra đi mãi mãi. Trong hơn 10 năm qua, Quốc Anh đã làm được nhiều việc và là chỗ dựa tinh thần vững chắc của tôi. Ngày 27 tháng 9 năm 2015 con của Quốc Anh, cháu nội của chúng tôi, bé Quốc Thành đã ra đời. Mong sao thế hệ thứ ba của chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện lời hứa của Quốc Anh với bố: “Con vẫn luôn hiểu từ ngày còn nhỏ rằng, lớn lên sẽ phải thấy bố ra đi khi con còn trẻ, vẫn luôn biết bố đã dũng cảm dẫn dắt cả gia đình chống chọi lại căn bệnh nặng suốt bẩy năm trời, vẫn biết sớm muộn sẽ có ngày phải nói lời tiễn biệt bố, song đến khi bố không còn nữa, con mới nhận thấy sự trống trải to lớn đến dường nào. Bố biết không, từ khi bố không còn, mỗi lần bước vào phòng làm việc của bố lại là một lần tim con đau nhói. Bố ơi, tiễn bố đi đến nơi an nghỉ vĩnh hằng, con xin hứa sẽ thay bố hoàn thành những ước nguyện còn dang dở. Con sẽ thay bố chăm sóc mẹ, làm chỗ dựa vững chắc của gia đình, giúp mẹ về sức khỏe và về tinh thần trong những ngày tháng không còn có bố ở bên cạnh, Và con hứa sẽ kế thừa cốt cách, tinh thần của bố, là một nhà khoa học, một trí thức liêm khiết, chính trực, yêu nước, yêu khoa học, yêu gia đình”(1). (1) Trích Lời tiễn biệt của Quốc Anh tại Lễ tang GS Đỗ Quốc Sam 111

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMCHA TÔI VỚI THƠ ĐƯỜNG VÀ CHÍNH SỰ TS. Đỗ Quốc Anh – Con trai GS. Đỗ Quốc Sam Biệt sầu tiền lộ vô tri kỷ Thiên hạ thuỳ nhân bất thức quân “Biệt Đổng Đại” – tác giả Cao Thích Khi tôi xa nhà đi du học ở Pháp năm 18 tuổi, bố tôi gửi ba cuốn Thơ Đường cũ, xuất bản thời đầu những năm 1990, ở nhà đã đọc đến sờn rách, giấy tả tơi. Trong đó có hai tập Thơ Đường của NXB Văn học, và đặc biệt là một tuyển tập nhỏ những bài thơ Đường do Tản Đà dịch. Tôi chẳng bao giờ nói chuyện với bố về thơ Đường, hay thậm chí thơ ca nói chung. Nhưng bố biết tôi cũng mê đọc thơ Đường trong suốt thời gian học phổ thông, nhất là theo “đệ tam thượng” của Âu Dương Tu, và vì thế bố tôi gửi gắm ba cuốn sách mà bản thân ông cũng rất ưa thích. Tôi làm quen với sách từ tủ sách của gia đình. Tôi lớn lên ở khu tập thể Văn Chương, trong hai căn hộ nhỏ của gia đình ở trên cùng một tầng: một căn có từ tiền dành dụm từ xưa của bố mẹ, và một căn nữa được nhà nước phát thêm sau này khi bố tôi chuyển sang công việc lãnh đạo trong Chính phủ. Thứ dễ nhìn thấy nhất khi vào nhà là giá sách: căn hộ mới gần như được bao bọc bởi một lớp giá sách, kéo dài suốt dọc tường phòng khách, kéo từ dưới đất lên tận gần trần nhà, rất tiện cho trò trèo cây tôi hay chơi lúc nhỏ. Bố tôi giữ đủ loại sách trên giá, viết bằng đủ các thứ tiếng Việt, Nga, Trung, Pháp, Anh, thậm chí cả Đức. Sách cũng đủ các loại chủ đề. Lúc tôi còn nhỏ thì một phần lớn là các loại sách kỹ thuật xây dựng, trong toàn công thức toán (giống một phần khác trên giá là sách toán của mẹ tôi). Sau này, khi bố tôi nghỉ ở Uỷ ban Xây dựng Cơ bản để chuyển sang công việc chính sách ở Ban Công nghiệp, thì trong nhà bắt đầu có nhiều sách kinh tế, quản lý, đầu tiên là những sách cơ bản bằng tiếng Anh, sau đó là sách nâng cao bằng tiếng Pháp, và sách nghiên cứu tiếng Pháp và tiếng Trung. Những cuốn sách giới thiệu kinh tế cơ bản bằng tiếng Anh là khơi nguồn đầu tiên để tôi làm quen với các khái niệm cơ bản về cung, cầu, kinh tế thị trường, giá cả, dưới một góc nhìn khác với những khái niệm về giá trị mà tôi được học trong môn kinh tế chính trị học ở Đại học Quốc gia. Theo thời gian, một lượng lớn sách dần dần bị hỏng, mốc, thậm chí bị mối nặng, phải bỏ, nhưng tủ sách lại luôn tích tụ thêm nhiều sách mới. Trong cả bộ giá sách đồ sộ ở nhà, tôi cũng được một khoảng nho nhỏ, trước tiên là để lưu trữ kho tàng truyện cổ tích khổ bằng bàn tay người lớn mà trẻ con hay dùng để tặng sinh nhật lẫn nhau. Mẹ tôi cẩn thận khi chọn truyện thiếu nhi cho tôi, nhưng tôi vẫn dễ dàng chạy theo một hai cuốn sách bố tôi đọc. Một trong những ấn tượng đầu tiên của tôi về sách của người lớn là một hai cuốn Đông Chu Liệt Quốc, bản in 6 tập ở miền Nam 112

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯcũ, mà bố tôi cũng chỉ mượn được dần dần. Bố tôi chỉ đọc Đông Chu Liệt Quốc, chứ ở nhà không bao giờ có Thuỷ Hử Truyện, và sau này khi có bản in lại thì ông tìm mua ngay Hồng Lâu Mộng. Lớn lên, tôi tự tìm mượn để đọc dần dần ba đại danh tác kia của Trung Quốc – bố tôi không để ý kể cả Tam Quốc Diễn Nghĩa. Bố tôi có lựa chọn riêng trong số các tiểu thuyết tiếng Trung như vậy, cũng như những lựa chọn khác về văn chương. Giá sách nhà tôi cũng gồng nặng sách vở văn chương, bao gồm đủ văn thơ thế giới và Việt Nam. Bố tôi rất thích thơ, và ông thường tìm đến thơ văn có hơi hướng cổ xưa. Khi có những bản in lại văn thơ thời kỳ tiền chiến vào những năm 1990, ông kỳ công sưu tầm hết cả, từ các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn cho đến thơ ca đủ các tác giả Thơ Mới. Tôi còn nhớ trong nhà có đủ sách thơ, từ Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, Thế Lữ, Tản Đà, đến những tuyển tập phê bình đánh giá thơ văn của Hoài Thanh và Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan. Bố tôi hứng thú từ những bài thơ yết hậu trong Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng đến những bài thơ Đường đượm chút buồn và hoài cổ. Dù đã có bộ Thơ Đường của NXB Văn học, ông vẫn muốn có thêm riêng một cuốn Thơ Đường do Tản Đà tuyển chọn và dịch. Có thể tìm lại dấu ấn của tuổi trẻ của bố tôi trong văn chương mà ông thích đọc. Bố tôi lớn lên trong môi trường Nho học: Ông nội tôi, cụ Đỗ Ngọc Toại, từng đỗ tam trường vào khoa thi cuối cùng ở Bắc Kỳ năm 1915; về sau cụ nghiên cứu và dịch sách Hán Nôm và có vai trò lớn trong việc đào tạo các thế hệ sau trong ngành học Hán Nôm. Nhưng bố tôi cũng học theo chương trình giáo dục theo hệ thống của Pháp ở trường Đỗ Hữu Vị và trường Bưởi. Nền giáo dục Nho học tạo nên cốt cách nhà Nho của bố tôi, với những nguyên tắc liêm khiết, chính trực không khoan nhượng. Bên cạnh đó, tâm hồn ông lại có tự sự lãng mạn riêng, một sự lãng mạn bình dị không đòi hỏi mầu sắc nhưng rất thấm đậm tình cảm, một sự lãng mạn có mầu sắc văn chương Pháp. Ông theo cách mạng bãi khoá biểu tình rồi bị bắt giam từ năm 16 tuổi, còn trước khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ. Nhưng văn thơ ông thích nhất lại là những Tiêu Sơn Tráng Sĩ hay Thơ Say của Vũ Hoàng Chương. Giá trị văn thơ, đối với ông, không phải nằm ở giá trị tuyên truyền đại chúng. Tôi nghĩ về tâm tình văn chương của bố tôi qua tập Thơ Đường do Tản Đà dịch. Ông không hẳn thích phong cách thơ lục bát, vốn mang tính chất Nôm hơn Hán. Nhưng có lẽ ông thích ở sự lựa chọn những bài thơ thấm thía nhất tư muôn ngàn bài thơ thời Đường. Trong cả cuốn sách, bố tôi dùng bút đỏ gạch dưới một số liên – đều là những liên đi theo tâm trí tôi hàng thập kỷ. “Biệt sầu tiền lộ vô tri kỷ/Thiên hạ thuỳ nhân bất thức quân” – hai câu thơ đầu bài viết này của Cao Thích, thi nhân và đại thần thời Thịnh Đường, cũng là một trong những liên được gạch đỏ. Không chỉ có Cao Thích, mà còn nhiều câu thơ được nhấn mạnh khác khác gắn liền với tình bằng hữu tri kỷ, ví dụ như: 113

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM“Đào Hoa đàm thuỷ thâm thiên xích/Bất cập Uông Luân tống ngã tình” – Tặng Uông Luân/Lý Bạch; “Đình thụ bất tri nhân khứ tận/Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa” – Sơn phòng xuân sự/Sầm Tham; “Kim nhật tống quân tu tận tuý/Minh triêu tương ức lộ man man” – Tống Lý Thị lang phó Thường Châu/Giả Chí; “Sầu kiến chu hành phong hựu khởi/Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân” – Lâm giang tống Hạ Chiêm/Bạch Cư Dị. Sau này, tôi có được nghe kể lại, ông ngần ngại bước tiếp trên quan trường vì sợ sẽ không còn bè bạn nữa. Bố tôi vẫn có nhiều người bạn cùng học, cùng làm việc từ hàng chục năm xuyên suốt sự nghiệp, song người bạn thân nhất, thân như người trong nhà, sẵn sàng đùm bọc và thông cảm, thì chỉ có bác Thái, người bạn học phổ thông thời vẫn còn “mày tao” và vẫn tiếp tục “mày tao” cho đến phút cuối cùng. Bố tôi cũng tô đỏ nhiều liên nói về ước mong cuộc sống thanh cao và thanh bình tách khỏi chính sự: Tòng thử phất trần y/Quy sơn vị vi lão – Vọng giang lâu thượng tác/Bạch Cư Dị; Thử sinh phiêu đãng hà thời định/Nhất lũ hồng mao thiên địa trung – Phong vũ vãn bạc/Bạch Cư Dị; Thất sủng cô ky quy viện dạ/Một phiên lão tướng thượng lâu thì – Trung thu nguyệt/Bạch Cư Dị. Khi tôi vẫn còn học cuối cấp ba, ông đã sốt sắng viết thư xin rút lui khỏi hàng ngũ lãnh đạo cấp cao vì lý do tuổi cao, nhường lại lĩnh vực hoạt động cho các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn. Thời gian chống chọi với bệnh ung thư, bố tôi vẫn giữ tinh thần bình thản như lúc ông bình thản rời bỏ vị trí quản lý trọng yếu – như hai câu thơ tặng người thân của Bạch Cư Dị mà ông cũng gạch dấu đỏ: Trung thiên hoặc hữu trường sinh dược/Hạ giới ưng vô bất tử nhân (Khúc giang tuý hậu tặng chư thân cố/Bạch Cư Dị). Không phải chỉ là cốt cách Nho học và sự lãng mạn Pháp, khối lượng lớn nhất trên tủ sách của bố tôi là sách khoa học kỹ thuật. Từ xuất thân là một nhà khoa học xây dựng chuyên ngành cầu đường, khi chuyển sang lĩnh vực quản lý, bố tôi cũng dần thay thế khối lượng sách khoa học kết cấu, cầu đường sang các sách về khoa học và quản lý kinh tế. Bố tôi thuộc về số ít các nhà lãnh đạo kỹ trị, sử dụng chính kiến thức kỹ thuật để làm nền tảng cho chính sách kinh tế. Như nội dung kỹ thuật, tôi được thấy ông làm việc kỹ trên từng chi tiết. Vì có nền tảng kỹ thuật làm nền móng cho kế hoạch nhà nước, ông thích và tìm hiểu rất kỹ hệ thống kế hoạch hoá của Pháp. Thời gian tôi đi học ở Pháp, khi bố tôi đã rút lui khỏi hàng ngũ lãnh đạo cao cấp nhất, trong những dịp hiếm hoi được gặp nhau ông hay nói với tôi về hệ thống này, với Tổng uỷ ban Kế hoạch (Commissariat Général au Plan) vốn có vai trò đặc biệt trong những thời kỳ tái tạo và phát triển của Pháp. Ông chủ động xây dựng Diễn đàn hợp tác kinh tế Việt Pháp, tạo điều kiện trao đổi về kiến thức quản lý kinh tế cấp nhà nước giữa hai bên, tận dụng vị thế của Việt Nam là một thành viên trong khối Pháp ngữ. 114

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯCó nền tảng kỹ trị của ông, nhưng ông không chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước quản lý cồng kềnh. Ông ủng hộ việc để các đơn vị tư nhân và địa phương tự xây dựng và phát triển hầu hết các dự án, mà nhà nước chỉ giữ vai trò điều tiết ở cấp cao. Tôi có được nghe lại những câu chuyện bố tôi trực tiếp điều hành và tạo điều kiện cho những chính sách mở cửa mới mẻ cho các khu công nghiệp, có nơi là sự hợp tác mới lạ với nước ngoài như Singapore, có nơi là sự tin cậy uỷ quyền cho công ty tư nhân tự phát triển. Những chính sách đấy đều là những bước đi mới mẻ ở trong môi trường chính sách đổi mới của Việt Nam thời bấy giờ. Dù chính ông góp phần dựng nên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông lại chia sẻ với tôi ý tưởng xây dựng mô hình nhà nước giảm nhẹ phần kế hoạch đầu tư chi tiết theo kiểu kinh tế tập trung ngày xưa, mà thiên về kế hoạch chính sách vĩ mô hơn. Ông mong muốn hệ thống kế hoạch chỉ nắm ở phần chóp vĩ mô, trong đó có những dự toán chung về ngân sách và chính sách. So sánh các hệ thống của Pháp, Mỹ, Trung Quốc, ông muốn thiết kế một dạng siêu bộ quản lý mọi mặt về kinh tế - tài chính công, theo một hình thức tương tự như Bộ Tài chính Kinh tế của Pháp (mà mỗi chính phủ lại chọn một tên hơi khác nhau một chút, dù đều gọi vắn tắt là Bercy, là địa chỉ trụ sở bộ này). Bộ phận quản lý kinh tế tài chính không cần đảm nhiệm chức năng kế hoạch, mà chức năng này được thực hiện theo cách định hướng toàn bộ đường lối chính sách của cả chính phủ. Bố tôi thường lý giải là Bộ trưởng Tài chính Kinh tế của Pháp giống như một Phó Thủ tướng quản lý một siêu bộ bao hàm hết các chức năng quản lý kinh tế. Những thay đổi gần đây, khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư được nhập về Bộ Tài chính, cũng có hơi hướng theo những gì bố tôi nói đến từ trước – hy vọng là nội dung công việc cũng sẽ tăng hiệu quả và giảm rào cản đối với các hoạt động kinh tế tự do như bố tôi mong muốn trước đây. Bố tôi cũng hy vọng lâu dài hệ thống Ngân hàng Nhà nước sẽ củng cố được khả năng phân tích dự báo và tự hoạch định chính sách tiền tệ vững chắc được. Thời tôi mới đi du học, ông thường than thở về việc cả hệ thống thiếu khả năng đưa ra quyết sách về lãi suất – điểm khác biệt lớn với các ngân hàng trung ương các nước lớn. Đây chính là lý do ông có mong muốn tôi theo ngành học kinh tế vĩ mô chuyên sâu về hoạt động của ngân hàng trung ương. Tiếc là sau một thời gian cố gắng học theo, đến lúc đi học tiến sĩ thì tôi thấy mảng này hoàn toàn không hợp với mình, nên chuyển sang những mảng khác. Bố tôi không chỉ suy nghĩ về tổ chức nhà nước trong bộ của mình, ông thường xuyên đóng góp phân tích, ý kiến về việc tinh chế hệ thống tổ chức nhà nước nói chung, và tích cực làm việc trên mảng chính sách này đến tận những năm cuối đời, kể cả trong thời gian chống lại bệnh tật hiểm nghèo. Ông muốn tinh giản sự lặp lại giữa hai bộ máy song song của Đảng và Chính quyền ở địa phương. Ông cũng muốn tinh giản hoạt động quốc hội, hội đồng nhân dân, hay các hoạt động nhà nước ít có nội dung thực tế. So sánh 115

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMvới nguồn lực của các nghị sĩ Pháp, Mỹ, ông chỉ ra vấn đề ở chỗ thiếu nguồn lực và khả năng thực tế để đại biểu Quốc hội có thể đưa ra phản biện chính sách thích đáng. Ông tìm đọc một khối lượng lớn các tài liệu về định chế, thể chế, đặc biệt là từ kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc, để đưa ra phân tích riêng cho Việt Nam. Cho đến nay, cũng có nhiều chính sách tổ chức Nhà nước thời gian gần đây đi theo hướng tinh giản này. Đào Hoa đàm thuỷ thâm thiên xích/Bất cập Uông Luân tống ngã tình (Tặng Uông Luân/Lý Bạch) Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết/Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền (Tuyệt cú/Đỗ Phủ) Tửu trái tầm thường hành xứ hữu/Nhân sinh thất thập cổ lai hi (Khúc giang/Đỗ Phủ) Đình thụ bất tri nhân khứ tận/Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa (Sơn phòng xuân sự/Sầm Tham) Kim nhật tống quân tu tận tuý/Minh triêu tương ức lộ man man (Tống Lý Thị lang phó Thường Châu/Giả Chí) Bất tuý Tầm Dương tửu/Yên ba sầu sát nhân (Thu giang tống khách/Bạch Cư Dị) Sinh đương phục tương phùng/Tử đương tòng thử biệt (Ký Vi Chi/Bạch Cư Dị) Tòng thử phất trần y/Quy sơn vị vi lão (Vọng giang lâu thượng tác/Bạch Cư Dị) Sầu kiến chu hành phong hựu khởi/Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân (Lâm giang tống Hạ Chiêm/Bạch Cư Dị) Thử thời văn giả kham đầu bạch/Huống thị đa sầu thiểu thuỵ nhân (Giang thượng địch/Bạch Cư Dị) Thử sinh phiêu đãng hà thời định/Nhất lũ hồng mao thiên địa trung (Phong vũ vãn bạc/Bạch Cư Dị) Trung thiên hoặc hữu trường sinh dược/Hạ giới ưng vô bất tử nhân (Khúc giang tuý hậu tặng chư thân cố/Bạch Cư Dị) Thất sủng cô ky quy viện dạ/Một phiên lão tướng thượng lâu thì (Trung thu nguyệt/Bạch Cư Dị) Đãn thị thi nhân đa bạc mệnh/Tự trung luân lạc bất qua nhân (Lý Bạch mộ/Bạch Cư Dị) Cao ngâm đại tuý tam thiên thủ/Lưu trước nhân gian bạn nguyệt minh (Độc Lý Bạch thi tập/Trịnh Cốc) Minh nguyệt sơn đầu khiếu/Hoàng khuyển ngoạ hoa tâm Đông Chu Liệt Quốc Diễn đàn hợp tác kinh tế Việt Pháp Huân chương Quốc công 116

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNHỮNG VẦN THƠ “TÌNH” 1. Gửi em ngày Sinh nhật (1) Hôm nay Sinh nhật em yêu, Anh đề dành cho em rất rất nhiều, Tất cả những gì mà đẹp nhất Và thanh cao nhất của tình yêu. Anh đã có lần nói với em, Tình yêu không thể đếm ngày đêm, Không gì có thể đem so sánh, Kể cả vô biên với diệu kỳ. Mỗi ngày Sinh nhật thường nhìn lại, Để tiếc những ngày cũ đã qua. Sinh nhật năm nay, nhìn phía trước, Bao nhiêu tuổi tác vẫn không già. Anh không lo lắng gì mưa nắng, Cuộc sống thanh cao, đẹp lạ lùng, Tóc bạc không ngăn tình thắm đượm, Chỉ dồn sâu lắng ở bên trong. Anh tặng cho em ngày Sinh nhật, Cành hoa màu trắng của tình yêu, Với muôn vàn nụ hôn trinh trắng, Gửi gắm cho em rất rất nhiều. (1) Đầu đề do chúng tôi đặt 117

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM2. Chiều Việt Bắc nhớ em(2) (2) Đầu đề do chúng tôi đặt Lưng chừng vách núi đứng cheo leo, Xe vẫn trườn lên dốc với đèo. Không biết chiều nay em có nhắc, Chiều nay Việt Bắc nhớ em nhiều. 118

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯPhần III - DI SẢN CỦA GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM QUỸ HỌC BỔNG MANG TÊN GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM TS. Lê Văn Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng (Trích Bài phát biểu tại Lễ công bố Quyết định thành lập Quỹ học bổng mang tên Giáo sư Đỗ Quốc Sam, ngày 24 tháng12 năm 2010) Sau một thời gian chuẩn bị, được sự ủng hộ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp các bạn cựu học sinh sinh viên và đặc biệt là sự ủng hộ to lớn của các công ty các tổng công ty, được sự thống nhất của Đảng ủy Ban giám hiệu, hôm nay chúng ta chính thức công bố thành lập Quỹ học bổng mang tên Giáo sư Đỗ Quốc Sam. Trong buổi lễ trang trọng này, thay mặt Đảng ủy Ban giám hiệu, tôi xin gửi lời tới cô Nguyễn Phương Nhã cùng tất cả các vị quý khách lời chúc tốt đẹp nhất, chúc cô cùng các quý vị dồi dào sức khỏe, thành đạt trong công việc và trong cuộc sống. Chúc các em sinh viên học tập và phấn đấu tốt xứng đáng với niềm mong mỏi của các thầy cô giáo của các thế hệ cha anh đi trước. Giáo sư Đỗ Quốc Sam thuộc thế hệ những nhà khoa học đầu đàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Giáo sư rất gần gũi với nhiều thế hệ thầy trò cô giáo và sinh viên trường Đại học Xây dựng. Sinh ra trong một gia đình là giáo thanh bạch có truyền thống cách mạng, Ông là con trai út của cụ Đỗ Ngọc Toại, một nhà nho, dạy học ở Đình Bảng (Bắc Ninh), từng tham gia kháng chiến và giữ chức Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Ninh. Sau này, may mắn Giáo sư lại được làm con rể của cụ Nguyễn Xiển, một nhà khoa học nổi tiếng, từng đạt nhiều giải thưởng về khoa học, trong đó có giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật. Cụ từng giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội từ Khóa I đến Khóa VII. 119

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMTS Lê Văn Thành – Nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHXD tại Lễ công bố quyết định thành lập Học bổng Đỗ Quốc Sam Giáo sư Đỗ Quốc Sam nhờ sự chuyên cần học tập và rèn luyện từ thời trẻ, ông đã trở nên một trí thức tiêu biểu và một con người có nhân cách đẹp, trong sáng. Ngay từ thời niên niên thiếu Giáo sư đã tham gia các hoạt động yêu nước của học sinh: tháng 2 năm 1945 đã tham gia bãi khóa ở trường Đỗ Hữu Vị, bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà pha Hưng Yên; năm 1946 tham gia học sinh cứu quốc Trường Nguyễn Trãi, Hà Nội. Giáo sư được kết nạp vào đảng ngày 1 tháng 7 năm 1950. 120

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯGiáo sư Đỗ Quốc Sam đã liên tục 60 năm tham gia các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý nhà nước và hoạt động xã hội từ năm 1948 đến 1950 làm thầy giáo trường Trung học Phúc Yên và trường Trung học Hoàng Hữu Nam, Bắc Ninh; từ năm 1951 đến 1958 tại trường Khoa học Cơ bản và trường Đại học Đường sắt Đường Sơn Trung Quốc; từ năm 1958 đến năm 1961 Trưởng Bộ môn Khoa Công trình xây dựng trường Đại học bách khoa Hà Nội, Bí thư Chi bộ, Đảng ủy viên Đảng bộ Khoa Xây dựng. Năm 1964 Giáo sư đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ tại trường Đại học Xây dựng Matxcơva với đề tài “Một số vấn đề của mái treo cho áp dụng cho điều kiện Việt Nam”. Từ năm 1965 đến năm 1982 Giáo sư công tác tại trường Đại học Xây dựng, lần lượt giữ các vụ chức vụ Trưởng Bộ môn công trình, Trưởng Khoa xây dựng, rồi Hiệu trưởng trường Đại học Xây dựng. Trong thời gian làm Hiệu trưởng, Giáo sư đã bỏ nhiều công sức trí tuệ để triển khai chuyển trường Đại học Xây dựng từ Hương Canh, Vĩnh Phú về Hà Nội. Thầy giáo Đỗ Quốc Sam được phong hàm Giáo sư năm 1980. Ngoài công tác ở nhà trường, Giáo sư Đỗ Quốc Sam còn là Chủ tịch sáng lập Hội Kết cấu và Công nghệ xây dựng Việt Nam; đồng Chủ tịch Diễn đàn giao lưu và đối thoại Kinh tế - Tài chính Việt-Pháp; thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, thành viên Hội đồng chính sách Khoa học quốc gia. Trong thời kỳ chiến tranh Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã chủ trì và tham gia nhiều đề tài khoa học phục vụ sản xuất và chiến đấu, trong đó nổi bật là hệ kết cấu có thanh căng làm cơ sở cho nhiều kết cấu hiện đại trong lĩnh vực xây dựng cơ bản sau này. Giáo sư đã chỉ đạo nghiên cứu dàn thép có có cấu kiện tiết diện tròn dùng trong xây dựng các nhà máy dã chiến, các cơ sở sơ tán thay thế cho thép hình rất hiếm lúc đó, chỉ đạo và thực hiện các nghiên cứu về cầu dây treo, tạo ra phương án cầu hợp lý nhất phục vụ vượt sông trong chiến tranh phá hoại của Mỹ. Bên cạnh các hoạt động giảng dạy và cũng nghiên cứu khoa học, Giáo sư còn trực tiếp tham gia vào công tác quản lý Nhà nước, công tác Đảng với các cương vị quan trọng nhiều lĩnh vực. Từ tháng 10/1982 đến tháng 6/2006, Giáo sư lần lượt giữ các chức vụ quản lý Nhà nước, bao gồm: Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng Cơ bản Nhà nước, Trưởng Ban Công nghiệp Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Nhà nước các dự án đầu tư. Giáo sư đã tích cực tham gia hoạt động tại cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, liên tục là Đại biểu quốc hội từ khóa VIII, IX và khóa X. 121

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGiáo sư được Đại hội Đảng bầu là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, năm 1986, là Ủy viên Trung ương Đảng khóa VII năm 1991. Để đánh giá về Giáo sư Đỗ Quốc Sam, chúng tôi xin trích lời của những nhà tư tưởng lớn dưới đây: GS Việt Phương, nguyên Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Từ truyền thống gia đình, từ sự trải nghiệm xã hội, từ sự học tập nhân dân, từ sự tự rèn luyện. Đỗ Quốc Sam sớm trở thành một người trí thức tiêu biểu và một con người trong sáng, có nhân cách đẹp. Vượt qua những ràng buộc của cương vị công tác, những sức ép của hoàn cảnh hoạt động, Đỗ Quốc Sam luôn luôn giữ vững và ngày càng trau dồi tấm lòng yêu nước, yêu dân, phẩm chất chân thành, trung thực, đạo đức liêm khiết gương mẫu, bản lĩnh tự chủ, tự do, năng lực tìm tòi, sáng tạo, đức tính khiêm tốn, nhún nhường, phong cách nghiêm trang, cẩn trọng, làm việc chủ yếu bằng kiến thức tự có chứ không dựa dẫm, vay mượn, biết ân cần phát huy trí tuệ tập thể để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, biết chủ động trải mình trên nhiều chiều cạnh văn hoá, nhân văn của đời sống. Nét đặc biệt quý báu của người trí thức Đỗ Quốc Sam là làm thực tiễn một cách khoa học và làm khoa học một cách thực tiễn, tự trọng, đáng hoàng, an nhiên tự tại, tuân thủ chặt chẽ kỷ luật của tổ chức mà vẫn giữ được tư duy phóng khoáng để có nhiều lần nhạy cảm nắm bắt cái mới ngay từ lúc sơ khai. Nét đặc biệt quý báu của con người Đỗ Quốc Sam là tính tình rộng rãi vị tha một cách kín đáo và thiết thực trong mọi mối quan hệ với mọi lớp người, với cấp dưới, với đồng sự, với cấp trên, với bạn hữu xa gần, với người mới quen biết với người từ lâu thân thiết.” TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, viết: “ Anh Sam luôn chú ý phát huy sự đóng góp ý kiến dân chủ của anh em chuyên gia, của cán bộ. Anh Sam kiệm lời, không bao giờ nói dài, kết luận những vấn đề mấu chốt của cuộc thảo luận mà anh nhìn ra với sự sắc sảo của nhà chiến lược. Anh Sam có sức làm việc phi thường, anh tự làm việc, đọc kỹ các dự thảo, báo cáo mà cấp dưới trình lên và đóng góp những ý kiến sắc sảo của một người thầy để anh em tiếp tục hoàn thiện. Anh đến cuộc họp với sự chuẩn bị và ý kiến đã được cân nhắc kỹ. Anh đóng góp ý kiến thẳng thắn có căn cứ, có lập luận, số liệu chứng minh. Khi thảo luận có ý kiến khác nhau, anh phát biểu ý kiến rõ ràng, biểu đạt thẳng thắn lập trường của mình nhưng không bao giờ gay gắt, to tiếng. Anh luôn vì công việc và không bận tâm 122

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯvề các mối quan hệ cá nhân. Anh luôn điềm tĩnh, không bao giờ tôi thấy anh to tiếng, nổi nóng với bất kỳ ai. Anh cũng không bao giờ làm chính trị bằng cách xây dựng các mối “quan hệ”, anh không đến nhà ông nọ, bà kia để tạo sự quen biết như không ít người khác đã và đang làm. Là nhà khoa học, đọc tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tự đọc sách, tự viết bài, tự hình thành những chủ kiến của chính mình. Anh nêu gương lớn cho chúng tôi về tinh thần trách nhiệm, về tình đồng chí có nguyên tắc, có lý có tình. Anh đối xử rất thân tình, chân thành với anh em trẻ tuổi, tạo điều kiện, khuyến khích và đòi hỏi anh em nỗ lực vương lên giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội của đất nước. Anh là tấm gương sáng về đạo đực, nhân cách. Khi đi công tác, anh rất chan hòa, không bao giờ đòi hỏi đưa, đón lễ tân hình thức, không đòi hỏi đãi ngộ, chế độ, chính sách. Là người có vốn văn hóa rộng và đời sống tâm hồn phong phú, có lúc thư thả anh còn mở lòng kể truyện, đọc thơ cho chúng tôi nghe, những bài thơ toát lên tình bạn chân thành, tấm lòng suy nghĩ về quê hương, đất nước.” Phát biểu của một chuyên gia nước ngoài phụ trách dự án Việt Nam - Singapore có viết: “Được làm việc với Giáo sư là một niềm vinh hạnh cho tôi. Ông là người luôn giữ lời, cởi mở với ý kiến người khác, quyết đoán trong những quyết định khó khăn và mạo hiểm. Dù trong giao tiếp tôi không thể hiểu hết nhiều thứ tiếng Giáo sư Sam biết, chúng tôi vẫn đặc biệt tương tri, vì ông luôn luôn làm việc bằng chữ tín. Kinh nghiệm và sự thông thái của ông vượt tầm những vấn đề lời lỗ, tiểu tiết, mà vươn ra bao quát cả sự chuyển biến Việt Nam thành một nền kinh tế hiện đại. Sự ủng hộ và cam kết của ông đối với khu công nghiệp Việt Nam - Singapore giúp chúng tôi vượt qua những khó khăn thuở ban đầu của dự án nhiều tham vọng này. Việt Nam ngày nay là một quốc gia phát triển nhanh và sôi động, hội nhập hoàn toàn vào khung cảnh kinh tế thế giới. Thanh niên Việt Nam có một tương lai tươi sáng và đang hết sức làm việc cho một cuộc sống tốt đẹp hơn. Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã đóng vai trò lớn, then chốt trong việc đặt nền móng cho sự hiện đại hóa này. Tôi hy vọng người Việt Nam ở khắp nơi sẽ ghi nhớ sự đóng góp và di sản của ông.” Để đánh giá công lao của Giáo sư Đỗ Quốc Sam nhà nước đã tặng thưởng cho Giáo sư Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Lao động hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Giáo sư cũng được nước Cộng hòa Pháp tặng Huân chương Quốc công vì những đóng góp cho sự nghiệp hợp tác ngoại giao kinh tế giữa 2 nước. 123

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMNghĩ về Giáo sư Đỗ Quốc Sam, chúng ta nghĩ đến một trí thức lớn, có sự hiểu biết uyên thâm và sâu rộng nhưng cực kỳ khiêm tốn, được học trò, bạn bè và đồng nghiệp trong và ngoài nước tôn trọng. Với lòng say mê khoa học cháy bỏng, dù trên cương vị nào Giáo sư cũng tự rèn luyện, tự học tập ở mọi nơi mọi lúc. Với tài năng sẳn có và sự khiêm nhiều mẫu mực của một nhà trí thức lớn, Giáo sư là một trong những nhà khoa học đạt cái đỉnh cao của nghề nghiệp cả trong công tác giảng dạy và công tác quản lý. Hơn 20 năm làm công tác giảng dạy đại học và trên đại học với tư cách là một nhà tri thức giàu kiến thức khoa học giáo sư đã đem hết kiến thức của mình đào tạo nhiều lớp cán bộ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, là thầy của nhiều thế hệ Giáo sư và chuyên gia giỏi trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Giáo sư là người luôn quan tâm đến thế hệ sinh viên, khi còn khỏe Giáo sư có nguyện vọng sau này trao cho sinh viên một phần tiền là bạn bè thân hữu dành cho mình, Giáo sư và gia đình muốn cho phần thưởng này một cách đơn giản nhất, bình dị, hiệu quả mà không phô trương. Ý tưởng của Giáo sư và gia đình đã được các cơ quan, đoàn thể, các bạn đồng nghiệp, các thầy cô giáo, cựu sinh viên nhiệt liệt hưởng ứng và đóng góp. Chính vì vậy chúng tôi đã quyết định thành lập quỹ học bổng bổng mang tên Giáo sư để nhận những đóng góp này, đây là phần là phần khởi đầu của quỹ hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực có đức có tài cho đất nước, chúng tôi hy vọng quỹ này sẽ mãi mãi tồn tại và ngày càng phát triển. Trong buổi lễ đầy ý nghĩa này, thay mặt những người sáng lập quỹ tôi xin cảm ơn các cơ quan đoàn thể, các tổ chức cá nhân đã tới dự và chứng kiến buổi lễ long trọng này. Thay mặt các thế hệ sinh viên tôi xin cảm ơn Cô Nhã, toàn thể gia đình và họ hàng Giáo sư Đỗ Quốc Sam, cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã đóng góp ủng hộ xây dựng quỹ. Giáo sư Đỗ Quốc Sam thuộc thế hệ những nhà khoa học đầu đàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Giáo sư rất gần gũi với nhiều thế hệ thầy trò cô giáo và sinh viên trường Đại học Xây dựng. Sinh ra trong một gia đình là giáo thanh bạch có truyền thống cách mạng, Ông là con trai út của cụ Đỗ Ngọc Toại, một nhà nho, dạy học ở Đình Bảng (Bắc Ninh), từng tham gia kháng chiến và giữ chức Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Ninh. Sau này, may mắn Giáo sư lại được làm con rể của cụ Nguyễn Xiển, một nhà khoa học nổi tiếng, từng đạt nhiều giải thưởng về khoa học, trong đó có giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật. Cụ từng giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội từ Khóa I đến Khóa VII. 124

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯBà Nguyễn Phương Nhã – Phu nhân GS Đỗ Quốc Sam tại Lễ công bố Quyết định thành lập Quỹ Học bổng mang tên GS. Đỗ Quốc Sam Bà Nguyễn Phương Nhã, phu nhân GS Đỗ Quốc Sam; Hiệu trưởng Trường ĐHXDHN Lê Văn Thành chụp ảnh cùng các đại biểu tại buổi Lễ công bố Quyết định thành lập Quỹ Học bổng mang tên GS. Đỗ Quốc Sam 125

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM VỚI HẬU THẾ T.S Cao Văn Bản, Nguyên Vụ trưởng Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư Bộ KH&ĐT (Bài viết nhân dịp Trường Đại học Xây dựng công bố Quỹ Học bổng Đỗ Quốc Sam ngày 24 tháng 12 năm 2010) Nói về cố Giáo sư Đỗ Quốc Sam, người ta thường nhắc tới những đóng góp lớn lao của ông trong sự nghiệp cách mạng, trong nghiên cứu khoa học hay về công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nước trong suốt cuộc đời và trên những cương vị công tác mà ông đã kinh qua. Ở lĩnh vực nào, cương vị nào ông đều để lại những dấu ấn của một trí tuệ trác việt và một tinh thần tận tuỵ hết mình. Tôi không đủ tầm và sự hiểu biết để nói về những cống hiến của ông. Tôi có diễm phúc được là người học trò trong thời gian Giáo sư công tác tại Trường Đại học Xây dựng và sau này là người giúp việc của ông khi ông là lãnh đạo Uỷ ban Xây dựng cơ bản nhà nước và Uỷ ban Kế hoạch nhà nước nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Có thể nói từ khi còn là một sinh viên đến khi về hưu, ở các vị trí công tác khác nhau, tôi đã được sống, học tập và làm việc dưới sự lãnh đạo, dẫn dắt của Giáo sư. Sự may mắn ấy tạo điều kiện cho tôi được gần gũi Giáo sư trong một thời gian khá dài để tôi được học ở ông nhiều điều bổ ích và lý thú cho cuộc sống và công việc của mình. Hôm nay nhân dịp Trường Đại học Xây dựng tổ chức Lễ công bố Quyết định Thành lập Quỹ học bổng mang tên Đỗ Quốc Sam, cho tôi được phép nói đôi điều về những bài học ấy, cũng là cảm nghĩ của các bậc hậu thế đối với ông. TS Cao Văn Bản tại Lễ công bố quyết định thành lập Học bổng Đỗ Quốc Sam 126

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNhững ngày đầu được tiếp xúc và làm việc với Giáo sư, tôi và nhiều người đều có cảm giác ông là người uy nghiêm, khó gần. Thực ra, cái cảm giác ấy là do chúng tôi đều cảm thấy mình quá nhỏ bé về nhiều mặt khi đứng trước ông. Nhưng những cảm giác ấy nhanh chóng được khoả lấp nếu có được cơ hội sống và làm việc cùng ông. Thực tình, trong nhiều năm qua, trong công việc tôi lúc nào cũng coi Giáo sự là người thầy kính yêu, nhưng trong cuộc sống tình cảm thường ngày tôi coi Giáo sự như một người thân thiết, một bậc cha, chú, vì thế những bài học từ ông đều chứa đựng tất cả các mối quan hệ như vậy. Điều đầu tiên, tôi nhận thấy Giáo sự là người luôn chịu khó lắng nghe, học hỏi. Năm 1986 khi tôi về nhận công tác ở Uỷ ban Xây dựng cơ bản nhà nước, trong một bài báo đăng trên Tạp chí Kinh tế xây dựng cơ bản tôi có nói tới một thuật ngữ “kết cấu công nghệ vốn đầu tư”. Giáo sư khi ấy là Chủ nhiệm Uỷ ban đã đọc tạp chí ấy và chú ý đến bài viết của tôi. Một ít ngày sau đấy, tôi được ông gọi đến nơi ông làm việc và yêu cầu tôi giải thích về thuật ngữ nói trên. Về sau tôi còn chứng kiến nhiều việc như thế và tôi mới hiểu được rằng, tại sao một chuyên gia, một nhà khoa học về kết cấu xây dựng như ông lại nhanh chóng có một khối kiến thức khổng lồ về luật pháp, về quản lý nhà nước, về kinh tế cả vĩ mô và vi mô mà ngay cả những người được đào tạo chuyên ngành chưa dễ gì đạt được. Quan sát và ngẫm nghĩ tôi nhận ra rằng, Giáo sư nhìn nhận sự việc bao giờ cũng là nhìn nhận một cách đại thể (đây cũng là từ ngữ mà ông hay dùng trong các cuộc luận bàn về vấn đề gì đó). Chính cách nhìn nhận ấy mà ông luôn có tầm nhìn xa và những ý tưởng lớn, mới mẻ. Trong khi xem xét, tìm kiếm các giải pháp, giải quyết các vấn đề về quy hoạch, kế hoạch hoặc trong xây dựng chính sách quốc gia, với cách nhìn như vậy ông thường đưa ra những chủ trương, những giải pháp mang tính chiến lược. Giáo sư cũng là người có khả năng khái quát cao, bao giờ từ những hiện tượng đơn lẻ, phân tán, những ý kiến đa chiều trong hội nghị đều được ông tổng hợp, thâu tóm và đi đến kết luận một cách mạch lạc, rõ ràng. Có lẽ vì thế mà có người đã gọi ông là một “Chung gia” (generalist) hàng đầu ở Việt Nam. Theo tôi, đây là điều không mấy nhà lãnh đạo ở Việt Nam làm được. Cho đến nay, tôi biết có nhiều ý tưởng của Giáo sư đưa ra đã được thực hiện như việc xây dựng các cầu trên tuyến giao thông duyên hải đồng bằng Sông Cửu Long (quốc lộ 60) mà bắt đầu là cầu Rạch Miễu. Chính Giáo sư là người đưa ra khái niệm “cứng” và “mềm” trong các vấn đề về quy hoạch, chính sách, chỉ tiêu phát triển, v.v. để tránh sự cứng nhắc trong việc xây dựng cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Điều đó đã trở thành một nguyên tắc trong tư duy về kinh tế thị trường ngày nay. Tôi không thể kể ra hết những điều tương tự mà tôi được biết trong khuôn khổ bài viết này. 127

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMSự điềm đạm, đĩnh đạc và hóm hỉnh là những tính cách rất điển hình của Giáo sư. Trong mọi hoạt động trên chính trường, ở cơ quan hay trong cuộc sống thường nhật, ông luôn giữ một tác phong điềm đạm, bình thản. Trong suốt thời gian được ở bên cạnh và giúp việc Giáo sư tôi chưa thấy một lần ông tỏ ra vội vã, to tiếng hay nặng lời với ai, mặc dù tôi biết có những việc, những lúc ông không bằng lòng. Tôi còn nhớ, một lần tổ chức họp với các bộ, ngành do Giáo sư với tư cách là Bộ trưởng chủ trì, khi các đại biểu đã đông đủ, nhưng đại diện của cơ quan chuẩn bị và trình bày báo cáo không biết vì lý do gì không đến được. Chờ một lúc lâu, ông nhẹ nhàng xin lỗi các vị đại biểu hoãn họp và tươi cười ra khỏi phòng họp. Thật hiếm có một vị lãnh đạo cấp cao nào có cách xử sự như vậy. Có lần ông nhắc nhở sự sao chép cẩu thả của một đơn vị tư vấn lập dự án: “dự án được chuẩn bị khá kỹ nhưng trong báo cáo có vẫn còn có chỗ chưa xoá và thay thế hết địa danh của dự án cũ”. Với cách phê bình thật nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng không kém sâu sắc và cũng để lại trong tâm thức của mọi người những ấn tượng khó quên về ông. Khảo sát thực tế một số dự án Khu công nghệ cao Hòa Lạc Bài học sâu sắc đối với tôi từ Giáo sư là tính kiên định. Ông thường có những dự định trước và luôn luôn quyết tâm thực hiện các ý định đó. Nhưng cái khác ở ông là không hô hào, không thúc dục mà thực hiện một cách nhẹ nhàng nhưng rất quyết tâm. Trong mọi trường hợp khi gặp khó khăn, trở ngại, chúng tôi đã có kẻ nản lòng thì chính lúc đó 128

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯGiáo sự nhẹ nhàng động viên rất vui vẻ: “cứ đi đi (hay cứ làm đi), khắc đi, khắc đến thôi”. Tôi đã từng cùng Giáo sư đi trên những con đường gập gềnh như Mèo Vạc, Hà Giang, hay đường lên Bà Nà ở Đà Nẵng (khi chưa được xây dựng như ngày nay), nhiều cán bộ dẫn đường hay cùng đi lo ngại đề nghị quay về để bảo đảm an toàn cho lãnh đạo và cũng bằng “mệnh lệnh” như trên chúng tôi đã tới đích. Sau này, khi tôi được đề bạt làm lãnh đạo một đơn vị trong cơ quan và suốt quá trình làm việc của mình đã tránh được những sai sót có lẽ tôi đã học được tính cẩn thận của Giáo sư. Tôi cũng đã có hơn 10 năm làm giáo viên vì vậy ít nhiều cũng có kỹ năng về viết lách, và cũng có lẽ vì thế mà được Giáo sư chấp nhận làm người giúp việc. Thế nhưng trong mỗi văn bản hay một báo cáo trình lên ông đều đọc không sót một chữ và sửa từng lỗi nhỏ hoặc góp ý cách dùng từng từ, từng ngữ cho chuẩn xác. Làm bất cứa việc gì Giáo sư đều yêu cầu báo cáo cụ thể từng chi tiết. Tôi còn nhớ những lần đi khảo sát đường Hồ Chí Minh, Thủy điện Sơn La hay đi đâu, Giáo sư đề yêu cầu tôi kiếm bằng được tập bản đồ địa hình, hệ thống giao thông, sau đó thầy trò đã bỏ ra cả buổi để xác định hành trình, điểm ăn, điểm nghỉ, tính toán thời gian đi về hết sức chi tiết. Chính vì thế mà các chuyến đi không bao giờ bị vỡ kế hoạch hoặc phát sinh những vấn đề ngoài dự kiến. Học tập tính cẩn thận của Giáo sư, tôi đã làm như thế trong suốt quá trình thực hiện chức phận của mình là tổ chức thẩm định và giám sát dự án đầu tư, tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo đảm chất lượng công việc và tránh được nhiều sai sót. Đoàn công tác khảo sát thực tế Dự án cải tạo, mở rộng tuyến đường Bắc Thăng Long – Nội Bài 129

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMTôi thực sự thán phục và học được khá nhiều về tác phong trong công tác của Giáo sư. Nếu kể từ năm 1994 đến năm 2007, là quãng thời gian tôi được trực tiếp giúp việc Giáo sư, tôi chưa một lần thấy ông đến cơ quan hay tham dự các cuộc họp chậm muộn, dù chỉ một phút. Các cuộc làm việc bao giờ cũng khớp với thời gian dự kiến, ông luôn chủ động về mặt thời gian, mọi cuộc họp do ông chủ trì không bao giờ quá thời gian dự định. Chính tác phong ấy mà mọi người tham gia làm việc cùng ông bao giờ cũng thấy thoải mái. Một điều khá lý thú nữa, Giáo sư rất quan tâm và say mê với việc sử dụng các phương tiện, thiết bị tin học và công cụ làm việc hiện đại. Khi ông là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và là Chủ tịch Hội đồng thẩm định nhà nước về các dự án đầu tư, tôi quan sát thấy ông là người duy nhất trong hàng ngũ lãnh đạo cơ quan sử dụng máy vi tính hàng ngày. Và sau này khi nghỉ hưu, mỗi lần đến thăm ông tôi đều thấy ông đọc, viết, nghe nhạc, xem phim trên máy tính. Những câu chuyện về con người và hoạt động của cố Giáo sư Đỗ Quốc Sam, tôi không thể kể hết trong bài viết này, đối với tôi, mỗi một suy nghĩ và việc làm của Giáo sư tôi đều nhìn thấy nhiều điều để mà học hỏi. Tôi đã đi hơn nửa đời người, nhưng được sống và làm việc với Giáo sư, tôi vẫn thấy nhiều điều mình chưa làm được và cố gắng để học theo ông. 130

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯDịp này cũng là cuối năm, ngồi viết lại những dòng này tôi lại nhớ đến những kỷ niệm và sự ân cần của Giáo sư dành cho chúng tôi mỗi khi năm mới đến. Gần như năm nào cũng vậy, vào những ngày giáp Tết ông thường mời tôi và một số anh em lái xe, lễ tân, phục vụ đến nhà ăn cơm thân mật với mọi người trong gia đình. Những dịp như thế, tôi cảm nhận được vẻ bình dị, chất phác của ông trong cử chỉ và những câu chuyện với anh em chúng tôi, gần như không có khoảng cách nào của người thủ trưởng cơ quan với anh em phục vụ mà thay vào đó là sự đầm ấm, thân thiết của tình cảm gia đình. Thế là năm nay chúng tôi không còn được hưởng những giây phút như thế của ông dành cho chúng tôi. Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã ra đi, nhưng hình ảnh, nhân cách, tư tưởng, tình cảm và sự ứng xử trong cuộc sống đời thường của ông để lại trong chúng tôi thế hệ kế tiếp của ông, những dấu ấn mãi mãi không phai nhạt, là tấm gương sáng về đạo đức, tác phong, là những bài học quý giá cho mỗi chúng tôi trong sự nghiệp và trên đường đời. Quỹ Học bổng mang tên Giáo sư được thành lập sẽ là nguồn động viên to lớn cho nhiều thanh niên, sinh viên thế hệ mai sau. Những sinh viên được nhận học bổng này thật là vinh dự và tôi mong rằng các bạn hãy cố gắng học tập, rèn luyện cho sứng đáng với gương sáng và tấm lòng cao cả của Giáo sư đã để lại cho thế hệ chúng ta. 131

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMHỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM - MẠCH NGẦM DI SẢN VÀ KHÁT VỌNG CỦA NHỮNG THẾ HỆ "KẾ THỪA" Bùi Quốc Huy, Cựu SV khóa 62, Giảng viên Khoa Xây dựng DD&CN Trường Đại học Xây dựng Hà Nội Có những phần thưởng không chỉ dừng lại ở giá trị vật chất, mà trở thành kim chỉ nam cho cả một sự nghiệp. Với tôi, Học bổng Đỗ Quốc Sam chính là dấu ấn định mệnh ấy. Từ tấm bằng khen năm thứ hai đại học đến vị trí giảng viên hôm nay là một hành trình dài của sự biết ơn và trách nhiệm – trách nhiệm của một người được truyền lửa, nay trở thành người giữ lửa dưới mái trường Đại học Xây dựng Hà Nội.) Trong không khí trang trọng của những ngày hướng tới kỷ niệm 70 năm đào tạo và 60 năm thành lập Trường, mỗi góc sân, mỗi hành lang của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội dường như đều đang kể lại những câu chuyện về sự tiếp nối. Với riêng tôi, câu chuyện ấy bắt đầu từ một buổi lễ trao học bổng vào năm 2019 – nơi tôi lần đầu tiên được nhận phần thưởng mang tên người hiệu trưởng đầu tiên của mái trường này: Cố Giáo sư, TSKH Đỗ Quốc Sam 1. Phía sau một cái tên: Di sản của người Thầy đặt nền móng Năm 2019, khi còn là cậu sinh viên năm thứ hai đầy bỡ ngỡ và loay hoay tìm hướng đi cho tương lai, tôi vinh dự là một trong những sinh viên được xướng tên trong buổi lễ trao học bổng Đỗ Quốc Sam. Lúc bấy giờ, tấm bằng khen và phần thưởng ấy không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất, mà nó là sự công nhận đầu đời vô cùng quý giá. Quỹ học bổng mang tên cố Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Đỗ Quốc Sam không chỉ là một danh mục khen thưởng thường niên. Được thành lập từ tâm nguyện của gia đình Thầy và sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài trường, Quỹ là sự kéo dài hơi ấm của một trí tuệ lớn. Thầy Đỗ Quốc Sam – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng 132

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯBộ Kế hoạch và Đầu tư – chính là người Hiệu trưởng đầu tiên đã đặt những viên gạch nền móng cho hình hài và tầm vóc của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ngày nay. Nhìn vào di nguyện và cuộc đời của Thầy Đỗ Quốc Sam – một người thầy lớn, một nhà khoa học tận tâm, một vị Bộ trưởng liêm khiết – tôi hiểu rằng học bổng này không chỉ dành cho người học giỏi, mà dành cho những ai có ý chí bền bỉ với sự nghiệp "Xây đời". PGS.TS Phạm Duy Hòa – Nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHXDHN và bà Nguyễn Phương Nhã – Phu nhân cố PSG.TS Đỗ Quốc Sam trao học bổng Đỗ Quốc Sam cho 23 sinh viên đạt thành tích tốt trong học tập (năm 2019) 2. Điểm tựa bồi đắp bản lĩnh và khát vọng chinh phục Ở độ tuổi đôi mươi với những bước đi đầu tiên trên hành trình học tập và lập nghiệp, phần thưởng này không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ điều kiện học tập, mà quan trọng hơn, đó là sự ghi nhận kịp thời của nhà trường. Chính giá trị nhân văn từ học bổng đã trở thành nền tảng quan trọng, tạo đà cho một lộ trình phát triển toàn diện trong những năm tháng tiếp theo. Sự tin tưởng được trao gửi từ Quỹ học bổng đã thôi thúc tôi không ngừng hoàn thiện bản thân. Thành quả là sự tiếp nối của những dấu mốc quan trọng: Từ việc liên tiếp đạt học bổng khuyến khích các học kỳ, đến việc dồn hết tâm huyết cho đồ án tốt nghiệp 133

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMđể đạt Giải thưởng Loa Thành danh giá, và cuối cùng là vinh dự trở thành Thủ khoa đầu ra của trường. Nhìn lại hành trình ấy, tôi nhận ra những thành tích này không chỉ là dấu ấn cá nhân, mà là minh chứng cho sự chuyển hóa từ niềm tin của thế hệ đi trước thành năng lực thực thụ của thế hệ đi sau. Chính sự trưởng thành này đã khơi dậy trong tôi một tâm nguyện mới: Phải trở thành một phần của mạch nguồn tri thức ấy. 3. Từ người tiếp nhận giá trị đến sứ mệnh gieo mầm dưới mái trường Xây dựng Sự chuyển mình từ một sinh viên nhận học bổng năm nào sang vai trò giảng viên đứng trên bục giảng là một hành trình mang tính tiếp nối thiêng liêng. Đứng trước các em sinh viên dưới mái trường Đại học Xây dựng Hà Nội hôm nay, tôi hiểu rằng mình không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên môn, mà còn đang tiếp nối tâm nguyện "trọng đức, luyện tài" mà cố Giáo sư Đỗ Quốc Sam đã gửi gắm. Học bổng năm xưa đã làm được một điều kỳ diệu: Biến thế hệ được trao gửi niềm tin trở thành những người lan tỏa tri thức. Khi nhìn các em sinh viên của mình nâng niu tấm bằng khen học bổng, tôi thấy lại ngọn lửa mà tôi đã nhận được từ năm 2019. Đó là một mạch ngầm di sản, chảy trôi không ngừng qua các thế hệ, bồi đắp nên bản sắc riêng biệt của con người Đại học Xây dựng: Kiên cường trong thực tế nhưng luôn đầy ắp lý tưởng. Lời kết Kỷ niệm 60 năm thành lập Trường, xin được tri ân sâu sắc đến Cố Giáo sư Đỗ Quốc Sam và gia đình Thầy. Cảm ơn mái trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã cho tôi cơ hội được học tập, rèn luyện và giờ đây là cống hiến. Học bổng Đỗ Quốc Sam mãi mãi là dấu ấn rực rỡ nhất trong tuổi trẻ của tôi, là động lực để tôi vững bước trên con đường giáo dục hôm nay. 134

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯMỘT SỐ HÌNH ẢNH, BÚT TÍCH VÀ KỶ VẬT VỀ GIÁO SỰ ĐỖ QUỐC SAM HÌNH ẢNH GIÁO SƯ THAM GIA KHẢO SÁT CÁC DỰ ÁN QUAN TRỌNG QUỐC GIA GS Đỗ Quốc Sam khảo sát thực tế Dự án Đường Hồ Chí Minh 135

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGS Đỗ Quốc Sam khảo sát thực tế Dự án Đường Hồ Chí Minh Khảo sát thực tế Dự án Khu công nghệ cao Hòa Lạc 136

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯKhảo sát thực tế Dự án Khu công nghệ cao Hòa Lạc Đoàn khảo sát thực tế Dự án Nhà máy Xi măng Hoàng Mai, Nghệ An 137

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMGS Đỗ Quốc Sam khảo sát thực tế Cơ sở hạ tầng Khu Móng Cái, Quảng Ninh 138

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯMỘT SỐ BÚT TÍCH VÀ KỶ VẬT VỀ GS. ĐỖ QUỐC SAM Xa lộ Bắc Nam (Dự án TKT về Đường Hồ Chí Minh) (Bài viết trong chuyến đi khảo sát Đường Hồ Chí Minh) 139

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMVịnh Dung Quất (Bài viết trong chuyến đi khảo sát Dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất ) 140

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ141

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM142

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ143

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM144

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ145

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM146

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ147

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM148

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ149

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM150

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ151

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM152

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ153

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM154

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ155

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM156

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ157

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM158

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ159

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM160

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ161

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM162

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ163

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAM164

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ165

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMPHỤ LỤC DANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM DANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2011 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 14452 Lê Thái Hoà 52XD1 3.84 Xây dựng DD&CN 2. 58654 Lê Anh Quân 54XF 3.69 3. 764554 Vũ Văn Thương 54XD6 3.62 4. 939055 Nguyễn Duy Kỳ 55XD7 3.55 5. 345753 Ngô Đắc Thương 53XF 3.52 6. 146854 Hoàng Hữu Thành 54XD4 3.52 7. 2002854 Chu Ngọc Huyền 54KDCLC 3.64 Kiến trúc và quy hoạch 8. 2089854 Ngô Đức 54KDCLC 3.58 9. 2028152 Ngô Hoàng Ngọc Dũng 52KD1 3.56 10. 2016555 Phạm Nam Thanh 55KD2 3.42 11. 97252 Vũ Thị Thanh Hương 52KT2 3.87 Kinh tế và quản lý XD 12. 945453 Đinh Ánh Nguyệt 53KT6 3.8 13. 69152 Nguyễn Thị Thu Hường 52KT3 3.63 14. 26153 Lê Hoài Nam 53KT1 3.59 15. 270754 Tống Thị Nguyệt 54KT1 3.59 16. 486553 Nguyễn Đức Phúc 53CĐ4 3.54 Cầu đường17. 45553 Đỗ Từ Nhật Minh 53CĐ1 3.51 18. 1036454 Nguyễn Đình Hiếu 54CĐ5 3.3 19. 19054 Lê Hồng Ngọc 54CLC1 3.64 Ban KS Chất lượng cao 20. 1192955 Hoàng Minh Tuấn 55CLC2 3.37 21. 16252 Nguyễn Đình Anh 52PM1 3.49 Công nghệ thông tin 22. 259652 Nguyễn Thị Thanh Nhã 52PM2 3.45 23. 661752 Đặng Thị Thu Dương 52MN2 3.58 Viện KHKT Môi trường 24. 107752 Vũ Đức Cảnh 52MN3 3.58 25. 615852 Bùi Anh Thắng 52TL2 3.54 Công trình thuỷ 26. 615652 Vũ Tá Tùng 52TL1 3.43 27. 743753 Nguyễn Mạnh Hùng 53CB2 3.48 Viện công trình biển 28. 122453 Nguyễn Văn Vương 53CB2 3.33 29. 782954 Phạm Văn Tiến 54KG2 3.26 Cơ khí Xây dựng 30. 61252 Nguyễn Huy Quyết 52KM1 3.22 31. 576453 Bùi Thị Nguyệt 53VL1 3.21 Vật liệu xây dựng 166

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2012 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 807453 Phạm Nguyên Phúc 53XD3 3.89 Xây dựng DD&CN2. 440856 Đào Duy Linh 56XF 3.69 3. 765154 Phạm Xuân Hưng 54XD10 3.57 4. 2145955 Tô Quang Cầm 55KDCLC 3.43 Kiến trúc và quy hoạch 5. 627354 Lại Thị Kiều Anh 54KT5 3.86 Kinh tế và quản lý XD 6. 7154 Bùi Thị Yến 54KT5 3.78 7. 445455 Nguyễn Thị Thuỷ 55QD2 3.74 8. 486553 Nguyễn Đức Phúc 53CĐ4 3.71 Cầu đường 9. 1405855 Đặng Văn Tao 55CĐ7 3.68 10. 19054 Lê Hồng Ngọc 54CLC1 3.65 Ban KS Chất lượng cao 11. 913354 Phạm Hoàng Hải 54PM1 3.27 Công nghệ thông tin 12. 324255 Nguyễn Tiến Hưng 55MN1 3.51 Viện KHKT Môi trường 13. 996653 Lê Viết Linh 53CG2 3.58 Công trình thuỷ 14. 1147754 Ngô Công Hùng 54CB2 3.45 Viện Công trình biển 15. 782954 Phạm Văn Tiến 54KG2 3.47 Cơ khí Xây dựng 16. 420854 Cao Thị Hương 54VL5 3.55 Vật liệu Xây dựng 167

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2013 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 272555 Phạm Trung Hiếu 55XE 3.87 Xây dựng DD&CN 2. 932155 Lưu Văn Thực 55XD9 3.83 3. 765154 Phạm Xuân Hưng 54XD10 3.77 4. 805855 Trần Đức Thắng 55XF 3.76 5. 2003056 Nguyễn Quốc Anh 56KDE 3.67 Kiến trúc và quy hoạch6. 2003156 Đinh Tuấn Hải 56KDF 3.63 7. 445455 Nguyễn Thị Thuỷ 55QD2 3.87 Kinh tế và quản lý XD 8. 627354 Lê Thị Kiều Anh 54KT5 3.79 9. 181856 Trần Thị Hải Yến 56KT6 3.79 10. 337154 Phạm Thuý An 54KT6 3.79 11. 1505155 Bùi Huy Tăng 55CD3 3.80 Cầu đường 12. 862555 Trần Nhật Đức 55CD7 3.72 13. 1192955 Hoàng Minh Tuấn 55CLC2 3.63 Ban KS Chất lượng cao14. 19054 Lê Hồng Ngọc 54KSĐT 3.62 15. 246756 Trần Thị Thuý 56TH1 3.30 Công nghệ thông tin 16. 795654 Đinh Việt Cường 54MN1 3.73 Viện KHKT Môi trường17. 32356 Trần Đức Minh Hải 56MN2 3.70 18. 900355 Nguyễn Thị Oanh 55CG1 3.62 Công trình thuỷ 19. 269555 Trần Bách Hải Cường 55CB1 3.38 Viện Công trình biển 20. 854954 Nguyễn Ngọc Hùng 54KG2 3.56 Cơ khí Xây dựng 21. 1548755 Nguyễn Thị Yến 55VL1 3.40 Vật liệu Xây dựng 168

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2014 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 272555 Phạm Trung Hiếu 55XE 3.93 Xây dựng DD&CN 2. 1003056 Trần Xuân Đức 56XD8 3.85 3. 53756 Phạm Việt Hoàn 56XE 3.84 4. 453256 Phạm Như Hiệp 56XF 3.83 5. 184055 Phùng Duy Hảo 55KT4 3.90 Kinh tế và quản lý XD 6. 983455 Nguyễn Thị Hoà 55KT4 3.83 7. 552056 Ngô Văn Yên 56QD2 3.79 8. 368855 Nguyễn Quốc Tuấn 55MN1 3.89 KT Môi trường9. 611356 Ngô Thị Hương 56DT 3.87 10. 32356 Trần Đức Minh Hải 56MN2 3.81 11. 1505155 Bùi Huy Tăng 55CĐ3 3.88 Cầu đường12. 1405855 Đặng Văn Tao 55CĐ7 3.76 13. 862555 Trần Nhật Đức 55CĐ7 3.72 14. 2172855 Nguyễn Văn An 55QH1 3.80 Kiến trúc và quy hoạch15. 2042357 Nguyễn Bình Minh 57KDE 3.78 16. 1326455 Mai Xuân Hoàng 55TH1 3.64 Công nghệ thông tin 17. 860556 Lê Thị Dung 56KM2 3.76 Cơ khí Xây dựng 18. 140656 Nguyễn Thị Mai 56VL2 3.52 Vật liệu Xây dựng 19. 65556 Nguyễn Duy Hiếu 56CG1 3.69 Công trình thuỷ 20. 1243455 Vũ Đức Chung 55KSCT 3.63 Ban ĐTKS Chất lượng cao 21. 269555 Trần Bách Hải Cường 55CB1 3.59 XD Công trình biển 169

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2015 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 7756 Đinh Đăng Bách 56KT2 3.98 Kinh tế & quản lý XD 2. 564956 Nguyễn Văn Cần 56MN1 3.67 KT Môi trường 3. 993556 Hồ Thị Linh 56KT6 3.95 Kinh tế & quản lý XD4. 137056 Nguyễn Văn Tâm 56KT2 3.90 5. 1065757 Trần Xuân Hoà 57XF 3.93 Xây dựng DD&CN 6. 408158 Vũ Văn Bắc 58XF 3.81 7. 12958 Vũ Anh Tuấn 58XF 3.75 8. 467958 Lê Thị Linh 58XE2 3.68 9. 173757 Lưu Minh Đức 57TRD 3.86 Cầu đường 10. 326057 Tạ Văn Hoàng 57TRD 3.53 11. 1007656 Phan Văn Quỳnh 56VL2 3.35 Vật liệu xây dựng 12. 435857 Nguyễn Văn Tráng 57KG 3.75 Cơ khí XD 13. 608557 Nguyễn Huy Hiệu 57TL2 3.60 Công trình thuỷ 14. 2210658 Nguyễn Hà Hoài Ly 58KDF 3.53 Kiến trúc và quy hoạch 15. 513957 Cao Văn Hoạt 57CB2 3.58 XD Công trình biển & Dầu khí 16. 246756 Trần Thị Thuý 56TH1 3.84 Công nghệ thông tin 17. 564658 Vũ Mạnh Trung Hiếu 58CLC1 3.57 Ban ĐTKS Chất lượng cao 170

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2016 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 737357 Đào Nguyên Ngọc 57KT5 4.0 Kinh tế & quản lý XD 2. 470957 Ngô Thị Nhung 57KT5 3.90 3. 357957 Nguyễn Thị Linh 57KT3 3.78 4. 43459 Nguyễn Trung Hiếu 59XF 3.95 Xây dựng DD&CN 5. 27059 Trần Anh Dũng 59XF 3.92 6. 29259 Lương Tuấn Anh 59XF 3.90 7. 384359 Mai Thị Thuỳ 59XF 3.81 8. 173757 Lưu Minh Đưc 57TRD 3.82 Cầu đường 9. 521157 Nguyễn Văn Thuật 57CDE 3.77 10. 564658 Vũ Mạnh Trung Hiếu 58CLC1 3.85 ĐTKS Chất lượng cao 11. 1544357 Nguyễn Văn Toàn 57PM1 3.81 Công nghệ thông tin 12. 608557 Nguyễn Huy Hiệu 57TL2 3.74 XD Công trình thuỷ 13. 50957 Phạm Huy Hoàng 57MNE 3.70 Kỹ thuật Môi trường 14. 435857 Nguyễn Văn Tráng 57KG1 3.69 Cơ khí xây dựng 15. 2095359 Lê Thế Việt Hoàng 59KDE 3.69 Kiến trúc và Quy hoạch 16. 119959 Mạc Thị Nga 59VL1 3.49 Vật liệu Xây dựng 17. 513957 Cao Văn Hoạt 57CB2 3.36 XD Công trình biển 171

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2017 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 179660 Vũ Thị Hồng Nhung 60CDE 3.87 Cầu đường 2. 317758 Phạm Quang Vũ 58CD3 3.74 3. 27059 Trần Anh Dũng 59XF 3.85 Xây dựng DD&CN 4. 384359 Mai Thị Thuỳ 59XF 3.79 5. 533459 Lê Tuấn Dũng 59XF 3.78 6. 39359 Vũ Sơn 59XE2 3.75 7. 69360 Nguyễn Dương Hải 60XE1 3.72 8. 3181358 Đào Thị Huệ 58KT3 3.77 Kinh tế & quản lý XD 9. 515658 Hoàng Thị Thuỳ 58KT1 3.71 10. 26159 Phạm Phương Anh 59KT6 3.62 11. 3301858 Nguyễn Thị Mi Li 58KSDT 3.49 ĐTKS Chất lượng cao 12. 3608559 Phan Thị An 59MN1 3.76 Kỹ thuật Môi trường 13. 110359 Vũ Khánh Chi 59PM1 3.83 Công nghệ thông tin 14. 1554558 Lương Văn Sáng 58PM1 3.76 15. 3187358 Trần Đức Vinh 58TL2 3.67 XD Công trình thuỷ 16. 3043258 Nguyễn Tuấn Anh 58TL2 3.86 17. 58658 Phùng Công Dũng 58KM1 3.57 Cơ khí XD 18. 119959 Mạc Thị Nga 59VL1 3.65 Vật liệu XD 19. 478359 Trần Văn Thọ 59CB1 3.58 XD Công trình biển & Dầu khí 20. 2029260 Nguyễn Hải Ninh 60KDE 3.84 Kiến trúc & Quy hoạch 21. 2007159 Nguyễn Hoàng Nam 59KDNT 3.77 22. 2044260 Hoàng Anh 60KDE 3.73 23. 2095359 Lê Thế Việt Hoàng 59KDE 3.72 172

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2018 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 478359 Trần Văn Thọ 59CB1 4.00 Công trình biển2. 593759 Phan Thị Vân 59CB1 3.83 3. 606159 Trịnh Ngọc Thành 59CB1 3.76 4. 141960 Hà Xuân Nam 60MN2 3.51 Kỹ thuật Môi trường 5. 3636659 Ứng Thị Linh Chi 59MNE 3.56 6. 98760 Nguyễn Văn Hà 60XE1 3.79 Xây dựng DD&CN7. 82261 Đặng Văn Hiếu 61XD1 3.70 8. 75861 Phạm Thuý Hằng 61XD6 3.70 9. 293059 Nguyễn Phi Anh 59KM1 3.49 Cơ khí XD 10. 149860 Nguyễn Trọng Tiến 60VL2 3.51 Vật liệu XD 11. 1568259 Mai Thị Ánh Hồng 59PM2 3.83 Công nghệ thông tin 12. 110359 Vũ Thị Khánh Chi 59PM1 3.81 13. 1547361 Vũ Trung Kiên 61CLC2 3.69 Chất lượng cao 14. 61060 Lê Hải Yến 60KT1 3.93 Kinh tế & quản lý XD 15. 226459 Nguyễn Việt Hùng 59KT5 3.91 16. 76361 Nguyễn Mỹ Hạnh 61KT1 3.83 17. 179660 Vũ Thị Hồng Nhung 60CDE 3.88 Cầu đường18. 1547760 Lê Hoàng Khang 60CDE 3.57 19. 329659 Trịnh Hoài Đức 59CDE 3.50 20. 2095359 Lê Thế Việt Hoàng 59KDE 379 Kiến trúc & Quy hoạch 21. 2004162 Nguyễn Ngọc Châu 62KDF 3.77 22. 2023262 Vũ Thành Luân 62KDF 3.77 23. 3000460 Heng Sentha 62TL2 3.34 Công trình thuỷ 173

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2019 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 61060 Lê Hải Yến 60KT1 3.90 Kinh tế & quản lý XD 2. 1512460 Mai Thị Mỹ Duyên 60KTE 3.81 3. 234361 Đinh Thị Trang 61KT3 3.80 4. 1523761 Nguyễn Thị Len 61KT3 3.79 5. 1532761 Bùi Lan Phương 61CB2 3.52 Công trình biển 6. 141960 Hà Xuân Nam 60MN2 3.78 Kỹ thuật môi trường 7. 168761 Nguyễn Thị Nhài 61MNE 3.74 8. 99662 Bùi Quốc Huy 62XD2 3.87 Xây dựng DD&CN 9. 75891 Phạm Thuý Hằng 61XD6 3.79 10. 193162 Lường Mạnh Thiên 62XD5 3.82 11. 154260 Trần Phương Nam 60XD2 3.79 12. 1561 Trần Thị Hoà An 61KM1 3.31 Cơ khí XD 13. 149860 Nguyễn Trọng Tiến 60VL2 3.36 Vật liệu XD 14. 1529260 Nguyễn Thanh Luật 60PM1 3.81 Công nghệ thông tin 15. 1509860 Lê Thị Thu Ngà 60TH2 3.74 16. 1547361 Vũ Trung Kiên 61CLC2 3.88 Chất lượng cao 17. 1530860 Nguyễn Đăng Việt Anh 60CD2 3.71 Cầu đường18. 179660 Vũ Thị Hồng Nhung 60CDE 3.85 19. 101661 Trần Thị Huệ 61TRD 3.70 20. 2002161 Mai Ngọc Ánh 61KDNT 3.86 Kiến trúc & Quy hoạch21. 2010063 Trịnh Thuý Hiền 63KDE 3.79 22. 2010661 Nguyễn Trí Trường Giang 61KDNT 3.70 23. 15060 Nguyễn Thị Phương Anh 60TL2 3.74 Công trình thuỷ 174

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2020 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 203861 Nguyễn Thị Tấm 61VL1 3.93 Vật liệu XD 2. 138861 Nguyễn Khánh Linh 6TL2 3.63 Công trình thuỷ 3. 95463 Phạm Thị Thanh Hương 63XD8 3.90 Xây dựng DD&CN 4. 61763 Trần Quang Hải 63XD8 3.88 5. 1527963 Hoàng Xuân Thiên Long 63XE4 3.87 6. 4000364 Nguyễn Trung Kiên 64XF 3.86 7. 1540863 Nguyễn Hữu Thắng 63XF1 3.85 8. 1523761 Nguyễn Thị Len 61KT3 3.89 Kinh tế & quản lý XD 9. 7761 Nguyễn Thị Quỳnh Anh 61KT5 3.85 10. 117861 Nguyễn Thị Thu Huyền 61KT6 3.85 11. 1515061 Vũ Thị Thanh Hằng 61KTE 3.84 12. 1520362 Nguyễn Tất Kiên 62CLC1 3.69 ĐTKS Chất lượng cao 13. 163861 Nguyễn Kim Ngân 61CDE 3.78 Cầu đường 14. 2002164 Ứng Ngọc Anh 64KDF 3.80 Kiến trúc và Quy hoạch 15. 2003561 Trương Nhật Minh Châu 61KDE 3.69 16. 2207761 Trần Duy Tân 63KDE 3.69 17. 1532761 Bùi Lan Phương 61CB2 3.53 XD Công trình biển 18. 1561 Trần Thị Hoà An 61KM1 3.59 Cơ khí XD 19. 168761 Nguyễn Thị Nhài 61MNE 3.87 KT Môi trường 20. 1653764 Nguyễn Linh Hoa 64MTC 3.84 21. 106161 Hoàng Phi Hùng 61PM2 3.88 Công nghệ thông tin22. 191561 Phạm Minh Sang 61PM2 3.79 23. 1520762 Vũ Cao Kỳ 62PM1 3.79 175

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2022 STT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 13263 Bùi Quốc Bảo 63CDE 3.98 Cầu đường 2. 81363 Lê Việt Hoàng 63CDE 3.77 3. 24763 Nguyễn Mạnh Cường 63XE1 3.95 Xây dựng DD&CN 4. 89165 Phạm Trung Hưng 65XE2 3.84 5. 181465 Nguyễn Chí Thắng 65XE1 3.74 6. 138663 Trần Quốc Mạnh 63XD1 3.69 7. 197765 Lục Đức Tiến 65XE1 3.64 8. 74563 Phùng Đức Hiếu 63VL 3.63 Vật liệu XD 9. 1536163 Lê Hà Phương 63MNE 3.86 Kỹ thuật Môi trường 10. 1564465 Nguyễn Văn Quốc 65MNEC 3.76 11. 6000264 Nguyễn Xuân Học 64HKC1 3.74 12. 154664 Bùi Đức Phương 64MEC 3.67 Kỹ thuật Cơ khí 13. 193465 Lê Anh Thư 65KT4 3.82 Kinh tế & quản lý XD 14. 117463 Nguyễn Thị Liệu 63KT1 3.79 15. 39364 Phạm Thị Thuỳ Dương 64KTE 3.77 16. 65663 Trần Thị Hậu 63KT4 3.76 17. 4002466 Nguyễn Minh Hiền 66KDEC 4.00 Kiến trúc và Quy hoạch 18. 2001466 Phạm Hoàng Anh 66KDF 3.84 19. 4000266 Nguyễn Hoàng An 66KDEC 3.83 20. 2002164 Ứng Ngọc Anh 64KDF 3.76 21. 216366 Lương Đức Khiêm 66CSQT 3.67 Đào tạo Quốc tế 22. 1532463 Phùng Ngọc Hà My 63KSCT 3.55 ĐTKS Chất lượng cao 23. 67363 Đỗ Xuân Hiệp 63TL 3.73 Công trình thuỷ 24. 167464 Dương Công Sơn 64CS3 3.91 Công nghệ thông tin 25. 173463 Nguyễn Xuân Quyền 63IT2 3.89 26. 75663 Vũ Trung Hiếu 63IT2 3.88 27. 208764 Hoàng Thị Thanh Tú 64CS3 3.81 176

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2023 TT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 167464 Dương Công Sơn 64CS3 4.00 Công nghệ thông tin 2. 1553564 Nguyễn Trần Lê Tuấn 64CS3 4.00 3. 208764 Hoàng Thị Thanh Tú 64CS3 3.93 4. 10264 Nguyễn Thị Lan Anh 64CS1 3.87 5. 59964 Trịnh Minh Đức 64PM2 3.84 6. 0047566 Nguyễn Tấn Phong 66XF 3.85 Xây dựng DD&CN 7. 228664 Trần Thị Hải Yến 64XD3 3.79 8. 181465 Nguyễn Chí Thắng 65XE1 3.73 9. 39364 Phạm Thị Thuỳ Dương 64KTE 3.87 Kinh tế & Quản lý XD 10. 193465 Lê Anh Thư 65KT4 3.86 11. 1538564 Đào Khôi Nguyên 64KT5 3.84 12. 83664 Trần Thị Thu Hoài 64KTE 3.82 13. 0282166 Nguyễn Khánh Ly 66CLC2 3.64 Ban ĐTKS Chất lượng cao 14. 0190867 Nguyễn Đức Duy 67CSQT 3.95 Đào tạo Quốc tế 15. 2004967 Nguyễn Quang Anh 67KDEC1 3.85 Kiến trúc và Quy hoạch 16. 2008466 Trần Thanh Hằng 66KDFC 3.83 17. 2020067 Phạm Thị Mai 67KDNT C1 3.83 18. 2010265 Bùi Thị Hoài 65KDNC 3.80 19. 154664 Bùi Đức Phương 64MEC 3.84 Cơ khí 20. 73064 Lê Đức Hiệp 64MEC 3.67 21. 147364 Bùi Trung Nguyên 64VL 3.66 Vật liệu XD 22. 220464 Phạm Ngọc Tuyên 64CDE 3.94 Cầu đường 23. 6000164 Đặng Tuấn Anh 64HKC1 3.81 Kỹ thuật Môi trường 24. 0331566 Thẩm Gia Linh 66LGT2 3.88 Công trình thuỷ 25. 0329166 Vũ Thị Hoài 66LGT2 3.82 177

Hồi ký NHỮNG KỶ NIỆM VỀ GIÁO SƯ ĐỖ QUỐC SAMDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2024 TT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 047566 Nguyễn Tấn Phong 66XF 3.91 Xây dựng DD&CN 2. 0331566 Thẩm Gia Linh 66LGT2 3.91 Công trình thuỷ 3. 0206466 Trần Phúc Tiến 66CNPM 3.88 Công nghệ thông tin 4. 0185266 Phạm Hoàng Dương 66CNPM 3.86 5. 2004068 Nguyễn Cẩm Châu 68KDEC2 3.84 Kiến trúc và Quy hoạch 6. 0070668 Hà Minh Đức 68XE1 3.82 Xây dựng DD&CN 7. 0344866 Hoàng Thị Thuỳ 66CDQ 3.77 Cầu đường 8. 0299666 Ngô Thị Thanh Tươi 66KT5 3.76 Kinh tế & Quản lý XD 9. 0273067 Chu Hoàng Quân 67CLC2 3.72 Ban QL&ĐT Chất lượng cao 10. 0353366 Nguyễn Phương Quý 66MN2 3.71 Kỹ thuật Môi trường 11. 0243966 Bùi Xuân Thành 66MEC1 3.54 Cơ khí 12. 0371766 Nguyễn Thị Nga 66MSE1 3.54 Vật liệu XD 13. 0294668 Phùng Đức Mạnh 68CSQT 3.52 Đào tạo Quốc tế 178

Hồi kýNGUYÊN HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI NGUYÊN BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯDANH SÁCH SINH VIÊN NHẬN HỌC BỔNG ĐỖ QUỐC SAM NĂM 2025 TT MSSV Họ và tên Lớp Điểm TB Khoa quản lý (thang 4) 1. 2026368 Lưu Đức Thành 68KDEC2 4.00 Kiến trúc và Quy hoạch 2. 0191666 Vũ Đức Hùng 66PM 3.94 Công nghệ thông tin 3. 2004068 Nguyễn Cẩm Châu 68KDEC2 3.93 Kiến trúc và Quy hoạch 4. 0131367 Nguyễn Khánh Chi 67CNCS 3.92 Công nghệ thông tin 5. 0176666 Ngô Hương Trà 66VL1 3.86 Vật liệu XD 6. 0070668 Hà Minh Đức 68XE1 3.85 Xây dựng DD&CN 7. 0045168 Trần Đặng Khánh Ly 68LGT3 3.77 Công trình thuỷ 8. 0048267 Hoàng Năng Hải 67CLC2 3.74 ĐTKS Chất lượng cao 9. 0294466 Nguyễn Phương Thuý 66KT1 3.73 Kinh tế & Quản lý XD 10. 0247967 Nguyễn An Ninh 67HKEC 3.71 Kỹ thuật Môi trường 11. 0238466 Nguyễn Thành Đạt 66MEC1 3.71 Cơ khí 12. 0602969 Nguyễn Việt Hùng 69CB 3.63 XD CTB & DK 13. 0045069 Trương Lê Ngân Hà 69LGTDT 3.39 Cầu đường 179

180